ĐỀ TÀI: TÁI CƠ CẤU DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
GIAI ĐOẠN TỪ 2011 ĐẾN NAY.
MỤC LỤC
Trang bìa
Lời cam đoam
Mục lục
Dang mục các chữ cái viết tắt
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TÁI CƠ CẤU DOANH
NGHIỆP NHÀ NƯỚC
1.1. Khái niệm
1.1.1. Tái cơ cấu là gì?
1.1.2. Doanh nghiệp nhà nước là gì?
1.1.3. Phân loại doanh nghiệp nhà nước.
1.2. Tại sao cần phải tái cơ cấu DNNN? Mục đích của việc tái cơ cấu DNNN là gì?
1.3. Nội dung của quá trình tái cơ cấu DNNN.
1.3.1. Quan điểm và mục tiêu cần đạt được trong tái cơ cấu DNNN
1.3.2. Những vấn đề cần làm trong tái cơ cấu DNNN.
1.4. Kinh nghiệm tái cơ cấu DNNN của Trung Quốc.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TÁI CƠ CẤU DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC GIAI
ĐOẠN 2011 ĐẾN NAY.
2.1. Thực trạng tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước và kết quả đạt được
Mở đầu
2.1.1. Tình hình tài chính của các doanh nghiệp nhà nước.
2.1.2. Quá trình tái cơ cấu DNNN và kết quả đạt được.
2.2. Những hạn chế còn tồn tại của quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước
trong thời gian qua.
2.3. Nguyên nhân.
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH TÁI CƠ CẤU
DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG THỜI GAIN TỚI.
3.1. Các giải pháp từ phía các cơ quan quản lý Nhà nước.
doanh còn thấp, đầu tư chưa hiệu quả, năng lực cạnh tranh yếu, cơ cấu ngành nghề chưa
hợp lý, mô hình tổ chức chưa phù hợp và quản trị doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, yếu
kém. Đó là những bài toán mà đòi hỏi chúng ta cần phải giải quyết ngay, không thể trì
hoãn.
Mặt khác, trước giai đoạn chúng ta đã bắt đầu đi đến quãng cuối của Kế hoạch 5
năm 2011-2015 Về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, cùng với đó là xu thế mở cửa, hội
nhập kinh tế quốc tế, tiếp tục đi theo Đường lối mà Đảng ta đã đề ra về cơ chế quản lý
kinh tế từ thập niên 1990, đó là: Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa. Quá trình tái cơ cấu DNNN càng trở nên cần thiết hơn nữa trong việc nhằm thúc
đẩy sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế nước nhà.
Vậy tái cơ cấu như thế nào, DNNN nên giữ cái gì và nên bán cái gì, kết quả mà
chúng ta đã đạt được trong thời gian qua ra sao? Còn những hạn chế gì và cần phải tiếp
tục phát huy như thế nào? Đó là nội dung mà đề tài sẽ tập trung nghiên cứu, phân tích; từ
đó giúp hình thành kiến nghị, giải pháp nhằm thúc đẩy quả trình tái cơ cấu DNNN trong
thời gian tới.
1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Trên thực tế, quá trình tái cấu trúc DNNN ở Việt Nam đã được khởi phát với tên
gọi đổi mới và sắp xếp lại các DNNN từ đầu thập niên 1990, với chủ trương buộc giải
thể, cho thuê, sáp nhập một số DNNN hoạt động kém hiệu quả; tiến hành cổ phần hóa
một bộ phận lực lượng DNNN…
Trong suốt quá trình đó đến nay, đã có rất nhiều những chủ trương, chính sách,
quyết định của Nhà nước được ban hành nhằm phục vụ quá trình tái cơ cấu DNNN. Đồng
thời cũng có rất nhiều những ý kiến, bài báo, tạp chí và một số nghiên cứu về vấn đề này.
Theo viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), Trung tâm thông tin tư
liệu có nghiên cứu về “tái cơ cấu và cải cách doanh nghiệp nhà nước – Restructure of
state-owned enterprices.” Bài nghiên cứu đã nêu ra được những điểm sau:
Tình hình hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam, một số kinh nghiệm của các
nước và cách tái cơ cấu, cải cách lại các DNNN Việt Nam. Theo như bài nghiên cứu đã
chỉ ra, các thành quả mà việc tái cơ cấu mang lại như giảm được đáng kể các DNNN,
tổng số vốn tăng, quy mô cũng được cải thiện kèm theo lợi nhuận tăng đáng kể. Nhưng
nói riêng
Bên cạnh hai bài nghiên cứu trên còn một số tài liệu nói về tái cơ cấu DNNN như
“Đề án Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là tập đoàn kinh tế, tổng công ty
nhà nước giai đoạn 2011 – 2015” được Chính phủ phê duyệt ngày 17/7/2012; Ngô
Quang Minh “Đổi mới doanh nghiệp nhà nước ở nước ta hiện nay, Tạp chí Cộng sản”,
số 839, 2012; Phạm Việt Dũng “ Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, Đổi mới mô hình
tăng trưởng – Cơ cấu lại nền kinh tế”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2012; v.v…
Qua tìm hiểu, nhóm thấy rằng, mỗi nghiên cứu đều có những cách quan sát, nhìn
nhận, đánh giá riêng trong việc tìm hiểu quá trình tái cơ cấu các DNNN, những điểm mới
trong việc hình thành kiến nghị, giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình tái cơ cấu DNNN
trong giai đoạn vừa qua cũng như cho thời gian tới.
Nhằm giúp bạn đọc có được góc nhìn tổng thể và đầy đủ hơn nữa về quá trình tái
cơ cấu DNNN, đồng thời cung cấp những thông tin mới nhất về kế hoạch tái cơ cấu
DNNN của Việt Nam trong thời gian tới, đặc biêt giai đoạn 2014-2015. Bên cạnh đó,
giúp định hình khung giải pháp, kiến nghị nhằm thúc đẩy quá trình tái cơ cấu DNNN tới
bạn đọc.
Bằng việc đọc, tìm hiều các nghiên cứu, báo cáo, tài liệu về kết quả tái cơ cấu
DNNN trong giai đoạn vừa qua, cùng với việc thu thập, tổng hợp thông tin từ các kênh
tài liệu khác nhau, nhóm quyết định thực hiện bài nghiên cứu này.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Phân tích tình hình tái cơ cấu DNNN giai đoạn 2011 đến nay, đưa ra được những
nhận định, đánh giá về quá trình tái cơ cấu DNNN, từ đó hình thành kiến nghị, giải pháp
nhằm thúc đẩy quá trình tái cơ cấu, hoàn thiện mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội mà
Đảng và nhà nước ta đã đề ra.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Thực trạng tái cơ cấu của các doanh nghiệp nhà nước.
- Phạm vi: từ năm 2011đến nay.
- Không gian: Tại Việt Nam
4. Phương pháp nghiên cứu
- Trong bài nghiên cứu nhóm chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu thu thập, tổng
1.1. Một số khái niệm.
1.1.1. Tái cơ cấu là gì?
Tái cơ cấu (Reengineering) là việc xem xét và cấu trúc lại một phần, một số phần
hay toàn bộ một tổ chức, một đơn vị nào đó, mà thường là một công ty. Ngoài việc tổ
chức cho một công ty về các mảng chức năng (như là sản xuất, kế toán, tiếp thị, v.v ) và
xem xét các nhiệm vụ mà mỗi chức năng thực hiện, theo lý thuyết tái cơ cấu, chúng ta
còn phải chú ý tới các quy trình hoàn thiện từ khâu tìm kiếm các nguyên liệu, cho tới các
khâu sản xuất, tiếp thị và phân phối. Công ty cần được tái cơ cấu qua một loạt các quy
trình
1.1.2. Doanh nghiệp nhà nước là gì?
Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) trước hết phải là doanh nghiệp, có nghĩa là một
tổ chức được thành lập với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận. Điều này đã thể hiện rất rõ trong
khoản 1 và khoản 2 của Điều 4 trong dự thảo Luật DN (sửa đổi).
Tuy nhiên, DNNN là loại hình DN đặc thù với hai đặc trưng cơ bản có liên quan
với nhau, đó là: Vốn DN thuộc sở hữu của Nhà nước (sở hữu toàn dân) vì vậy ngoài việc
phải tạo ra lợi nhuận từ các khoản đầu tư của nhà nước và DNNN phải thực hiện những
sứ mệnh riêng phục vụ các lợi ích xã hội khác với DN thuộc các thành phần kinh tế khác.
Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ
hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công
ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn.
1.1.3. Phân loại DNNN
- Công ty nhà nước:
+ Công ty nhà nước độc lập: Công ty nhà nước không thuộc cơ cấu tổ chức của Tổng
công ty nhà nước.
+ Tổng công ty nhà nước.
- Công ty trách nhiệm hữu hạn (công ty TNHH):
+ Công ty TNHH nhà nước một thành viên: Công ty trách nhiệm hữu hạn do Nhà
nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, được tổ chức quản lý và đăng ký hoạt động theo quy
định của Luật doanh nghiệp.
+ Công ty TNHH nhà nươc có hai thành viên trở lên: công ty TNHH trong đó tất cả
1.3. Nội dung của quá trình tái cơ cấu DNNN.
1.3.1. Quan điểm và mục tiêu cần đạt được trong tái cơ cấu DNNN.
- Đổi mới tư duy kinh tế và chính trị về doanh nghiệp Nhà nước để tạo ra sự đồng thuận xã
hội về vai trò của doanh nghiệp Nhà nước, những ngành và lĩnh vực cần phải có Doanh
nghiệp Nhà nước. Trên cơ sở này rà soát để điều chỉnh, thu hẹp phạm vi ngành nghề và
lĩnh vực cần phát triển doanh nghiệp Nhà nước và tiếp tục giảm mạnh số lượng doanh
nghiệp Nhà nước. Về cơ bản doanh nghiệp Nhà nước nên được tập trung vào lĩnh vực kết
cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, ngân hàng, bảo hiểm, dịch vụ công, quốc phòng an ninh.
- Xác định rõ vai trò chủ sở hữu Nhà nước và thể chế hóa rõ ràng, rành mạch về trách
nhiệm của các tổ chức và cá nhân được ủy quyền thực hiện nhiệm vụ đại diện chủ sở hữu
Nhà nước tại các doanh nghiệp Nhà nước và tại các doanh nghiệp có vốn nhà nước, nhất
là tại các tập đoàn kinh tế và tổng công ty Nhà nước.
- Tái cấu trúc doanh nghiệp Nhà nước để khối doanh nghiệp này mạnh lên, thực sự trở
thành nòng cốt của kinh tế nhà nước, góp phần thực hiện thành công vai trò chủ đạo nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Đổi mới luật pháp, cơ chế và chính sách buộc các doanh nghiệp Nhà nước phải hoạt động
theo nguyên tắc thị trường và chịu sự tác động đẩy đủ của kinh tế thị trường. Kiên quyết
xóa bỏ các hình thức ưu đãi cho doanh nghiệp Nhà nước, nhất là tập đoàn và tổng công ty
Nhà nước.
1.1.3. Những vấn đề cần làm trong tái cơ cấu DNNN.
- Xác định lại vai trò, chức năng và thu hẹp phạm vi kinh doanh của DNNN.
- Thực hiện cổ phần hóa DNNN, đẩy mạnh thoái vốn đầu tư ngoài ngành.
- Tái cơ cấu mô hình tổ chức, quản lý; thiết lập, hoàn thiện thể chế, cơ chế chính sách.
1.2. Kinh nghiệm tái cơ cấu DNNN của Trung Quốc.
Trong quá trình cải cách, mở cửa nền kinh tế, cải cách doanh nghiệp nhà nước ở
Trung Quốc được coi là một khâu trọng tâm của cải cách thể chế nền kinh tế. Sau gần 3
thập kỉ tiến hành cải cách DNNN, Trung Quốc đã đạt được những thành tựu đáng khích
lệ. Thực lực tổng thể của nền kinh tế nhà nước tăng cường mạnh mẽ, giữ đuợc tốc độ
phát triển tương đối nhanh, phát huy tính chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân.
Quá trình cải cách doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc đạt được rất nhiều thành
nên kết cấu đa dạng về quyền tài sản trong nội bộ doanh nghiệp, tối ưu hóa kết cấu quản
trị DN.
+ Xây dựng chế độ DN hiện đại
+ Xây dựng tập đoàn kinh tế: Từ năm 1995 đến nay, trung Quốc hết sức chú ý đến áp lực
cạnh tranh quốc tế do mở cửa đem lại và năng lực thích ứng của nền kinh tế nói chung và
các DNNN nói riêng với hội nhập kinh tế quốc tế trong phạm vi ngày càng sâu rộng hơn.
+ Thực hiện “nắm to, bỏ nhỏ” trong cải cách doanh nghiệp nhà nước: Nhà nước chỉ tập
trung nắm giữ khoảng 1000 doanh nghiệp lớn, số còn lại sẽ được cổ phần hóa, cho thuê
và bán.
CHƯƠNG II: TÁI CƠ CẤU DOANH NGHIỆP NHÀ
NƯỚC TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011 ĐẾN NAY.
2.1. Thực trạng tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước và kết quả đạt được.
2.1.1 Tình hình tài chính của các doanh nghiệp nhà nước.
Trên thực tế quá trình tái cơ cấu DNNN ở Việt Nam đã được khởi phát với tên gọi
đổi mới và sắp xếp lại các DNNN từ đầu thập niên 1990 với chủ tương buộc giải thể, cho
thuê, sáp nhập một số DNNN hoạt động kém hiệu quả, tiến hành cổ phần hóa một bộ
phận lực lượng DNNN… Tuy nhiên quá trình đó đã bắt đầu diễn ra kém hiệu quả trong
giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2013 vừa qua. Trong khi đó, tình hình hoạt động của các
DNNN vẫn ở trong tình trạng đáng báo động. Cụ thể như sau:
- Cả nước hiện có hơn 1200 DNNN và công ty TNHH một thành viên. 12% trong số đó
thường xuyên bị lỗ.
- Mức lỗ bình quân của một DNNN cao gấp 12 lần so với DN ngoài nhà nước.
(Nguồn: Số liệu thống kê mới nhất của Bộ Kế hoạch và đầu tư kết hợp cùng Ban chỉ đạo
đổi mới DN và Đảng ủy khối DN Trung ương)
- Số nợ của các DNNN chiếm 54,2% GDP (không kể 9 Tập Đoàn, TCT nhà nước chưa có
số liệu)
- 21/31 Tập đoàn, TCT đầu tư ra ngoài ngành, trong đó 6 DN đầu tư hơn 1000 tỷ đồng,
nhiều nhất là Tập đoàn Dầu khí Petro Việt Nam 6.690 tỷ đồng. Tập đoàn Công nghiệp
Cao su đầu tư ra ngoài ngành là 3.700 tỷ đồng, chiếm 19.8% vốn điều lệ.
- Hiện nay 70% nợ xấu của ngân hàng nhà nước là do DNNN
Các nội dung và kết quả đạt được trong quá trình thực hiện tái cơ cấu DNNN giai
đoạn 2011 đến nay:
• Xác định lại vai trò, chức năng, đồng thời thu hẹp phạm vi kinh doanh của khu
vực DNNN.
- Phân tách giữa chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước và chức năng quản lý nhà
nước tại các DNNN.
+ Mặc dù đã có những cải tiến hoặc điều chỉnh nhưng tình trạng phổ biến và kéo
dài trong những năm qua là có quá nhiều các cơ quan quản lý nhà nước đồng thời các chủ
thể dại diện chủ sở hữu DNNN và vốn nhà nước tại các DN.
Nhận thức được hạn chế và trở ngại của vấn đề này, một số nghị quyết của Đảng
đã đưa ra chủ trương như: “Thực hiện tách bạch vai trò của Nhà nước với tư cách là bộ
máy công quyền quản lý toàn bộ nền kinh tế xã hội với vai trò chủ sở hữu tài sản, vốn của
nhà nước” (Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Khóa X); “thu
hẹp và tiến tới không còn chức năng đại diện chủ sở hữu của các bộ, Ủy ban nhân dân
tỉnh, thành phố đối với DNNN” (Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản VIệt Nam lần thứ X);
“nghiên cứu hình thành các tổ chức quản lý, đầu tư kinh doanh có hiệu quả các nguồn
vốn, tài sản của Nhà nước; khắc phục tình trạng bộ máy quản lý hành chính tham gia trực
tiếp vào các hoạt dộng kinh doanh thông qua mệnh lệnh hành chính” (Văn kiện Đại hội
Đảng Cổng sản Việt Nam lần thứ XI)
Cụ thể, năm 2011, Chính phủ đã giao cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư xây dựng đề án
“Tách chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước với chức năng quản lý nhà nước của các
cơ quan nhà nước”. Chính phủ cũng đa ban hành và triển khia thực hiện 05 Nhị định về
đổi mới cơ chế quản lý DNNN, trong đó, Nhị định số 99/2012 NĐ-CP về phân công phân
cấp thực hiện quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với DNNN và
vốn đầu tư vào doanh nghiệp.
+ Việc phân tách 2 chức năng trên cũng sẽ giúp triển khai thực hiện một trong các
cam kết gia nhập WTO là Nhà nước phải đối xử với DNNN tương tự như các chủ DN
khác đối với DN của mình - nghĩa là Nhà nước phải đối xử bình đẳng giữ DNNN và DN
ngoài nhà nước.
- Thu hẹp phạm vi kinh doanh của DNNN
thiết.
Từ năm 2011 đến hết năm 2013, cả nước đã sắp xếp được 180 doanh nghiệp, trong
đó cổ phần hóa 99 doanh nghiệp và sắp xếp theo các hình thức khác 81 doanh nghiệp
- Các doanh nghiệp được cổ phần hóa hầu hết có quy mô lớn, phạm vi hoạt động rộng,
kinh doanh đa ngành, tài chính phức tạp; việc cổ phần hóa được số doanh nghiệp này với
số cổ phần chào bán gần 19.000 tỷ đồng là nỗ lực, cố gắng rất lớn, đáng ghi nhận.
Hầu hết các DN sau cổ phần hóa có tốc độ tăng trưởng khá, hoạt động hiệu quả
hơn. Sự ra đời của các công ty cổ phần hóa tiếp tục làm tăng tính cạnh tranh trong nền
kinh tế, thúc đẩy tái cơ cấu thị trường chứng khoán, tạo bước đổi mới trong nhận thức, tư
duy về quan hệ sản xuất và vai trò của DNNN trong nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa. Trong quá trình cổ phần hóa, tái cơ cấu DNNN, chính sách trợ cấp hỗ trợ
đào tạo, đào tại lại nghề cho người lao động dôi dư do sắp xếp lại vẫn được thực hiện tốt,
làm cho DN và người lao động yên tâm, bảo đảm được ổn định xã hội.
- Tại Hội nghị triển khai nhiệm vụ tái cơ cấu DNNN đoạn năm 2014 - 2015 diễn ra vào
ngày 18/2 vừa qua do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chủ trì. Nhiệm vụ chung được xác
định đến năm 2015 là kiên quyết thực hiện tái cơ cấu DNNN. Trọng tâm là cổ phần hóa,
kể cả các tập đoàn kinh tế; thoái vốn đầu tư ngoài ngành và bán phần vốn Nhà nước
không cần nắm giữ theo nguyên tắc thị trường. Yêu cầu giảm mạnh doanh nghiệp Nhà
nước giữ cổ phần chi phối, hướng đến mục tiêu cổ phần hóa thành công 432 doanh
nghiệp đến năm 2015.
Trong cổ phần hóa DN, tiếp tục rà soát, bổ sung thêm các DNNN cần phải cổ phần
hóa theo hướng giảm mạnh hơn DN 100% vốn nhà nước và giảm mạnh DNNN giữ cổ
phần chi phối.
Trong thời gian tới, Chính phủ sẽ ban hành một loạt văn bản về vấn đề này, như
Nghị quyết về một số giải pháp đẩy mạnh sắp xếp, cổ phần hóa và thoái vốn Nhà nước tại
DN giai đoạn 2013-2015; Chỉ thị của Thủ tướng về đẩy mạnh tái cơ cấu DNNN đến năm
2015 và Quyết định của Thủ tướng về ban hành tiêu chí, danh mục phân loại DNNN
Hình 2.1: Số lượng DN cổ phần hóa bình quân năm giai đoạn từ 2001 đến 2013.
Nguồn: Tổng hợp từ nhiều nguồn
- Bộ Tài chính đã xây dựng dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về một số giải pháp nhằm
tự chủ và công khai minh bạch của DN trong kinh tế thị trường theo quy định của pháp
luật và thông lệ quốc tế.
- Hàng loạt các quy định mới đã được Chính phủ ban hành trong thời gian qua như: Nghị
định 51/2013/NĐ-CP về chế độ tiền lương đối với viên chức quản lý; Nghị định
71/2013/NĐ-CP về đầu tư vốn nhà nước vào DN và quản lý tài chính đối với DNNN;
Nghị định 99/2012/NĐ-CP về phân công, phân cấp thực hiện quyền, trách nhiệm, nghĩa
vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với DNNN và vốn nhà nước đầu tư vào DN
- Hiện nay, Chính phủ cũng đang nghiên cứu, soạn thảo gần 30 đề án, văn bản quy phạm
pháp luật, trong đó một số quy định thiết lập thể chế tăng cường công tác kiểm tra, giám
sát tại DNNN đặc biệt là các tập đoàn, tổng công ty; tách chức năng đại diện chủ sở hữu
nhà nước với chức năng quản lý nhà nước…
Tới đây Chính phủ sẽ ban hành một số quy định như: Nghị định về thành lập, tổ
chức lại, giải thể công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu; Nghị định
sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 về
chuyển DN 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần; Quyết định về quy chế đánh giá
việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với DNNN; Nghị định
quy định chế độ giám sát, kiểm tra việc thực hiện chiến lược, kế hoạch, mục tiêu, nhiệm
vụ được giao của DN…
- Việc Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành các cơ chế, chính sách về quản lý vốn,
tài sản của DNNN trong thời gian qua cơ bản đã khắc phục được một số tồn tại, bất cập
trong công tác quản lý, điều hành, sử dụng vốn, tài sản của DNNN để đầu tư vào sản xuất
kinh doanh. DNNN đã từng bước thực hiện được vai trò, nhiệm vụ chủ sở hữu giao, góp
phần thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội; là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước
điều tiết kinh tế, ổn định vĩ mô, bảo đảm cân đối lớn của nền kinh tế.
Các quy định pháp luật trên đã trao quyền cho doanh nghiệp chủ động tìm kiếm
cơ hội kinh doanh, mở rộng quy mô sản xuất, tìm kiếm thị trường; tạo điều kiện cho
DNNN thực hiện vai trò chủ đạo trong cung ứng các sản phẩm dịch vụ công ích cho xã
hội, đầu tư vào các vùng - địa bàn kinh tế khó khăn, đặc biệt khó khăn, bảo đảm phát
triển cân đối vùng miền và an ninh kinh tế quốc gia, cũng như tập trung đầu tư ở một số
lĩnh vực trọng điểm quốc gia như: năng lượng, kết cấu hạ tầng, dịch vụ viễn thông.
+ Quan niệm về vai trò và chức năng của DNNN nói chung và tập đoàn, tổng công
ty nhà nước nói riêng vẫn không thay đổi. Cụ thể là, DNNN vẫn được sử dụng làm công
cụ, là lực lượng vật chất để nhà nước điều tiết thị trường, điều tiết nền kinh tế. Quan niệm
và cách làm này không phù hợp với vai trò nhà nước nói cung và doanh nghiệp nhà nước
nói riêng trong nền kinh tế.
+ Hàng loạt các nguyên tác khác của thị thị trường vẫn chưa thực sự áp dụng đối
với doanh nghiệp nhà nước.
DNNN chưa áp dụng đầy đủ nguyên tắc và kỷ luật thị trường còn do cơ chế quản
lý hiện hành của nhà nước đối với DNNN. Các cơ quan nhà nước còn tiếp tục can thiệp
theo phương thức hành chính, phi thị trường vào hoạt động kinh doanh và quản lý doanh
nghiệp.
- Chưa áp dụng đầy đủ nguyên tắc và thực tiến quản trị tốt đối với DNNN, tập đoàn, tổng
công ty nhà nước.
- Nội dung tái cơ cấu DNNN mặc dù được tích cực triển khai song còn tương đối chậm so
với yêu cầu, chưa có chiến lược, cách thức thực hiện còn rời rạc nên kết quả còn nhiều
hạn chế, cụ thể:
+ Tốc độ CPH, sắp xếp lại DNNN giảm đáng kể trong giai thời gian qua. Nếu giai
đoạn 2001-2011 có 3.000 DN CPH thì giai đoạn 2011-2013, tổng số DN sắp xếp là 180
DN, CPH 99 DN, đặc biệt, hai năm 2012 và 2013, con số DN CPH chỉ là 87. Đây áp lực
rất lớn so với mục tiêu phải CPH được 432 DNNN giai đoạn 2014-2015
+ Công tác cổ phần hóa DNNN hiện diễn ra chậm, việc DNNN thoái vốn khỏi
những ngành nghề không phải là ngành nghề chính còn gặp nhiều khó khăn, nhất là trong
điều kiện thị trường chứng khoán không thuận lợi, có một số cổ phiếu niêm yết thấp hơn
mệnh giá hoặc giá hiện tại thấp hơn thời điểm DN mua cổ phần nên ảnh hưởng đến việc
thoái vốn do các DN phải đảm bảo quy định về bảo toàn và phát triển vốn nhà nước đầu
tư.
+ Thực tế việc tái cơ cấu DNNN hiện nay vẫn chỉ đơn giản là việc sáp nhập lại với
nhau một cách cơ học mà chưa có đổi mới về chất. Cho đến nay cách làm tái cơ cấu
DNNN chủ yếu là dựa vào một hướng dẫn chung, từng tập đoàn đề ra cách thức, trình tự
điều chỉnh/cải cách của mình để có được sự chấp thuận của đơn vị chủ quản. Việc tái cơ
nhượng cổ phần, phần góp vốn, mà cả bán tài sản (thành phần và bán thành phẩm),
chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chuyển nhượng dự án,.v.v…
Trong khi đó, các quy định hiện hành về thoái vốn nằm phân tán ở nhiều văn bản pháp
luật khác nhau; nội dung của các quy định đó chưa bao quát hết sự đa dạng của các loại
vốn cần thoái, và không còn phù hợp với điều kiện thị trường yêu cầu
+ Sự ảm đạm của thị trường chứng khoán, bất động sản cùng những quy định khá
khắt khe liên quan đến việc thoái vốn dưới mệnh giá đã khiến tiến trình thoái vốn không
đúng với kế hoạch đặt ra. Trong khi đó, với tình hình kinh tế hiện nay, các khoản đầu tư
ngoài ngành của DNNN vào lĩnh vực chứng khoán, ngân hàng, bất động sản… khó có thể
thu hồi toàn vẹn.
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY QUÁ
TRÌNH TÁI CƠ CẤU DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
TRONG THỜI GIAN TỚI.
3.1. Các giải pháp từ phía các cơ quan quản lý Nhà nước.
Trước những kết quả đã đạt được cũng như những hạn chế còn tồn tại của quá
trình tái cơ cấu DNNN của nước ta trong thời gian qua, đồng thời nhằm hướng đến thực
hiện, hoàn thiện mục tiêu tái cơ cấu thành công DNNN mà trọng tâm là CPH các DNNN,
thoái vốn đầu tư ngoài ngành, nâng cao năng lực cạnh tranh, tao hiệu quả hoạt động kinh
cho khu vực này. Chính phủ cũng như các Bộ ngành liên quan cần quyết liệt và mạnh mẽ
hơn nữa trong việc thực thi những kế hoạch đã được đề ra, mà được cụ thể hóa tại các
quyết định, nghị định, chỉ thị đã ban hành.
- Đẩy mạnh sắp xếp, cổ phần hóa, tập trung vào ngành nghề kinh doanh chính, thoái
vốn đầu tư ngoài ngành theo nguyên tắc thị trường. Đồng thời cổ phần hoá nhằm huy
động vốn của xã hội, nhất là các tập đoàn, tổng công ty nhà nước và có phương án sử
dụng hợp lý nguồn vốn này.
- Quan triệt thực hiện thoái vốn nhà nước đã đầu tư vào ngành, lĩnh vực ngoài ngành
kinh doanh chính hoặc không trực tiếp liên quan với ngành kinh doanh chính; vốn nhà
nước ở công ty cổ phần mà nhà nước không cần chi phối theo nguyên tắc thị trường việc.
- Hình thành tổ chức để thực hiện thống nhất chức năng đại diện chủ sở hữu đối với
DNNN. Trước mắt, tập trung soát xét, điều chỉnh sự phân cấp, phân công giữa Chính phủ
lý nhà nước mà cả sự vận động, thay đổi trong tư duy của các doanh nghiệp.
- Bản thân các cấp lãnh đạo cao nhất của DN cũng như hệ thống cán bộ công nhân
viên thuộc quản lý các DNNN cần phải quyết tâm, mạnh dạn trong việc thực hiện mục
tiêu tái cơ cấu DNNN trong thời gian tới.
- DNNN cần đánh giá đúng tầm quan trọng của việc tái cơ cấu, phổ biến những quan
điểm về tái cơ cấu doanh nghiệp đến các thành viên trong công ty để mọi người
thấy được tầm quan trọng của quá trình tái cơ cấu.
Muốn vậy, các doanh nghiệp cần: Tổ chức mời đội ngũ chuyên gia có kinh nghiệm
nhằm giúp mọi người ý thức hơn về tầm quan trọng của tái cơ cấu doanh nghiệp; Quán
triệt về nhận thức và hành động trong các đơn vị thành viên để việc triển khai tái cơ
cấu thực sự đúng trọng tâm, lộ trình và đạt hiệu quả; Kiên quyết áp dụng khi doanh
nghiệp đã hội tụ đầy đủcác điều kiện để thực hiện.
- DNNN phải kiên quyết, kiên trì một quá trình đổi mới, cải cách thể chế kinh doanh,
thể chế tài chính cơ chế tuyển dụng lao động và lãnh đạo, nâng cao quyền tự chủ, tự chịu