thực trạng thu ngân sách nhà nước việt nam.giải pháp để tránh thất thu ngân sách nhà nước - Pdf 14

B- NỘI DUNG THẢO LUẬN.
I. CƠ SỞ LÍ THUYẾT.
1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của ngân sách nhà nước.
1.1. Khái niệm và đặc điểm của ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước là một phạm trù kinh tế mang tính chất lịch sử, nó phản ánh
những mặt nhất định của các quan hệ kinh tế thuộc lĩnh vực phân phối sản phẩm xã
hội và được sử dụng như một công cụ thực hiện các chức năng của Nhà nước. Sự
ra đời và tồn tại của ngân sách nhà nước luôn gắn liền với sự ra đời và tồn tại của
Nhà nước và sự xuất hiện của sản xuất hàng hoá. Khi nhà nước ra đời, để đảm bảo
cho sự tồn tại của mình, Nhà nước đã đặt ra chế độ thuế khoá bắt toàn dân phải
cống nạp, các khoản thu này hình thành nên quỹ tiền tệ của Nhà nước và nó được
sử dụng để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.
Thuật ngữ “ngân sách nhà nước” có từ lâu và được dùng phổ biến trong đời sống
kinh tế xã hội. Song hiểu thế nào là ngân sách nhà nước thì có nhiều quan niệm
khác nhau, hiện nay có hai quan niệm phổ biến về ngân sách nhà nước. Quan niệm
thứ nhất cho rằng: Ngân sách nhà nước là bản dự toán thu chi tài chính của Nhà
nước trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm. Quan niệm thứ hai
cho rằng: Ngân sách nhà nước là quỹ tiền tệ của Nhà nước. Các quan niệm trên về
ngân sách nhà nước đã lột tả được mặt cụ thể, mặt vật chất của ngân sách nhà
nước, nhưng chưa thể hiện được nội dung kinh tế xã hội của ngân sách nhà nước.
Trong thực tế, nhìn bề ngoài hoạt động ngân sách nhà nước là hoạt động thu chi tài
chính của Nhà nước. Hoạt động đó được biểu hiện một cách đa dạng và phong phú,
được tiến hành hầu hết trên các lĩnh vực, tác động đến mọi chủ thể kinh tế xã hội.
Tuy vậy, nhưng chúng có những đặc điểm chung như sau:
- Các hoạt động thu chi của ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với quyền lực kinh
tế - chính trị của Nhà nước, được Nhà nước tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất
định.
- Đằng sau những hoạt động thu chi tài chính đó chứa đựng nội dung kinh tế xã hội
nhất định, chứa đựng những quan hệ kinh tế, quan hệ lợi ích nhất định. Trong các
quan hệ lợi ích đó, lợi ích quốc gia, lợi ích tổng thể bao giờ cũng được đặt lên hàng
đầu và chi phối các mặt lợi ích khác trong hoạt động của ngân sách nhà nước.

sách và ngược lại”.
-Ngân sách nhà nước là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Vai trò này xuất phát từ yêu cầu khắc phục những khuyết tật vốn có của nền kinh
tế thị trường. Vai trò này được thể hiện trên các mặt như sau:
Thứ nhất, ngân sách nhà nước là công cụ định hướng hình thành cơ cấu kinh tế
mới, kích thích phát triển sản xuất kinh doanh và chống độc quyền.
Để khắc phục những khuyết tật của nền kinh tế thị trường, Nhà nước phải hướng
hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế đi vào quỹ đạo mà Nhà nước đã hoạch
định, để hình thành nên cơ cấu kinh tế tối ưu, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát
triển ổn định và bền vững. Thông qua công cụ là ngân sách nhà nước đảm bảo
cung cấp kinh phí để Nhà nước đầu tư cho cơ sở kết cấu hạ tầng, hình thành các
doanh nghiệp thuộc các ngành then chốt, trên cơ sở đó tạo môi trường và điều kiện
thuận lợi cho sự ra đời và phát triển các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh
tế. Việc cấp vốn hình thành các doanh nghiệp nhà nước là một trong những biện
pháp căn bản để chống độc quyền và giữ cho thị trường khỏi rơi vào tình trạng
cạnh tranh không hoàn hảo. Mặt khác, trong những điều kiện cụ thể, nguồn kinh
phí ngân sách cũng có thể được sử dụng để hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh
nghiệp, đảm bảo tính ổn định về cơ cấu hoặc chuẩn bị cho việc chuyển sang cơ cấu
mối hợp lý hơn. Ngoài ra, bằng việc huy động nguồn tài chính thông qua thuế,
ngân sách nhà nước đảm bảo thực hiện vai trò định hướng đầu tư, kích thích hoặc
hạn chế sản xuất kinh doanh.
Thứ hai, ngân sách nhà nước có vai trò quan trọng trong việc điều tiết thị
trường,bình ổn giá cả, chống lạm phát.
Trong nền kinh tế thị trường, sự biến động giá cả có nguyên nhân từ sự mất cân đối
cung cầu. Bằng công cụ thuế, phí, lệ phí, vay và chính sách chi tiêu của ngân sách
nhà nước, Nhà nước có thể tác động vào khía cạnh cung hoặc cầu để bình ổn giá
cả. Đặc biệt sự hình thành quỹ dự phòng trong ngân sách nhà nước để đối phó với
sự biến động của thị trường đóng vai trò quan trọng để bình ổn giá cả. Mặt khác,
hoạt động thu – chi của ngân sách nhà nước có mối quan hệ chặt chẽ với vấn đề
lạm phát. Lạm phát là căn bệnh nguy hiểm đối với nền kinh tế và chống lạm phát

chính trong xã hội để hình thành quỹ tiền tập trung quan trọng nhất của Nhà nước
- Đặc điểm :
+ Thu ngân sách nhà nước thực chất là sự phân chia nguồn tài chính quốc gia giữa
Nhà nước và các chủ thể khác trong xã hội dựa trên quyền lực của Nhà nước nhằm
giải quyết hài hoà các mối quan hệ về lợi ích kinh tế . Sự phân chia đó là 1 tất yếu
quan xuất phát từ yêu cầu tồn tại và phát triển của bộ máy nhà nước và thực hiện
các chức năng của Nhà nước
+ Thu ngân sách nhà nước gắn chặt với thực trạng kinh tế và sự vận động của các
phạm trù như giá cả, thu nhập, lãi suất Chỉ tiêu quan trọng biểu hiện thực trạng
của nền kinh tế là tổng sản phẩm quốc nội (GDP). GDP là yếu tố khách quan quyết
định mức động viên của thu ngân sách nhà nước
-Cơ cấu thu ngân sách nhà nước bao gồm :
+ Thu trong cân đối ngân sách là các khoản thu nằm trong hoạch định của Nhà
nước nhằm cân đối ngân sách. Các khoản này gồm : thuế, lệ phí, lợi tức của Nhà
nước, thu tiền bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu Nhà nước, và các khoản thu
khác.
+Thu ngoài cân đối ngân sách hay còn gọi là thu bù đắp thiếu hụt ngân sách.
Thu bù đắp thiếu hụt ngân sách thực chất là vay để bù đắp, bao gồm vay trong
nước và vay nước ngoài. Vay trong nước được thực hiện thông qua việc phát hành
công trái quốc gia, trái phiếu chính phủ…để huy động tiền nhàn rỗi trong các tầng
lớp dân cư. Vay nước ngoài được thực hiện thông qua vay nợ hoặc viện trợ Chính
phủ, các tổ chức tài chính quốc tế.
2.2. Nội dung kinh tế của thu ngân sách nhà nước.
2.2.1. Thu thuế.
- Thuế là sự đóng góp theo nghĩa vụ đối với Nhà nước được quy định bởi pháp luật
do các pháp nhân và thể nhân thực hiện.
- Thuế mang tính bắt buộc và không hoàn trả trực tiếp. Thuế được nhà nước áp đặt
bằng quyền lực chính trị, được thể chế hoá bằng luật pháp, cho nên mọi tổ chức
phải chấp hành nghiêm chỉnh, nếu không thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đối với Nhà
nước tức là phạm luật và sẽ bị xử lý theo pháp luật. Tính bắt buộc của thuế được

doanh nghiệp, cho dù đó là doanh nghiệp nhà nước, đã bị thu hẹp. Nhà nước thực
hiện đầu tư vốn vào hoạt động sản xuất kinh doanh bằng hình thức mua hoặc góp
cổ phần được hình thành nên các doanh nghiệp cổ phần mà ở đó Nhà nước với tư
cách là một cổ đông. Khi các doanh nghiệp cổ phần hoạt động kinh doanh có lợi
nhuận, số lợi nhuận đó sẽ được chia cho các cổ đông theo lượng vốn góp và Nhà
nước sẽ có một khoản thu. Trong các doanh nghiệp nhà nước khi hoạt động có lợi
nhuận thì một phần lợi nhuận đó được huy động vào ngân sách nhà nước thông qua
khoản thu về tiền thu sử dụng vốn ngân sách nhà nước, và mặt bản chất đây chính
là khoản lợi tức thu được từ khoản vốn mà Nhà nước đã đầu tư. Thu lợi tức từ cổ
phần Nhà nước là một nguồn thu chiếm tỷ trọng tương đối trong tổng cơ cấu thu
ngân sách các khoản vốn đã đầu tư vào nền kinh tế
2.2.4. Thu từ bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu nhà nước.
Khoản thu này mang tính chất thu hồi vốn và một phần mang tính chất phân phối
lại. Khoản thu này vừa có tác dụng tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, vừa có
tác dụng nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên quốc gia. Khoản thu này bao gồm:
- Thu về bán hoặc cho thuê tài nguyên thiên nhiên
- Thu về bán tài sản thuộc quyền sở hữu của nhà nước nhưng không thuộc nguồn
tài nguyên như bán hoặc cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước cho tư nhân, cho
nước ngoài.
2.2.5. Thu về từ hợp tác lao động với nước ngoài và thu khác.
Trong xu hướng mở cửa hội nhập, hợp tác lao động giữa các nước ngày càng diễn
ra sôi động, việc xuất khẩu lao động của các nước đông dân tạo nên một khoản thu
cho ngân sách nhà nước. Thực chất khoản tiền này là khoản tiền thu hồi của quốc
gia đã bỏ ra những chi phí ban đầu để bảo vệ, nuôi dưỡng, rèn luyện, đào tạo người
lao động, đồng thời là khoản tiền mà người lao động trích ra từ tiền công của mình
đóng góp cho tổ quốc.
Ngoài các khoản thu trên, còn có các khoản thu khác như : thu từ bán tài sản không
có người nhận, các khoản tiền phạt, tịch thu, các khoản viện trợ không hoàn lại của
chính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài.
2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến thu ngân sách nhà nước.

2.4. Nguyên tắc thiết lập hệ thống thu ngân sách nhà nước.
Thiết lập một hệ thống thu ngân sách không chỉ nhằm mục đích đảm bảo nguồn
thu cho ngân sách nhà nước mà còn chứa đựng các mục tiêu kinh tế xã hội khác.
Do đó, việc thiết lập một hệ thống thu ngân sách nhà nước phải dựa trên những
nguyên tắc định hướng nhất định tùy theo những điều kiện kinh tế, xã hội của mỗi
nước.
2.4.1. Nguyên tắc ổn định và lâu dài:
- Trong điều kiện hoạt động kinh tế bình thường thì phải ổn định mức thu, ổn định
các sắc thuế , không được gây xáo trộn lớn trong hệ thống thuế ; đồng thời tỷ lệ
động viên của ngân sách nhà nước phải thích hợp ,đảm bảo
kích thích nền kinh tế tăng trưởng, nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu .
- Đối tượng tính thuế: đối tượng ít có sự biến động.
- Ý nghĩa thực hiện nguyên tắc:tạo thuận lợi cho việc kế hoạch hóa ngân sách nhà
nước, tạo điều kiện kích thích người nộp thuế cải tiến đẩy mạnh hoạt động sản xuất
kinh doanh.
2.4.2. Nguyên tắc đảm bảo sự công bằng.
- Thiết lập hệ thống thuế phải có quan điểm công bằng đối với người chịu thuế ,
không phân biệt địa vị xã hội, thành phần kinh tế.
- Việc thiết kế hệ thống thuế chủ yếu dựa trên khả năng thu nhập của người chịu
thuế. Để đảm bảo đươc nguyên tắc công bằng trong thiết kế hệ thống thuế phải kết
hợp sắc thuế trực thu với sắc thuế gián thu.
2.4.3. Nguyên tắc rõ ràng, chắc chắn:
- Nguyên tắc này đòi hỏi trong thiết kế hệ thống thuế các điều luật của các sắc thuế
phải rõ ràng cụ thể ở từng mức thuế, cơ sở đánh thuế, phương pháp tính thuế …
Các từ ngữ được sử dụng của văn bản thông thường, dễ hiểu, không chứa đựng
nhiều hàm ý để tất cả mọi người đều hiểu được và chấp hành giống nhau.
- Giúp cho việc tổ chức chấp hành luật thống nhất ,tránh được tinh trang lách luật,
trốn lậu thuế.
2.4.4. Nguyên tắc đơn giản:
- Nguyên tắc này đòi hỏi trong các sắc thuế cần hạn chế số lượng thuế suất , xác

chính sách thuế. Ước tính cả năm, tổng số thuế miễn, giảm lên đến 20.000 tỷ
đồng. Bộ Tài chính cũng tiếp tục rà soát để bãi bỏ các khoản phí và lệ phí khác với
số tiền khoảng 140 tỷ đồng.
Cũng theo báo cáo của Bộ Tài chính, ước thu ngân sách nhà nước cả năm 2009 đạt
390.650 tỷ đồng, bằng 100,2% dự toán (vượt 750 tỷ đồng), đạt tỷ lệ động viên
23,3% GDP, trong đó, từ thuế và phí đạt 21,5%GDP. Thu nội địa đạt 102,9% dự
toán (vượt 6.650 tỷ đồng); Thu từ dầu thô ước đạt 91,1% dự toán (giảm 5.700 tỷ
đồng); Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 98,6% dự toán
(giảm 1.200 tỷ đồng); Thu viện trợ ước đạt 6.000 tỷ đồng (tăng 1.000 tỷ đồng so
với dự toán).
Thứ trưởng thường trực Bộ Tài chính Nguyễn Công Nghiệp: "Tổng thu
NSNN cả năm 2009 đạt 390.650 tỷ đồng". Ảnh: Chí Thanh.
Một điểm đáng lưu ý là thu ngân sách địa phương phân bố không đều, nhiều địa
phương đạt và vượt dự toán, nhưng vẫn có không ít địa phương không hoàn thành
dự toán được giao. Do không điều hoà được số tăng thu ngân sách địa phương từ
địa phương có số thu cao sang địa phương có số thu thấp nên những địa phương
hụt thu so với dự toán sẽ gặp khó khăn trong việc đảm bảo dự toán chi.
“Để khuyến khích các địa phương đã phấn đấu tăng thu, Bộ Tài chính đã báo cáo
Chính phủ và Quốc hội cho xử lý theo hướng: ngân sách Trung ương hỗ trợ chung
cho các địa phương một phần (khoảng 25%) số giảm thu do thực hiện miễn, giảm
thuế. Với những địa phương sau khi đã được hỗ trợ chung như vậy mà vẫn hụt thu
thì yêu cầu địa phương sử dụng một phần các nguồn tài chính hợp pháp (quỹ dự
trữ tài chính, nguồn tiền lương còn dư), trường hợp còn tiếp tục hụt thu thì sẽ được
bù đủ để đảm bảo dự toán chi. Theo đó, số dự kiến bù giảm thu cho các địa
phương khoảng 3.000 tỷ đồng”, Thứ trưởng thường trực Nguyễn Công Nghiệp cho
biết.
Phát biểu tại Hội nghị trực tuyến tống kết công tác năm 2009 và triển khai nhiệm
vụ năm 2010, do Bộ Tài Chính tổ chức ngày 30/11, tại Hà Nội, Phó Thủ tướng
Thường trực Nguyễn Sinh Hùng đã đặt ra nhiệm vụ cho ngành tài chính trong năm
2010 là thu ngân sách nhà nước phải vượt 5-10%, trong đó không được tỉnh nào

Đồng chí Phùng Quang Hùng, Ủy viên
BTV Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường
trực UBND tỉnh chủ trì hội nghị.
Theo báo cáo về tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm,
kinh tế - xã hội của tỉnh phát triển ổn định. Tốc độ tăng trưởng kinh tế ước đạt
42,56%, trong đó khu vực công nghiệp – xây dựng tăng 37,2%; dịch vụ tăng
60,8%; nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng 22,9%. Tổng giá trị sản xuất công nghiệp
– xây dựng ước đạt 20.565,6 tỷ đồng, tăng 41,1% so với cùng kỳ. Tổng kim ngạch
xuất khẩu ước đạt gần 200 triệu USD, kim ngạch nhập khẩu đạt 710 triệu USD.
Hoạt động tín dụng ngân hàng nhìn chung phát triển ổn định. Ngành du lịch đón
668,2 ngàn lượt khách, doanh thu đạt 450 tỷ đồng.
Sản xuất nông, lâm, nghiêp, thủy sản tăng trưởng cao mặc dù chịu ảnh hưởng của
thời tiết phức tạp, khắc nghiệt. Tổng diện tích gieo trồng vụ Đông xuân năm 2010
đạt 66,7 ngàn ha, năng suất lúa đạt 54,79 tạ/ha, ngô đạt 41,8 tạ/ha; sản lượng lương
thực có hạt ước đạt 236,8 ngàn tấn, tăng 29,6% so với cùng kỳ. Ngành chăn nuôi
phát triển ổn định, công tác quản lý gia súc, gia cầm và phòng chống dịch bệnh
thực hiện tốt nên không có dịch bệnh lớn xảy ra.
6 tháng đầu năm 2010, tổng thu ngân sách trên địa bàn ước đạt 6.962,9 tỷ đồng,
tăng 79,1% so với cùng kỳ, đạt 68,3% dự toán năm, trong đó thu nội địa ước đạt
4.767,8 tỷ đồng, tăng 46,6% so với cùng kỳ, đạt 54,1% dự toán năm.
Kết luận nội dung này, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh, ông Phùng Quang
Hùng cho rằng các chỉ số tăng trưởng 6 tháng đầu năm nay là rất ấn tượng, cao
nhất trong nhiều năm qua. Tuy nhiên một số vấn đề trong phát triển kinh tế-xã hội
còn gặp nhiều khó khăn. Việc xây dựng hạ tầng đất dịch vụ và các khu tái định cư
còn chậm. Nền kinh tế của tỉnh còn nhiều hạn chế, thiếu lao động tay nghề cao, kết
cấu hạ tầng kinh tế chưa đảm bảo yêu cầu phát triển; tình trạng ô nhiễm môi trường
còn phổ biến, nhất là ở khu vực nông thôn; dịch bệnh tiềm ẩn nguy cơ bùng phát.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) luôn tăng nhanh, nguy cơ lạm phát luôn có khả năng
xảy ra…
Đồng chí Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh đề nghị các cấp, các ngành tạo

nhiên, do hệ thống pháp luật ta còn nhiều bất cập, sự quản lí chưa chặt chẽ đã tạo
kẻ hở cho các cá nhân, tổ chức lợi dụng để trốn thuế, gây thất thu một lượng đáng
kể cho ngân sách nhà nước. Điển hình, trong năm 2008, lượng thuốc lá nhập lậu
vào nước ta đã làm thất thu thuế, lấy đi của ngân sách nhà nước 2.500- 3000 tỉ
đồng. Ngoài ra, lượng thuốc lá nhập lậu còn làm chảy máu ngoại tệ của đất nước
khoảng 200 triệu USD/năm, làm gia tăng thất nghiệp, ảnh hưởng rất lớn đến sự
phát triển kinh tế.
Bên cạnh đó, việc giãn thuế, giảm thuế và miễn thuế một mặt giúp các doanh
nghiệp có thêm nguồn vốn đầu tư, duy trì và mở rộng sản xuất. Tuy nhiên, việc
miễn thuế, giảm thuế hoặc chậm thu làm ảnh hưởng tới các khoản chi ngân sách
khác gây thâm hụt ngân sách nhà nước.
-Đầu tư công kém hiệu quả:
Trong năm 2007 và 2008, nước ta đã tiếp nhận một lượng vốn rất lớn từ bên ngoài
nhằm đẩy mạnh đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng và các công trình trọng điểm quốc
gia phục vụ lợi ích phát triển của đất nước. Tuy nhiên, trên thực tế, tình trạng đầu
tư dàn trải gây lãng phí ở các địa phương vẫn chưa được khắc phục triệt để, tiến độ
thi công những dự án trọng điểm quốc gia còn chậm và thiếu hiệu quả, đã gây lãng
phí nguồn ngân sách nhà nước và kiềm hãm sự phát triển của các vùng miền, là
nguyên nhân chính dẫn đến thâm hụt ngân sách nhà nước.

Cần đấu thầu dự án sử dụng đất.
Bên cạnh đó, nền hành chính công - dịch vụ của chúng ta quá kém hiệu quả. Chính
sự kém hiệu quả này làm cho tình trạng thâm hụt ngân sách càng trở nên trầm
trọng.
- Nhà nước huy động vốn để kích cầu:
Chính phủ kích cầu qua 3 nguồn tài trợ chính là: Phát hành trái phiếu Chính phủ,
miễn giảm thuế và sử dụng Quỹ dự trữ nhà nước. Sử dụng gói giải pháp kích cầu
một mặt làm kích thích tiêu dùng, tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, sẽ làm mức thâm
hụt ngân sách tăng rất cao khoảng 8-12%GDP
-Chưa chú trọng mối quan hệ giữa chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên:

nhưng phải cân nhắc và kiểm tra xem toàn bộ số bội chi có được sử dụng để chi
đầu tư phát triển cho các dự án trọng điểm và hiệu quả qua đó tạo thêm công ăn
việc làm, tạo đà cho nền kinh tế phát triển, tăng khả năng thu NSNN trong tương
lai hay không
2. Giải pháp để tránh thất thu ngân sách nhà nước ở Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay.
- Giải pháp giảm thất thu ngân sách nhà nước nhờ tổ chức bộ máy thu nộp:
+ Tổ chức bộ máy thu nộp gọn nhẹ, đạt hiệu quả cao, chống thất thu do trốn, lậu
thì sẽ là nhân tố tích cực làm giảm tỉ xuất thu ngân sách nhà nước mà vẫn đảm bảo
nhu cầu chi tiêu của NSNN.
+ Chúng ta cần tập trung cho giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng. Bên cạnh
đó, cần đẩy nhanh tốc độ cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước và có chính sách đầu
tư phát triển công nghiệp chế biến và công nghiệp phụ trợ.
+ Cần phải đưa nguồn thu từ trái phiếu Chính phủ vào trong ngân sách để có
những tính toán và phân bổ cho phù hợp hơn.
+ Chính phủ cần siết chặt chi tiêu ngân sách, tập trung vốn hoàn thành những dự
án, công trình dở dang, hạn chế khởi công dự án mới, nhất là những dự án có tổng
mức đầu tư lớn.
- Vấn đề nợ công của nước ta hiện nay và giải pháp cho vấn đề nợ công để
tránh thất thu ngân sách nhà nước.
+ Theo báo cáo giám sát của Ủy ban Tài chính - Ngân sách, nợ Chính phủ đang
tăng cao, từ 33,8% GDP năm 2007 lên 36,2% năm 2008, năm 2009 chiếm 41,9%
GDP và sẽ tăng lên 44,6% GDP vào năm nay. Với trách nhiệm của mình, Chính
phủ thấy cần phải cảnh báo rằng, chúng ta vẫn đang tiếp tục vay nợ ở mức cao,
chúng ta cần chú ý đến việc này, và phải sử dụng có hiệu quả vốn vay.
+ Công khai và minh bạch hóa các khoản nợ nhà nứơc của các tập đoàn và đảm
bảo nợ công trong mức an toàn.
+ Hoàn thiện khung pháp lý về quản lý nợ công, kiểm soát nợ quốc gia ở ngưỡng
an toàn bằng việc tiếp tục hoàn thiện chính sách quản lý về vốn ODA, vay ưu đãi,
phát hành trái phiếu, quản lý phòng ngừa rủi ro…; nâng cao hiệu quả sử dụng vốn

kiểm tra sau thông quan sẽ xây dựng, hoàn chỉnh hệ thống văn bản pháp luật,
nghiệp vụ về kiểm tra sau thông quan, phân loại đối tượng quản lý, cẩm nang kiểm
tra sau thông quan, tăng cường năng lực thông tin và công nghệ thông tin. Nâng
cao năng lực kiểm soát về giá hàng nhập khẩu cho cán bộ, công chức; làm cho toàn
lực lượng nhạy bén với thông tin về giá, kiểm tra quyết liệt ngay khi có lô hàng
đầu tiên nhập khẩu và Việt Nam có dấu hiệu gian lận về giá. Kiểm tra, xác minh
đến cùng để xác định được giá giao dịch đích thực nhằm ngăn chặn tình trạng gian
lận giá sang các lô hàng khác của doanh nghiệp, chống thất thu thuế hiệu quả cho
ngân sách nhà nước.
- Nguồn thu ngân sách chưa bền vững và giải pháp.
+ Theo những nguồn thu năm 2008 chủ yếu tăng thu là từ giá dầu và tăng thu từ
xuất nhập khẩu, nếu xét nguồn tăng thu này từ sản xuất kinh doanh thể hiện chưa
rõ. Từ đó ta thấy vấn đề thu trong ngân sách vừa qua chưa mang tính bền vững.
+ Năm 2008, Báo cáo kiểm toán nói điều đáng chú ý là nước ta đã thất thu khá
nhiều trong vấn đề thu phí môi trường. Luật bảo vệ môi trường đã quy định nước
ta phải thu phí về chất thải rắn, khí thải, kể cả nước thải, những cơ sở khai thác tài
nguyên khoáng sản cũng phải thu phí môi trường. Mục tiêu có thêm nguồn ngân
sách để bảo vệ môi trường, gồm có công tác thanh tra, kiểm tra, công tác giám sát,
đo đạc tự động các thông số môi trường, đầu tư vào những hạng mục xử lý môi
trường. Nhưng theo Báo cáo kiểm toán nước ta thu không đáng kể, số chi cũng
không đạt.
+ Nước ta thất thu cực kỳ lớn trong việc giao đất, giao rừng, giao mỏ khoáng sản,
đây là những tài sản rất lớn của Nhà nước, của nhân dân.
+ Mỏ, rừng, đất của nước ta là tài nguyên và chúng ta phải đấu giá, phải công khai
và minh bạch chứ không thể theo cơ chế xin cho. Hình thức để thất thu này là thay
vì chúng ta bán, chúng ta bắt trả tiền thì chúng ta qua hình thức cho thuê mỗi năm
lấy một khoản tiền và như vậy doanh nghiệp đã chiếm dụng một lợi nhuận rất lớn.
Vì vậy đòi hỏi phải có biện pháp để nhà nứơc quản lý tốt nguồn tài nguyên này
tránh thất thu NSNN.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status