SÁNG KIẾN -KINH NGHIỆM
RCOM H LEN- NĂM HỌC: 2006-07
“Đổi mới phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ
một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước
áp dụng các phương pháp tiên tiến, hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo
điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu đối với học sinh” (1) là điều cần
thiết và tất yếu.
Nhưng tiến hành bằng cách nào, qui trình tiến hành ra sao, có tác dụng
hay không! Muốn vậy đòi hỏi người giáo viên cần phải nắm vững các nguyên
tắc, qui trình thiết kế và sử dụng bài tập nhận thức của bộ môn sao cho phù hợp
đối với từng đối tượng học sinh, thực trạng trường học và điều kiện địa phương
hợp lý.
Khẳng định điều đó, từ viện sỹ G.Đai ri đến V.ÔKôn hay I.Ia lécne hoặc
nhiều chuyên khảo khác trong các công trình nghiên cứu của mình họ đều có
một điểm chung rằng: “Dạy học nêu vấn đề là kiểu dạy học mới, đáp ứng yêu
cầu đào tạo con người năng động, sáng tạo phù hợp với thời đại. Trong đó, bản
chất của dạy học nêu vấn đề là tạo “Tình huống có vấn đề” và điều này chỉ có
thể thực hiện có hiệu quả bằng cách thiết lập hệ thống những câu hỏi, bài tập
nêu vấn đề”.
Như vậy, câu hỏi, bài tập nêu vấn đề chính là phương tiện kết nối để
người giáo viên có thể tạo ra ở người học các tình huống có vấn đề và là cơ sở
để giáo viên có thể đàm thoại, phát vấn… giúp học sinh tìm cách xâu chuỗi,
1
việc, lãnh đạo của chi bộ Đảng, của Ban giám hiệu nhà trường, cộng với sự
đồng
phân tích, lý giải căn nguyên của những vấn đề, những sự kiện lịch sử, và học
sinh sẽ hứng thú hơn nếu được bổ trợ với thiết bị công nghệ để soạn ra một giáo
án điện tử với những file flahs sinh động, những âm thanh, tiếng động, những tư
liệu phim, những slide hình ảnh bổ ích: “ càng cần thiết trong 1 tiết dạy công
nghệ thông tin có sử dụng hệ thống câu hỏi nhận thức”.
1. VAI TRÒ CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG TIẾT HỌC BỘ
MÔN LỊCH SỬ.
Với thành tựu khoa học kỷ thuật tiến như vũ bão hiện nay, ứng dụng
CNTT trong giảng dạy không còn là điều mới lạ đối với tất cả các quốc gia
có nền giáo dục tiên tiến; kể cả các trường học trọng điểm ở các thành phố
lớn hiện nay ở nước ta.
Minh chứng cho quỹ đạo trên trường THPT Ayunpa từ vài năm nay cũng
đã từng bước ứng dụng thành tựu CNTT trong quản lí và giảng dạy tuy ở “
độ tuổi” còn “ khiêm tốn” nhưng cũng đã từng bước khẳng định được vai
trò và tác dụng hiệu quả của nó trong các lĩnh vực, đặc biệt trong các môn
học ở bậc THPT.
Ví dụ, trong tiết học bộ môn lịch sử càng cho chúng ta thấy rõ điều đó,
bởi đơn giản học sinh thường cho đây là môn phụ, không cần phải đầu tư
nhiều như các môn học khác càng làm cho bộ môn sử vốn dài lê thê, chằng
chịt với những nội dung & sự kiện lịch sử khó nhớ, học sinh chán học,
không đam mê với bộ môn lịch sử bởi sự nghèo nàn về tư liệu, tranh ảnh,
thước phim sinh động…nhưng kể từ khi ứng dụng CNTT vào tiết dạy thì “
hình như” học sinh chú ý, tập trung hơn, rồi “ ồ”, “à” khi các em được thấy
những slide hình ảnh như xe tăng, máy bay trực thăng của Mĩ, hay đội quân
viễn chinh Pháp, Mĩ, hoặc những bản đồ, biểu đồ có hiệu ứng Điều đó
càng khẳng định giảng dạy bằng máy chiếu có ưu điểm hơn vừa phong phú
về nội dung, hình ảnh, vừa tận dụng được triệt để thời gian nhằm phát huy
4
tính tích cực, chủ động của học sinh nhằm tạo cho tiết học sinh động hơn.
Nhưng sẽ không có tác dụng nếu như giáo viên chỉ làm thao tác trình chiếu.
Chính vì vậy, xây dựng hệ thống câu hỏi bài tập nhận thức khoa học, rõ ràng
trong một tiết học CNTT nhằm tích cực hoá hoạt động học bộ môn lịch sử
của học sinh là cần thiết và quan trọng.
Như vậy,đổi mới phương pháp giáo dục và dạy học được coi là khâu
quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục và dạy học, để tránh Thầy dạy
HỎI BÀI TẬP NHẬN THỨC MÔN LỊCH SỬ TRONG MỘT TIẾT
HỌC CNTT.
Với mục đích trên nên việc rèn luyện cho người học có được phương
pháp, kỹ năng, thói quen, ý chí tự học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi
người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội .
Cho nên, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động trong quá trình
dạy học: nổ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang học tập chủ
động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong trường phổ thông, học sinh không
chỉ tự học ở nhà, mà còn tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của giáo
viên.
Ví dụ, “ sau chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, các nước đế quốc
thắng trận họp ở Vecxai để phân chia quyền lợi về kinh tế, chính trị… làm cho
mâu thuẫn giữa các nước đế quốc bấy giờ tăng lên. Vậy, theo em đó là những
mâu thuẫn nào? Em có suy nghĩ gì về hậu quả của những mâu thuẫn đó?
Như vậy giáo viên đã bằng bài tập xác định mối quan hệ nhân quả các sự
kiện lịch sử đã hình thành và dần tạo cho học sinh tính chủ động trong học tập.
Mặt khác, tăng cường học tập cá thể cần phải biết phối hợp học tập hợp
tác (hoạt động ). Bởi, trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của học
sinh không thể đồng đều tuyệt đối thì việc ứng dụng những hệ thống câu hỏi
7
phân hoá là cần thiết. Tất sẽ có sự phân hoá về cường độ, tiến độ hoàn thành
nhiệm vụ học tập nhất là bài được thiết kế bài giảng,gắn với công nghệ thông
tin.
(2).Trích tạp chí giáo dục số 156- kì 2-2-2007, trang 21- T.S Nguyễn
Gia Cầu.
SÁNG KIẾN -KINH NGHIỆM
RCOM H LEN-NĂM HỌC: 2006-07
Ví dụ: Trong hiến pháp 1787 của nước Mỹ có đưa ra một số quy định như:.
1.Chỉ có những người có tài sản và có học vấn mới có quyền bầu cử
- Thứ năm, bài tập lịch sử cần chính xác về nội dung và chuẩn mực về
hình thức.
SÁNG KIẾN -KINH NGHIỆM
RCOM H LENNĂM HỌC: 2006-07
Từ những nguyên tắc trên cho nên việc xây dựng quy trình bài tập nhân thức
cần theo các bước sau:
9
Bước một, xác định mục đích xây dựng bài tập nhận thức nhằm góp phần
việc cải tiến, đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng giáo dục bộ
môn.
. Bước 2, trên cơ sở chương trình, sách giáo khoa lịch sử xác định những
kiến thức cơ bản cần thiết kế bài tập.
Bước 3, xác lập hệ thống các loại bài tập nhận thức qua từng đơn vị kiến
thức, bài, chương và cả khoá trình.
Bước 4, xác định nguồn tài liệu cần nghiên cứu, tìm hiểu, lựa chọn như:
Nội dung sách giáo khoa, báo, tài liệu tham khảo, kể cả kênh hình…
Bước 5, tiến hành xây dựng bài tập nhận thức thể hiện chủ đích bao gồm
những kiến thức cơ bản.
Bước 6, kiểm tra bài tập sau khi xây dựng và lập kế hoạch sử dụng.
Nói tóm lại, các bước này vừa theo trình tự vừa đan xen với nhau, có
mối liên hệ chặt chẽ trong một hệ thống. Bước trước là tiền đề của bước sau,
bước sau nối tiếp bước trước và đặt cơ sở cho bước tiếp theo cho nên việc
nắm vững nguyên tắc và các bước trên rất quan trọng trong việc xây dựng hệ
thống bài tập nhận thức.
3. XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP NHẬN THỨC TRONG MỘT TIẾT
HỌC LỊCH SỬ
10
Nhằm cụ thể hoá các nguyên tắc, qui trình và những yêu cầu nêu trên ở một
tiết học, cụ thể tiết 43, bàI 9. Những năm đầu toàn quốc kháng chiến ( tiết 4 ) -
lịch sử Việt Nam- lớp 12 giáo viên cần phảI nắm:
hưởng như thế nào đối với cuộc kháng chiến của ta? Đảng ta chủ động mở
chiến dịch biên giới nhằm mục đích gì? Chiến dịch đại thắng, nguyên nhân nào
dẫn tới chiến dịch thắng lợi, ý nghĩa lịch sử của chiến dịch? Đó là nội dung
chính của bài học mà các em cần nắm vững.
Như vậy, bài tập nhận thức lịch sử về cơ bản không được thoát ly nội dung,
phạm vi, yêu cầu của chương trình, sách giáo khoa nhằm làm cho các bài tập
thực hiện chức năng giáo dưỡng, giáo dục và phát triển của bộ môn.
Tuy nhiên trong trường hợp cần thiết cũng có thể mở rộng, phát triển nội
dung bài tập phù hợp trình độ học sinh, nhằm kích thích tư duy, gây hứng thú
học tập cho các em, nhưng nói gì thì nói vẫn phải dựa trên cơ sở, chương trình
sách giáo khoa., phải đảm bảo tính hệ thống trong việc xác định nội dung bài
tập nhận thức, cụ thể khi bước vào tiểu mục 1 của bài. Hoàn cảnh lịch sử trước
khi ta mở chiến dịch, đối với tiểu mục này chủ yếu cần tập trung vào hai ý sau:
SÁNG KIẾN -KINH NGHIỆM
RCOM H LEN-NĂM HỌC: 2006-07
.Hoàn cảnh quốc tế
12
. Hoàn cảnh trong nước
Hay nói cách khác, chiến dịch Biên giới Thu Đông 1950 diễn ra trong bối cảnh
lịch sử như thế nào? hoặc nêu những khó khăn và thuận lợi trước khi ta mở
chiến dịch Biên giới?
. Thuận lợi: Trong nước và quốc tế( cách mạng Trung Quốc, cách mạng Lào &
Campu chia; về chính sách đối ngoại được bạn bè quốc tế và đặc biệt các nước
XHCN đăt quan hệ ngoại giao…)
Kết hợp slide hình ảnh minh hoạ trên giáo viên đã tạo được biểu tượng
sinh động nhất kết hợp với hệ thống câu hỏi để cuối cùng chính học sinh là
chủ thể lí giải những biểu tượng trên và khẳng định: “ Vị trí, uy tín của
nước ta ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế.”
13
Nhân dân Pháp biểu tình phản đối chiến tranh ở Việt Nam
15
2. Đoàn dân công các dân tộc Việt Bắc chuyển vũ khí, lương thực cho chiến dịch
Biên giới
Học sinh nêu trả lời, giáo viên nêu lên 3 mục đích và yêu cầu học sinh :
Trong 3 mục đích trên thì mục đích nào quan trọng nhất? Vì sao mục đích tiêu
diệt sinh lực địch là nhiệm vụ trước hết?
Tiêu diệt sinh lực địch sẽ làm suy yếu lực lương của địch và tương quan lực
lượng sẽ có sự thay đổi, đich ngày càng suy yếu ta càng mạnh, có như vậy ta
mới thực hiện được 2 mục đích còn lại.
Với mục đích quan trọng như vậy, Đảng và chính phủ ta đã huy động mọi
lực lượng chuẩn bị như thế nào? em có nhận xét gì khi xem hai bức ảnh sau?
1. Bác Hồ trực tiếp chỉ đạo chiến dịch Biên giới.
SÁNG KIẾN -KINH NGHIỆM
RCOM H LEN-NĂM HỌC: 2006-07
16
Và hình ảnh sinh động về chủ tịch Hồ Chí Minh cần được giáo viên làm
rõ, thông qua việc giới thiệu chỉ thị của Bác: “ Chiến dịch Cao-Bắc-Lạng rất
quan trọng, các chú chỉ được đánh thắng, không được đánh thua” và ý chí đó
của Người được thể hiện càng rõ nét trong bài thơ sau:
“ Chống gậy lên non xem trận địa,
Vạn trùng núi đỡ vạn trùng mây.
Quân ta khí mạnh nuốt ngưu đẩu,
Thề diệt xâm lăng lũ sói gầy”
17
SÁNG KIẾN -KINH NGHIỆM
RCOM H LEN-NĂM HỌC: 2006-07
GV: Qua những slide hình ảnh trên em có nhận xét gì về công tác chuẩn bị, chỉ
đạo của ta trong chiến dịch Biên giới?
Về diễn biến chiến dịch, giáo viên sử dụng bản đồ để giới thiệu hệ thống
phòng ngự trên đường số 4 với các địa danh: Đình Lập, Lạng Sơn, Na Sầm,
học sinh, cả lớp chứ không phải chỉ dựa vào vốn hiểu biết, kinh nghiệm sống
của Thầy giáo, Người thầy giáo chỉ là người hướng dẫn, cung cấp thông tin, xử
lí, kết nối những tình huống…để giúp học sinh làm chủ một cách tốt nhất về
kiến thức lịch sử.
SÁNG KIẾN -KINH NGHIỆM
RCOM H LEN-NĂM HỌC: 2006-07
Kết quả và ý nghĩa lịch sử, phần này giáo viên có thể sử dụng slide hình ảnh
bổ trợ để phần kết của bài học mang tính thuyết phục hơn. Và kết thúc bài giáo
viên tổ chức học sinh trao đổi, rút ra nguyên nhân thắng lợi & ý nghĩa lịch sử
của chiến dịch biên giới; hướng dẫn học sinh sưu tầm tài liệu, tranh ảnh làm hồ
sơ học tập…
19
SÁNG KIẾN -KINH NGHIỆM
RCOM H LEN-NĂM HỌC: 2006-07
20
Toàn cầu hoá kinh tế tạo ra những khả năng và cơ hội dẫn đến sự hình
thành những nhân tố mới cho sự phát triển trên từng lĩnh vực của đời sống xã
hội. Sự thay đổi và phát triển mang tính toàn cầu ấy tất sẽ dẫn tới sự chuyển
dịch định hướng giá trị. Chính trong bối cảnh đó nền giáo dục Việt Nam buộc
phảI cọ xát để tạo ra hướng đi mang tính tích cực, tránh nguy cơ tụt hậu.
Với tư cách là một giáo viên dạy môn lịch sử-GDCD trước thực tế bộ môn
của tổ còn gặp nhiều khó khăn như thiếu tư liệu, tranh ảnh, thước phim, dĩa CD
lịch sử , về phía học sinh thì thì chưa chăm học, còn thụ động, còn tư tưởng
môn phụ và nếu có học thì học đối phó, nhồi nhét…chưa thực sự: “ Học để biết
sử, học để hiểu sử, học để làm bài tập sử”,còn về phía giáo viên chưa thực sự
dạy hết cái tâm của mình, nhiều khi kinh nghiệm, vốn liếng còn nhiều hạn chế,
chậm và lúng túng trong việc đổi mới phương pháp dạy học. Chính vì thế trong
dạy học lịch sử ở trường phổ thông nói chung và THPT nói riêng chất lượng đạt
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
SÁNG KIẾN -KINH NGHIỆM
RCOM H LEN-NĂM HỌC: 2006-07
23
Gồm:
- Lời nói đầu từ trang1-2
- Phần nội dung từ trang 3-14
- Phần Kết trang 15.
- Phần nhận xét trang 16
- Phần tham khảo trang 17
…………………
1. Phương pháp dạy học lịc sử của phan Ngọc Liên và Trần Văn Trị -
NXBGD.
2. TàI liệu BDTX chu kỳ 2002-2005 của T.S Trần Quốc Tuấn.