BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP BÙI THỊ MỸ AN NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT TRONG
TIỂU THUYẾT TẤM VÁN PHÓNG DAO
CỦA MẠC CAN
Ngành đào tạo: Sư phạm Ngữ văn
Trình độ đào tạo: Đại học KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỒNG THÁP, NĂM 2014 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP
BÙI THỊ MỸ AN
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu
của riêng tôi. Các kết quả và số liệu trong khóa luận
này là trung thực và chưa được ai công bố dưới bất
kì hình thức nào. Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm
trước Nhà trường về sự cam đoan này.
Tác giả
Bùi Thị Mỹ An
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn
chân thành, sâu sắc nhất đến TS. Nguyễn Thị Kim Tiến - người
đã có những định hướng ban đầu, những lời nhận xét quý báu
và nhiệt tình chỉ dẫn trong suốt quá trình tôi thực hiện khóa
luận này .
Xin bày tỏ lòng biết ơn tới tất cả những thầy cô đã tận
tình giảng dạy, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian
1.1.1. Người kể chuyện 8
1.1.2. Điểm nhìn trần thuật 10
1.1.3. Nhịp điệu trần thuật 11
1.1.4. Giọng điệu trần thuật 12
1.1.5. Ngôn ngữ trần thuật 12
1.2. Nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới 13
1.3. Đóng góp của Mạc Can đối với tiểu thuyết đương đại 19
1.3.1. Bức tranh tự họa Mạc Can 19
1.3.2. Những đóng góp của Mạc Can đối với nền văn học đương đại 21
CHƯƠNG 2. NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG TẤM VÁN PHÓNG DAO
CỦA MẠC CAN 24
2.1. Hình tượng người kể chuyện 24
2.1.1. Người kể chuyện trực tiếp 24
2.1.1.1. Câu chuyện của gia đình 24
2.1.1.2. Ước mơ không nói thành lời 33
2.1.2. Người kể chuyện gián tiếp 35
2.1.2.1. Qua lời độc thoại của Bà Tư 35
2.1.2.2. Tác giả - người kể chuyện ẩn mình 37
2.2. Điểm nhìn trần thuật 40
2.2.1. Điểm nhìn trần thuật chủ quan 40
2.2.2. Điểm nhìn trần thuật khách quan 43
2.2.3. Sự dịch chuyển điểm nhìn 46
CHƯƠNG 3. PHƯƠNG THỨC TRẦN THUẬT TRONG TẤM VÁN PHÓNG
DAO CỦA MẠC CAN 48
3.1. Nhịp điệu trần thuật 48
3.1.1. Nhịp điệu trần thuật chậm rãi, khoan thai 48
3.1.2. Nhịp điệu trần thuật nhanh, gấp gáp 51
3.2. Giọng điệu 54
3.2.1. Giọng điệu dân dã mộc mạc 54
đâu đó hiện lên cuộc đời của chính tác giả. Chúng tôi rất thích những trang viết của
nhà văn Mạc Can. Bởi lẽ, qua tiểu thuyết đầu tay của ông, chúng tôi nhận thấy thứ
ngôn từ chân chất mộc mạc, bình dị dùng nhiều phương ngữ Nam Bộ. Với lối viết
giản dị, chân thật, nghệ thuật trần thuật tự nhiên, linh hoạt, tác phẩm đã thể hiện một
phong cách riêng, rất mới lạ, độc đáo và cũng rất Mạc Can. Câu chuyện được kể
không đơn điệu, không gây cảm giác nhàm chán nặng nề từ phía người đọc. Nó cứ
diễn ra tự nhiên như không hề có sự sắp đặt sẵn mà vẫn rất chân thật, dung dị và đạt
được hiệu quả cao nhờ sử dụng một lối nghệ thuật trần thuật hấp dẫn.
1.3. Nghiên cứu Nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết Tấm ván phóng
dao của Mạc Can giúp chúng tôi trân trọng và ngưỡng mộ tài năng, cũng như sức
sáng tạo của nhà văn phụ thuộc rất nhiều vào nghệ thuật kể chuyện của chính tác
giả. Trên cơ sở tiếp thu những thành tựu của những người đi trước cùng với sự nỗ
2
lực của bản thân, chúng tôi hy vọng rằng kết quả của đề tài này góp thêm một phần
nhỏ vào việc khẳng định vai trò, vị trí của nhà văn đối với sự vận động tư duy tiểu
thuyết cũng như những tìm tòi sáng tạo nghệ thuật trong nền văn học Việt Nam
đương đại nói chung và tiểu thuyết Nam Bộ nói riêng. Đồng thời giúp cho bản thân
người nghiên cứu có nhiều thuận lợi trong việc nghiên cứu, giảng dạy những hiện
tượng văn học, tác giả, tác phẩm văn chương của văn học Việt Nam đương đại ở
trường phổ thông được sâu sắc hơn.
2. Lịch sử vấn đề
Sáng tác đầu tay Tấm ván phóng dao của Mạc Can khi giới phê bình và đọc
giả tiếp nhận ít nhiều đã tạo ra hai luồng dư luận khen, chê. Song tất cả những
người yêu thích và quan tâm đến tiểu thuyết này đều nhận thấy khá nhiều nét mới,
tuy không lạ lẫm so với sáng tác của các nhà văn khác nhưng tác phẩm có những
nét khó trộn lẫn vào đâu được. Có thể nói, nét riêng làm cho văn Mạc Can có chỗ
đứng, tạo vị thế riêng trong tâm hồn người đọc là cái tài hòa quyện cái tình được
lắng đọng vào đấy.
Do xuất hiện trên văn đàn chưa lâu nên những công trình hay các bài viết
thuật từ nhân vật xưng tôi, chuyện không dựa vào cốt truyện rõ ràng… tác giả chọn
cách thức trần thuật theo kiểu hồi ức… Về mặt kiến trúc, tác giả chọn cách thức tiến
hành phân mảnh. Các mảnh sự kiện, mảnh suy tư, mảnh tâm tình, mảnh triết lý,
mảnh hồi nhớ được sắp đặt cạnh nhau và luân phiên theo cách không đều nhau. Sự
chuyển đổi linh hoạt trong cách thức trần thuật như đã nói ở phần trên góp phần
khắc họa nội tâm nhân vật, gợi lên mặt giấy vỉa tâm hồn sâu khuất bí ẩn. Chất thơ
của tiểu thuyết bộc lộ qua những tưởng tượng, những mơ mộng, xúc cảm của nhân
vật trước cảnh trời mây sông nước những thân phận nguời muôn mặt với thổ âm từ
vị riêng, những tập tục sinh hoạt mang đầy phong vị phương Nam, hồn riêng Nam
Bộ, âm vọng văn hóa truyền thống, bàng bạc, quyến luyến tấm lòng người đọc”[10].
Từ các bài viết trên, các nhà nghiên cứu về truyện Mạc Can đều có chung
một nhận định: Tiểu thuyết Tấm ván phóng dao của Mạc Can có nhiều yếu tố mang
tính tự truyện, mang ý nghĩa đời tư, có tư tưởng nhân văn sâu sắc. Có lẽ vì vậy mà
Mạc Can xuất hiện chưa lâu trên văn đàn văn học nhưng khi bước chân vào làng
văn thì ngay lập tức có tiếng vang. Văn ông đủ sức lôi cuốn các nhà lý luận, phê
bình văn học bởi phong cách riêng.
4
Nhận xét về Tấm ván phóng dao, Hồ Anh Thái nhấn mạnh: “Với tiểu
thuyết Tấm ván phóng dao, Mạc Can đã sử dụng hiệu quả thủ pháp gián cách. Mọi
sự kiện biến động của cuộc sống bên ngoài được tái hiện lập tức được đẩy ra xa đưa
qua màng lọc của chàng thiếu niên, khắc in lại đó những đồ thị run rẩy. Chuyện thế
sự khi ấy chỉ còn là cái cớ để cho những rung cảm của một con người có dịp trào ra,
ngân lên. Sự kiện ngay phút chốc được xóa mờ đi, nhường chỗ cho những chiêm
nghiệm, những rung động, những cung bậc tình cảm tinh tế nhiều vẻ. Nhiều trang
viết đạt đến độ hiếm hoi về nỗi buồn thấm thía của kiếp làm người”[31].
Cho đến nay, chưa có một công trình hay bài viết nào diễn đạt bằng tên gọi
trực tiếp về nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết Tấm ván phóng dao của nhà văn
Mạc Can. Nhưng căn cứ vào nội dung của các bài viết thì các tác giả đã có những
nhận xét, đánh giá từng khía cạnh liên quan đến nghệ thuật trần thuật như giọng
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi tập trung khảo sát cuốn tiểu thuyết Tấm ván phóng dao (2004)
của nhà văn Mạc Can, do Nxb Hội nhà văn ấn hành.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong khóa luận này, chúng tôi sử dụng chủ yếu các phương pháp sau:
5.1. Phương pháp thống kê
Để có thể xác lập được những nhận định mang tính khách quan, khoa học, có
tính thuyết phục, chúng tôi chú ý tới việc thống kê để đưa ra những luận điểm, luận
cứ đánh giá khi cần thiết.
5.2. Phương pháp phân tích - tổng hợp
Để làm sáng tỏ những khía cạnh của vấn đề chúng tôi vận dụng phương pháp
phân tích để xem xét từng khía cạnh, sau đó tổng hợp lại để đi đến những nhận
định, kết luận.
5.3. Phương pháp so sánh
Phương pháp này nhằm đối chiếu các bài báo, bài viết, những bài nghiên cứu
về tác giả Mạc Can và những vấn đề xoay quanh tiểu thuyết Tấm ván phóng dao.
6
5.4. Phương pháp hệ thống
Phương pháp này giúp người viết nắm được cấu trúc nội tại và xác lập được
những nét đặc sắc xoay quanh vấn đề nghệ thuật trần thuật của tiểu thuyết Tấm ván
phóng dao của Mạc Can.
5.5. Phương pháp tiểu sử
Phương pháp này kết hợp tới việc tiếp cận tự sự học, giúp người viết có cái
nhìn tổng quát hơn về tác giả. Qua đó đối sánh cuộc đời của chính nhà văn với cuộc
đời nhân vật được trần thuật trong tác phẩm.
6. Đóng góp của đề tài
Khóa luận tập trung đi sâu tìm hiểu nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết
Tấm ván phóng dao của Mạc Can.
Kết quả của khóa luận có thể là tài liệu tham khảo hữu ích cho học phần lý
quan, ở trường hợp này trần thuật sẽ được tạo dựng dựa vào dữ kiện một sự cảm
nhận của một ai đó”[1, tr.337-338].
Như vậy, bản thân trần thuật là việc diễn đạt ngôn ngữ, biểu hiện của cảm
xúc không chỉ theo người trần thuật mà qua những lời kể, những điều bộc bạch của
nhân vật trong tác phẩm cũng là những cái nhìn riêng, những khía cạnh khác nhau
của người trần thuật về cuộc sống, về những quan điểm của mình trong tình cảm
cũng như cuộc sống đời thường.
Trần thuật là một khía cạnh thuộc thi pháp thể loại tiểu thuyết vì vậy nghệ
thuật trong trần thuật được thể hiện trong những phương diện người trần thuật, điểm
nhìn trần thuật, nhịp điệu trần thuật, giọng điệu trần thuật và ngôn ngữ trần thuật.
Thông qua những khía cạnh này, trần thuật cùng với việc sử dụng ngôn ngữ của tác
giả khiến cho tác phẩm thêm phần mới mẻ hơn, mang hơi hướng của tác giả nhưng
lại gần gũi và thể hiện được tâm trạng, tính cách của nhân vật.
81.1.1. Người kể chuyện
Theo Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa, thì “người trần thuật là một nhân
vật hư cấu hoặc có thật, mà văn bản tự sự là do hành vi ngôn ngữ của anh ta tạo
thành… nó bị trừu tượng hóa đi, trở thành một nhân vật hoặc ẩn hoặc hiện trong tác
phẩm tự sự”[13, tr.211-212]. Như vậy, người kể chuyện là một hình tượng do nhà
văn sáng tạo ra trong tác phẩm của mình và văn bản tự sự chính là sản phẩm ngôn
từ do hoạt động ngôn ngữ nhân vật này xây dựng nên.
Tác giả Lại Nguyên Ân lại đưa ra một định nghĩa khá sâu sắc về người kể
chuyện trong trần thuật tự sự: “Trần thuật tự sự được dẫn dắt bởi một ngôi được gọi
là người trần thuật - một loại trung giới giữa cái được miêu tả và thính giả (độc giả),
loại người chứng kiến và giải thích về những gì đã xảy ra”[1, tr.360]. Trong định
nghĩa này, nhà lý luận một lần nữa khẳng định vai trò cầu nối và dẫn dắt câu chuyện
của người kể chuyện trong tác phẩm tự sự, đồng thời nhấn mạnh vai trò chứng kiến
và giải thích của hình tượng này. Đây là những dấu hiệu cơ bản nhất để nhận diện
chỉ như người ghi chép hay nghe trộm người kể. Người kể chuyện là kẻ được sáng
tạo ra để mang lời kể. Và sản phẩm của hành vi trần thuật đó là văn bản tự sự. Thêm
vào đó, thái độ của người kể chuyện đối với thế giới câu chuyện được kể lại có thể
phần nào trùng với quan điểm của tác giả, nhưng không bao giờ trùng khít hoàn
toàn.
Tóm lại, người kể chuyện có vai trò rất lớn trong việc tổ chức kết cấu tác
phẩm. Là người đại diện phát ngôn, thể hiện quan điểm, tư tưởng của tác giả trong
tác phẩm, người kể chuyện đồng thời đóng vai trò trung gian giữa người đọc với thế
giới nghệ thuật hình tượng và tác giả. Người kể chuyện cung cấp cho người đọc
những dấu hiệu, chỉ dẫn để thâm nhập sâu vào trong đời sống của các nhân vật.
Những dấu hiệu ấy có khi rõ nét, chi tiết, song cũng có lúc rất cô đọng, ẩn chứa
nhiều tầng bậc ý nghĩa. Các tầng bậc kể chuyện càng đa dạng, phức tạp càng kích
thích được khả năng đồng sáng tạo, trí tưởng tượng phong phú ở độc giả. Người kể
chuyện còn hướng người đọc cùng suy ngẫm, chia sẻ và đồng cảm với những chiêm
nghiệm, những suy nghĩ của mình về cuộc đời. Những chiêm nghiệm, suy tư ấy có
căn cứ từ trong văn bản tự sự, trong thế giới hình tượng nhà văn xây dựng trong
sáng tác của mình. Bằng cách này, người kể chuyện cũng kéo người đọc đến gần
hơn với những quan niệm của tác giả về hiện thực, về nhân sinh.
10
1.1.2. Điểm nhìn trần thuật
Theo Trần Đình Sử, xác định điểm nhìn trần thuật là “phương thức phát
ngôn, trình bày miêu tả phù hợp với cách nhìn, cách cảm thụ thế giới của tác
giả”[28, tr.74]. Người cầm bút không thể miêu tả, trần thuật các sự kiện, hiện tượng
về cuộc sống xung quanh nếu không tìm hiểu kỹ lưỡng, không xác định cho bản
thân một điểm nhìn đối với chúng. Đối với sáng tạo nghệ thuật, điểm nhìn trần thuật
là một trong những phương diện, yếu tố quan trọng hàng đầu và có mối quan hệ gắn
bó, chặt chẽ, mật thiết với tình cảm, thái độ của nhà văn, giọng điệu của tác phẩm,
cấu trúc nghệ thuật. Cho nên, chúng ta cần chú ý đến điểm nhìn, vị trí mà tác giả
đứng để lựa chọn quan sát, chiêm ngưỡng và thể hiện khi khám phá, nghiên cứu cấu
tài năng quan điểm sáng tác mà mỗi tác giả có cách lựa chọn và tổ chức điểm nhìn
trần thuật không giống nhau.
1.1.3. Nhịp điệu trần thuật
Theo Từ điển thuật ngữ văn học nhịp điệu là “sự lặp đi lặp lại có tính chất
chu kì, cách quãng hoặc luân phiên của các yếu tố có quan hệ tương đồng trong thời
gian hay quá trình nhằm chia tách và kết hợp các ấn tượng thẩm mĩ… Trong văn
xuôi, nhịp điệu của tổ chức lời văn được hình thành trên cơ sở sự phân tách văn bản
thành chương, hồi, đoạn. Câu văn dài, ngắn khúc khuỷu được lặp lại cũng tạo nên
nhịp điệu cảm nhận đời sống”[13, tr.165].
Còn theo Nguyễn Thái Hòa “trong văn xuôi thì nhịp điệu còn là yếu tố thời
gian, nhịp điệu kể, nhịp điệu tả Nhịp điệu ấy cũng có thể nhanh hay chậm, cô đúc
hay giàn trải”[15, tr.164].
Như vậy nhịp điệu trần thuật chính là sự luân phiên giữa mạch kể, mạch tả
hay sự lặp lại các sự việc, phát triển nhanh hay chậm trong tác phẩm tự sự của mỗi
nhà văn. Các yếu tố: sự kiện, biến cố, tình tiết được đan cài do các thủ pháp của tác
giả đã tạo nên nhịp điệu trần thuật trong tác phẩm tự sự. Sự phối hợp các thành phần
trần thuật, sự luân phiên, phối xen các sự kiện và các đoạn tả cảnh, tả tình, hồi
tưởng sẽ tạo nên nhịp điệu trần thuật. Dựa vào quan điểm sáng tác và đối tượng trần
thuật của mỗi nhà văn mà có những nhịp điệu khác nhau tạo nên sự độc đáo, không
trùng lặp trong kho tàng văn học. Qua nhịp điệu trần thuật, độc giả biết được cách
cảm nhận thẩm mĩ của các nhà văn về thế giới hơn nữa nhịp điệu trần thuật thể hiện
cảm giác vận động và phát triển của cuộc sống được phản ánh chống lại sự đơn
điệu, tẻ nhạt của tác phẩm tự sự.
12
Tóm lại, nhịp điệu trần thuật là một phương diện cơ bản, quan trọng để cấu
tạo hình thức nghệ thuật tác phẩm văn học, chính là sự phát triển nhanh hay chậm
của mạch kể trong tác phẩm. Nhịp điệu trần thuật tạo sự lôi cuốn, hấp dẫn người
đọc, góp phần giúp người nghiên cứu khám phá, phát hiện phong cách nhà văn.
Việc tìm hiểu nhịp điệu trần thuật trong tiểu thuyết của một tác giả tức giúp chúng
tác phẩm có thể chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa, nhiều cách giải thích. Nhưng mỗi từ
thì lại phải mang tính chính xác và cá thể hoá. Ngôn ngữ trần thuật còn là ngôn ngữ
đa thanh vì đặc trưng của ngôn ngữ văn xuôi là sự tác động qua lại rất phức tạp giữa
tiếng nói tác giả, người kể chuyện và nhân vật, giữa ngôn ngữ miêu tả và ngôn ngữ
được miêu tả.
Ngôn ngữ đa thanh trong trần thuật nhấn mạnh vào ngôn ngữ của người
khác, hướng về một tiếng nói khác; chẳng hạn tiếng nói tác giả hướng về tiếng nói
của nhân vật, hoặc tiếng nói nhân vật trong đó có xen lẫn giọng tác giả, hoặc là
tiếng nói của nhân vật này xen lẫn giọng của nhân vật khác.
Ngoài ra, do đổi mới tư duy nghệ thuật, mở rộng phạm trù thẩm mỹ và cách
tân về thi pháp nên ngôn ngữ trần thuật còn có các tính chất như: tính chất hiện đại
thể hiện ở chỗ ngôn ngữ trần thuật không còn là tiếng nói quyền uy mà trở nên gần
với ngôn ngữ đời sống hơn bao giờ hết; tính chất văn hoá vùng miền trong ngôn
ngữ trần thuật thể hiện ở chất giọng nhà văn, người trần thuật không những kể
chuyện mà còn chuyển tải những giá trị văn hoá nằm sâu dưới lớp ngôn ngữ, làm
cho nội dung trần thuật phong phú, đặc trưng.
Nhìn chung, nghệ thuật trần thuật được hiểu một cách đơn giản chính là lời
kể của người trần thuật mà cụ thể hơn chính là tác giả. Việc kể lại có mang cảm
xúc, tâm trạng của từng nhân vật nhưng cũng ẩn sâu bên trong đó là những cái nhìn
của tác giả, những điểm nhìn khác nhau từ nhiều phía để đi đến một việc làm kể lại
vừa tự nhiên vừa gần gũi. Trong trần thuật, cần có sự đan xen, hòa quyện giữa các
yếu tố người kể, điểm nhìn, giọng điệu, nhịp điệu, ngôn ngữ để tạo thành một chỉnh
thể nghệ thuật.
1.2. Nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới
Sau những năm 1986, nền văn học Việt Nam có những chuyển biến đáng ghi
nhận ở hầu hết các thể loại, trong đó nổi bật nhất là tiểu thuyết. Trong sự vận động
chung của nền văn học, tiểu thuyết đã và đang nỗ lực đổi mới không ngừng nhằm
14
đáp ứng yêu cầu của thời đại, của đời sống văn học và của đông đảo độc giả đương
15
xem là “thời của tiểu thuyết”, thời của dân chủ hóa trong sáng tạo và tiếp nhận.
Bằng chứng là hàng loạt những tác giả, tác phẩm Hồ Quý Ly, Mẫu thượng ngàn
(Nguyễn Xuân Khánh), Thượng đế thì cười (Nguyễn Khải), Người sông Mê (Châu
Diên) xuất hiện và được đánh giá trên văn đàn. “Nhà văn trẻ” Mạc Can vẫn không
thôi làm bạn đọc ngạc nhiên và cảm động với tiểu thuyết đầu tay Tấm ván phóng
dao. Qua nhiều năm tích lũy kinh nghiệm và nếm trải cuộc đời, Bùi Ngọc Tấn một
lần nữa làm nóng dư luận với Chuyện kể năm 2000, Ma Văn Kháng chứng tỏ bút
lực của mình dồi dào hơn trong Ngược dòng nước lũ. Đồng hành cùng với thế hệ
đàn anh đi trước là một đội ngũ hùng hậu mang trong người đầy nhiệt huyết, luôn ý
thức về sự đổi mới trong sáng tạo, sẵn sàng thể nghiệm, cách tân, chấp nhận mạo
hiểm. Người đọc đã quen thuộc với những tiểu thuyết: Thiên sứ (Phạm Thị Hoài),
Thoạt kỳ thủy, Ngồi (Nguyễn Bình Phương), Trong sương hồng hiện ra, Cõi
người rung chuông tận thế, Mười lẻ một đêm (Hồ Anh Thái), Đi tìm nhân vật,
Thiên thần sám hối (Tạ Duy Anh), Giàn thiêu (Võ Thị Hảo),… Thêm vào đó là
những cây bút hải ngoại được bạn đọc trong nước đón nhận nồng nhiệt: Sông Côn
mùa lũ (Nguyễn Mộng Giác), Chinatown, Paris 11 tháng 8 (Thuận). Nhà văn
hướng ngòi bút của mình một cách khái quát và cận cảnh hơn hiện thực đời sống
hàng ngày, cái đời thường cuộc sống cá nhân, mạnh dạn nhìn thẳng vào những bi
kịch nhân sinh, mổ xẻ, phơi bày bằng cái nhìn trung thực, táo bạo. Sức sáng tạo của
các nhà văn trong tác phẩm góp phần làm cho diện mạo tiểu thuyết phong phú và đa
dạng hơn, đồng thời tiếng nói về cuộc đời và con người trong tiểu thuyết cũng giàu
sắc điệu và đa nghĩa hơn. Nhìn ở góc độ nghệ thuật trần thuật, tiểu thuyết cách tân ở
một số phương diện: Cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ. Ở phương diện của đề tài,
chúng tôi sẽ chú trọng đến vấn đề sự “chuyển động” của người kể chuyện cũng như
vấn đề lời kể trong tiểu thuyết sau 1986.
Trong giai đoạn kháng chiến 1945 - 1975, tiểu thuyết đạt được vụ mùa bội
thu, gặt được nhiều thành quả đáng kể, đặc biệt trong những năm kháng chiến
chống Mỹ. Văn học mang đậm khuynh hướng sử thi nên cốt truyện dựa trên hình
nhân vật được triển khai theo mạch vận động của cảm xúc, suy tư (Tấm ván phóng
dao - Mạc Can). Tiểu thuyết vừa là tiếng nói của ý thức, vừa là tiếng nói của tiềm
thức, của giấc mơ, thể hiện cái hiện tại đang vận động, chuyển biến, không khép
kín. Bên cạnh đó, xu hướng lắp ghép, tạo dựng các mảnh cốt truyện, các mảnh tâm
trạng không theo trình tự thời gian mà ngổn ngang, đảo ngược theo ý đồ của chính
17
tác giả, tạo ra truyện lồng trong truyện. Thông qua đó, các điểm nhìn được di
chuyển, tư duy nghệ thuật chặt chẽ hơn, thành công qua Nỗi buồn chiến tranh (Bảo
Ninh), Cõi người rung chuông tận thế (Hồ Anh Thái), Đi tìm nhân vật (Tạ Duy
Anh)…
Như vậy, cốt truyện trong tiểu thuyết có sự vận động, từ lối trần thuật có cốt
truyện truyền thống thành lối trần thuật dường như không có cốt truyện. Tuy nhiên
phải nhìn nhận cốt truyện không hề biến mất mà co giãn theo cấu trúc của từng tác
phẩm cụ thể. Mỗi chủ thể nhà văn có thể sáng tạo ra nó bằng nhiều hình thức, kiểu
dạng mà mục đích cuối cùng là thể hiện ý đồ nghệ thuật một cách hiệu quả nhất, sâu
sắc nhất.
Song hành với quá trình vận động đổi mới trong nghệ thuật trần thuật, vấn đề
nhân vật luôn là nỗi trăn trở của những người cầm bút. Nhân vật văn học chính là sự
thể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con người. Tiểu thuyết ngoài khả
năng tái hiện bức tranh toàn cảnh của đời sống xã hội còn có khả năng đi sâu khám
phá số phận con người. Ở giai đoạn 1945 - 1975, do sự chi phối của xã hội, của
chiến tranh, tiểu thuyết tập trung thể hiện con người kháng chiến, con người sống
với cộng đồng, xả thân vì nghĩa lớn, tìm thấy ý nghĩa cuộc đời khi hòa mình vào tập
thể, không có dịp đối diện với bản thân, sống với chính mình.
Đến giai đoạn đổi mới, vấn đề con người được các nhà văn đặt ra để làm cảm
hứng sáng tác mạnh mẽ. Nhân vật trong tiểu thuyết là những con người với trăm
ngàn mảnh đời khác nhau, mang đầy những vết thương trên thân thể và tâm hồn
(Tấm ván phóng dao - Mạc Can, Dòng sông mía - Đào Thắng). Không những đi
sâu vào thân phận con người mà còn đề cập đến khát vọng sống, về hạnh phúc cá
vật tạo nên giá trị nghệ thuật của tác phẩm tự sự thông qua đối thoại. Mỗi nhân vật
được nhà văn quan niệm một ý thức, một tiếng nói với vai trò chủ thể độc lập. Nhà
văn và nhân vật có sự hòa nhập, tham gia vào cuộc đối thoại với ý thức độc lập qua
hệ thống hình tượng các nhân vật. Nguyễn Khải được xem là nhà văn thành công
trong việc sử dụng ngôn ngữ đối thoại, ông sử dụng một cách thuần thục nghệ thuật
trần thuật thông qua đối thoại. Mỗi lời phát ngôn của nhân vật là một đặc điểm tính
cách cụ thể, va đập, cọ xát đầy cá tính như trong Gặp gỡ cuối năm, Thời gian của
người…
Ý thức đối thoại của tiểu thuyết tiếp tục được triển khai và phát huy hơn
trong quá trình đổi mới. Dấu ấn thời đại đã ảnh hưởng đến cách nói năng, đối đáp,
hình thành nên những lớp từ mới tạo nên những sắc thái biểu cảm khác nhau. Có thể