Lời mở đầu
Cũng như nhiều quốc gia phát triển khác, Việt Nam coi dòng vốn FDI là
động lực quan trọng thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế của đất nước. FDI
được coi là nguồn vốn quan trọng cho việc bổ sung nguồn vốn quốc gia.
Trong năm 2006 vừa qua Hàn Quốc được công nhận là quốc gia có lượng vốn
FDI vào Việt Nam lớn nhất từ trước đến nay. Việc gia nhập WTO đã đem lại
cho Việt Nam nhiều cơ hội thu hút FDI của các quốc gia trên thế giới.
Vì vậy, khi nghiên cứu về Hàn Quốc em thấy tính cần thiết của đề tài,
em chọn đề tài : “Thực trạng FDI của Hàn Quốc vào Việt Nam. Giải pháp
thu hút sau hội nhập”
Ngoài phần mở đầu và kết luận đề tài gồm 2 chương :
- Chương 1 :Thực trạng FDI của Hàn Quốc vào Việt nam
- Chương 2: Giải pháp thu hút FDI Hàn Quốc vào Việt nam
Tuy đã nhiều cố gắng nhưng do hạn chế về hiểu biết và tài liệu tham khảo
nên không tránh khỏi những sai sót. Em kinh mong nhận được sự góp ý của
thầy, cô và các bạn bè để hoàn thiện chuyên đề của mình.
Em chân thành cảm ơn cô Nguyễn Thị ái Liên đã giúp đỡ em hoàn thnahf
chuyên đề này.
1
Chương I : Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Hàn Quốc
vào Việt Nam
I. Đặc điểm và nhân tố ảnh hưởng FDI của Hàn Quốc vào Việt Nam
1. Đặc điểm FDI Hàn Quốc vào Việt Nam
- Các doanh nghiệp có vốn đầu tư của Hàn Quốc tập trung chủ yếu trong công
nghiệp chế tạo, sử dụng nhiều lao động, sản phẩm được xuất khẩu là
chính.Việc tận dụng nguồn lao động rẻ vẫn là mục đích của nhiều nhà đầu tư
nước ngoài khi đầu tư vào Việt Nam. FDI của Hàn Quốc vào các ngành sản
xuất ô tô, xe máy, thiết bị điện tử, đồ dân dụng và các sản phẩm xuất khẩu.
- Các nhà đầu tư Hàn Quốc đầu tư vào Việt Nam chủ yếu dưới hình thức
100% vốn đầu tư nước ngoài, chiếm khoảng 80%, tiếp đến là hình thức liên
doanh,chiếm khoảng 15% và còn lại là hợp đồng hợp tác kinh doanh...Có thể
• Doanh nghiệp đợc thế chấp tài sản tại các tổ chức tín dụng để vay vốn
• Luật đất đai mới đã tạo cơ sở cho việc hình thành và phát triển thị
trường bất động sản với sự tham gia của ĐTNN
Danh mục dự án đầu tư
Các dự án được khuyến khích đầu tư
Nhà đầu tư hết các lĩnh vực của nền kinh tế, trong đó khuyến khích đầu tư
vào các dự án:
• Công nghệ cao và công nghệ thông tin
• Công nghiệp chế tạo
• Vật liệu mới và năng lượng mới
• Ngành công nghiệp phụ trợ
3
• Đầu tư phát triển giống cây trồng và giống vật nuôi mới
• Nuôi trồng và chế biến nông, lâm hải sản
• Xây dựng kết cấu
• Y tế, giáo dục đào tạo
Các dự án bị hạn chế đầu tư
- Dự án liên quan đến quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an
toàn xã hội
- Dự án về tài chính, ngân hàng
- Dự án tác động đến sức khoẻ cộng đồng
- Dự án về lĩnh vực văn hoá thông tin, báo chí, xuất bản
- Dự án về dịch vụ giải trí
- Dự án về kinh doanh bất động sản
- Dự án về khảo sát, tìm kiếm, thăm dò, khai thác tài nguyên thiên
nhiên, môi trường sinh thái
- Dự án về phát triển GD và ĐT
Các dự án bị cấm đầu tư
- Các dự án gây phương hại đến quốc phòng, an ninh quốc gia và lợi
ích công cộng
nhập khẩu.
Hàng hoá sản xuất, tiêu thụ hoặc nhập khẩu từ nước ngoài vào khu phi
thuế quan không phải nộp thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng.
Ưu đãi cao hơn về thuế thu nhập doanh nghiệp.
Người nước ngoài được mua nhà ở và thuê đất ở trong KKT…
Ưu đãi về sử dụng đất : thời gian sử dung đất, thuế sử dung đất, tiền
sử dụng đất, thuê mặt nước.
5
-Thời hạn sử dụng đất của dự án Đầu tư không quá năm mươi năm; đối với
dự án có vốn Đầu tư lớn nhưng thu hồi chậm, dự án Đầu tư vào địa bàn có
điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt
khó khăn mà cần thời hạn dài hơn thì thời hạn giao đất, thuê đất không quá 70
năm
-Khi hết thời hạn sử dụng đất, nếu nhà Đầu tư chấp hành đúng phát luật về
đát đai và có nhu cầu tiếp tục sử dụng đất thì sẽ được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền xem xét ra hạn sử dụng đất phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã
được phê duyệt.
-Nhà Đầu tư Đầu tư trong lĩnh vực ưu đãi Đầu tư, địa bàn ưu đãi Đầu tư
được miễn, giảm tiền thuê đất, tiền sử dụng đất, thuế sử dụng đất theo quy
định của pháp luật về đất đai và phát luật về thuế.
Ưu đãi về chế độ chuyển lỗ
- Các doanh nghiệp sau khi quyết toán thếu với cơ quan thuế mà bị lỗ thì
được chuyển lỗ và trừ vào thu nhập chịu thuế của những năm sau. Thời gian
chuyển lỗ không quá 5 năm
- Thời điểm bắt đầu thời gian miễn thuế là năm tài chính đầu tiên mà doanh
nghiệp có thu nhập chịu thuế chua trừ số lỗ. Trường hợp năm tài chính đầu
tiên được miễn thuế giảm thuế có thời gian hoạt động sản xuất kinh doanh
hàng hoá, dịch vụ dưới 6 tháng, doanh nghiệp có quyền đuợc miễn thuế ngay
năm đó
Ưu đãi về chế độ khấu hao tài sản cố định
sản xuất. Vốn FDI cũng được thu hút vào 61 tỉnh, thành phố, đóng góp đáng
kể vào tăng trưởng kinh tế và tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao
động.
Kết quả đạt được là do luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam ngày càng
được sửa đổi hoàn thiện theo hướng ngày càng thông thoáng và hấp dẫn các
đối tác đầu tư nước ngoài. Những sửa đổi tạo sức hấp dẫn thu hút FDI cụ thể
một số điểm sau:
* Luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật đầu tư nước ngoài được Quốc
Hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tháng 6 năm 2000
đó bổ sung thêm điều khoản: “Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các
bên tham gia hợp đồng, hợp tác kinh doanh trong quá trình hoạt động được
phép chuyển đổi hình thức đầu tư, chia, tách, sát nhập, hợp nhất doanh
nghiệp. Chính phủ quy định về điều kiện, thủ tục chuyển đổi hình thức đầu tư,
sát nhập, hợp nhất doanh nghiệp.”
* Nghị định 24/2000/NĐ-CP ngày 31-7-2000 của Chính phủ: Theo nghị
định này, một số lĩnh vực đầu tư như xây dựng, kinh doanh cơ sở hạ tầng khu
công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao đó được đưa ra khỏi doanh
mục bắt buộc phải liên doanh, thay vào đó nhà đầu tư có thể đầu tư dưới hình
thức 100% vốn nước ngoài.
Hiện nay, luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam chỉ hạn chế đầu tư dưới
hình thức 100% vốn nước ngoài trong 8 lĩnh vực là:
- Xây dựng kinh doanh mạng viễn thông quốc tế, viễn thông nội hạt.
- Khai thác chế biến dầu khí, khoảng sản quý hiếm.
- Dịch vụ tư vấn (trừ tư vấn kỹ thuật).
8
- Vận tải đường hàng không, đường sắt, đường biển, vận tải hành khách
công cộng, xây dựng cảng, ga hàng không.
- Sản xuất thuốc nổ công nghiệp.
- Trồng rừng.
- Du lịch lữ hành.
tiên của Chính phủ và các nhà đầu tư nước ngoài vào khoảng tháng 2/1998,
Nhà nước chủ trương xóa bỏ một số thủ tục hành chính rườm rà như việc cấp
giấy phép đầu tư, thành lập doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh... thời gian làm
thủ tục kiểm hàng, giao nhận hàng ở hải quan cũng đã rút ngắn bằng nửa so
với trước đây.
Chính phủ thực hiện các chính sách ưu đãi đối với đầu tư nước ngoài như:
Tăng mức thuế ưu đãi lợi tức cho một số doanh nghiệp, miễn thuế lợi tức 4
năm và giảm 5% trong 4 năm tiếp theo, thậm chí thuế lợi tức đến 8 năm đối
với các dự án ưu đãi đặc biệt. Đông thời cũng tiến hành giảm giá thuê đất
khoảng 25% cho 170 doanh nghiệp. Bên cạnh đó, Chính phủ đã cho phép
điều chỉnh tỷ lệ nội tiêu và khuyến khích xuất khẩu, đồng thời các doanh
nghiệp có vốn FDI cũng được mua hàng hóa Việt Nam để xuất khẩu...
Việc phân cấp giấy phép đầu tư cũng được phân cấp toàn diện cho tất cả các
tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương được cấp giấy phép đối với các dự
án đầu tư trực tiếp nước ngoài với quy mô không quá 5 triệu USD cho một dự
án (riêng Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh là 10 triệu) không kể 10 ban quản lý đã
được ủy quyền trước đây, nay bộ Kế hoạch và đầu tư tiếp tục ủy quyền cho
các ban quản lý khu công nghệp khác. Cách phân cấp quản lý này đã rút ngắn
10
thời gian chờ đợi cho các doanh nghiệp có vốn FDI, đảm bảo thời gian tối đa
là 30 ngày, ở TP.Hồ Chí Minh chỉ mất có 9 đến 15 ngày để nhận được giấy
phép. Bên cạnh đó, do chủ trương ủy quyền cấp giấy phép mà việc nhập khẩu
thiết bị, vật tư của doanh nghiệp cũng diễn ra nhanh chóng hơn. Các địa
phương thì có điều kiện theo dõi ngay từ đầu khi các dự án mới hình thành và
chủ động điều chỉnh, giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình hoạt
động của dự án.
2.5 Môi trường và chính sách Đầu tư ra nước ngoài của Hàn Quốc
Với nền kinh tế Hàn Quốc , tổng giá trị thương mại hàng xuất khẩu tương
đương với 70 % GDP của cả nước trong năm 2005, trong khi tổng doanh thu
của các công ty đầu tư nước ngoài chỉ chiếm khoảng 14%. Như vậy, Hàn
trường kinh doanh. Khu mới Invest Plaza ở Nam Seoul được hy vọng để giúp
đỡ các doanh nghiệp có Đầu tư nước ngoài thâm nhập dễ dàng vào nền kinh
tế. Có nhiều chương trình tới các nhà đầu tư tiềm năng, chương trình quan
trọng nhất là những tư vấn thực hiện và trợ giúp ban đầu cho các doanh
nghiệp chuẩn bị hoạt động tại Hàn Quốc. Plaza đạt mục tiêu trở thành địa chỉ
dịch vụ một cửa cho các nhà Đầu tư : nhà quản lí dự án sẽ giúp mọi thứ từ
việc tìm ra địa điểm tốt nhất để xây dựng nhà máy, xử lí chi tiết hành chính
cho tới áp dụng tất cả các chương trình và lợi ích của chính phủ tương ứng.
Chính phủ nỗ lực để gia tăng những khuyến khích mà doanh nghiệp Đầu tư
vào lĩnh vực R&D công nghệ cao hay những doanh nghiệp mong muốn đặt
trụ sở ở khu vực Hàn Quốc sẽ được nhận những ưu đãi về tiền bạc
Cuối cùng là Hàn Quốc đang tập trung nỗ lực vào hai mục tiêu: Thứ nhất,
trợ giúp các điều kiện thị trường và cho phép doanh nhân nhận ra đầy đủ tiềm
12
năng doanh nghiệp của họ ở Hàn Quốc. Thứ hai, thực hiện các cam kết của
mình nhằm giúp đỡ doanh nghiệp hoạt động tốt ở Hàn Quốc
Để nền kinh tế có lợi hơn cho Đầu tư nước ngoài, năm 1998, Chính phủ đã
thay thế Đạo. luật quản lí ngoại hối trước đây bằng Đạo luật quản lí ngoại hối
mới. Các biện pháp tự do hoá trong luật mới được thực hiện trong hai giai
đoạn trong khoảng hai năm và những mục tiêu ban đầu của luật mới gồm có
sự tự do hoá tài khoản vốn và phát triển hơn nữa thị trường giao dịch trong
nước.
Nội dung chính của tự do hóa trong giai đoạn đầu là áp dụng” Hệ thống
danh mục phủ định”. Hệ thống này linh hoạt hơn hệ thống danh mục xác thực
trước đây, cho phép tự do hoá giao dịch các tài khoản vốn, trong đó các hoạt
động của doanh nghiệp lien quan với các cơ sở tài chính, bao gồm các khoản
vay ngắn hạn từ nước ngoài. Một nỗ lực tự do hoá thị trường khác của chính
phủ là cho phép uỷ quyền giao dịch ngoại hối nhằm giúp các tổ chức tài chính
đáp ứng một số yêu cầu nhất định.
Nội dung chính của tự do hoá giai đoạn hai gồm việc cho phép thực hiện
quá trình thu hút Đầu tư nước ngoài của chính phủ Việt Nam với 7,48 tỉ USD.
Đầu tư nước ngoài vào ngành Công nghiệp của Việt Nam trong năm 2006
chiếm 67,2%, trong đó Đầu tư cho nghành Công nghiệp nhẹ chiếm tới 79%,
Đầu tư nhằm mục tiêu sử dụng nguồn lao động rẻ vẫn chiếm tỉ lệ cao, ngoài
Đầu tư trong các ngành dịch vụ, kinh doanh khách sạn và du lịch, xây dựng
chung cư, văn phòng cũng chiếm tỉ lệ lớn.
Từ giai đoạn 1988 đến 2006 vốn Đầu tư thực hiện chiếm 47,6 tổng số vốn
Đầu tư .
Về địa bàn Đầu tư thì khu vực phía Nam vẫn thu hút chủ yếu và lớn nhất cả
nước, chiếm đến 67% tổng số vốn Đầu tư nước ngoài, còn lại là các địa
phương khác.
Trong năm 2006, con số cuối cùng về thu hút (FDI) là 9,927.9 tỷ USD, tăng
tới 45% so với năm trước và vượt 32% kế hoạch cả năm, bao gồm cả dự án
cấp mới và tăng vốn. Trong đó có 797 dự án được cấp mới với tổng vốn đầu
tư đăng ký là 7,5 tỷ USD và 439 dự án tăng vốn với tổng cộng 2,121.7 tỷ
USD
15
TOP 10 ĐỐI TÁC CÓ NHIỀU DỰ ÁN ĐẦU TƯ NHẤT
STT Đối tác Số dự án
Tổng vốn đầu tư
(USD)
Vốn pháp định
(USD)
1 Hàn Quốc 203 2,418,951,095 933,037,629
2 Nhật Bản 130 938,020,536 358,960,353
3 Đài Loan 112 215,736,756 124,079,068
4 Trung Quốc 57 312,048,443 122,916,940
5 Singapore 49 261,867,934 90,843,530
6 Hoa Kỳ 47 638,562,368 441,168,090
7 Hồng Kông 21 1,142,006,430 396,078,342
4 Công ty TNHH Phát
triển T.H.T.
Hàn Quốc Hà Nội Bất động sản 314,000,000
5 Công ty TNHH
Winvest Investment
Việt Nam
Mỹ Bà Rịa – Vũng Tàu Khách sạn – Du lịch 300,000,000
6 Công ty TNHH điện
tử Meiko
Nhật Hà Tây Linh kiện điện tử 300,000,000
7 Công ty cảng
Container Trung tâm
Sài Gòn
Anh TP. Hồ Chí Minh Cảng container 249,000,000
8 Liên doanh khu đô
thị An Khánh (Giai
đoạn 1)
Hàn Quốc Hà Tây Bất động sản 211,900,000
9 Công ty TNHH
Booyung
Hàn Quốc Hà Tây Bất động sản 171,000,000
10 Công ty ITG Phong
Phú (65,5 triệu
USD)
Mỹ Đà Nẵng Dệt may 65,500,000
1.2 Theo đối tác đầu tư
Đến nay, đã có 66 nước và vùng lãnh thổ có dự án ĐTNN tại Việt Nam.
Trong tổng số vốn ĐTNN đăng ký cấp mới USD thì các nước khu vực Châu á
chiếm 63,2%; Châu âu chiếm 20,4%; Châu Mỹ chiếm 13,4%. Riêng ba năm
2001-2003, các nước châu á (trừ ASEAN) có 1.408 dự án với tổng vốn đăng
8 Singapore 49 261,867,934 90,843,530
9 Đài Loan 112 215,736,756 124,079,068
10 Hà Lan 11 100,908,000 38,174,900
(Nguồn: Cục Đầu Tư Nước Ngoài – Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư )
1.3 Theo địa phương
18
Về cơ cấu vùng, lãnh thổ, vốn ĐTNN tập trung chủ yếu tại vùng kinh tế
trọng điểm phía Nam. Riêng 4 địa phương (TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình
Dương và Bà Rịa-Vũng Tàu) chiếm 55,9% tổng vốn đầu tư đăng ký của cả
nước. Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc (Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương,
Vĩnh Phúc, Quảng Ninh) chiếm 26,3% tổng vốn ĐTNN đăng ký của cả nước
TOP 10 ĐỊA PHƯƠNG CÓ NHIỀU DỰ ÁN FDI NHẤT
STT Địa phương Số dự án
Tổng vốn đầu tư
(USD)
Vốn pháp định (USD)
1
Tp. Hồ Chí
Minh 195 1,202,523,523 316,907,927
2 Bình Dương 155 709,229,319 397,322,418
3 Hà Nội 115 541,163,557 195,623,499
4 Đồng Nai 69 274,014,312 121,440,869
5 Hải Phòng 30 109,198,253 58,465,118
6 Hải Dương 28 480,797,500 133,256,500
7
Bà Rịa-Vũng
Tàu 19 1,694,430,000 845,692,000
8 Hưng Yên 18 125,792,840 59,749,223
9 Hà Tây 17 805,111,115 246,128,520
10 Bắc Ninh 16 83,093,000 33,638,238
đạt gần 4 tỷ USD. Như vậy, tính chung cả vốn cấp mới và tăng vốn thì tổng
vốn đăng ký trên 25 triệu USD. Riêng trong ba năm 2001-2003, vốn đăng ký
20
cấp mới và bổ sung đạt gần 9 tỷ USD, bằng 75% mục tiêu đề ra của thời kỳ
2001-2005 (12 tỷ USD).
*Xu hướng Đầu tư tại Việt Nam của các quốc gia cạnh tranh trong năm
2006
- Trong năm 2006, Đầu tư Hồng Kông, Nhật Bản và Mỹ vào Việt Nam tăng
mạnh, ngược lại Đầu tư từ Singapo và Đài Loan có dấu hiệu chững lại
- Đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam chủ yếu tập trung vào lĩnh vực điện tử
và chế tạo, trong đó 88% Đầu tư tập trung ở khu vực Bắc Bơ, đặc biệt ở khu
vực Hải Dương và Hưng Yên nằm giữa thủ đô Hà Nội và cảng Hải Phòng,
cảng lớn nhất khu vực phía Bắc Việt Nam.
- So với lĩnh vực chế tạo, Đầu tư của Mỹ chủ yếu tập trung vào lĩnh vực
dịch vụ như khai thác dầu khí, xây dựng khách sạn và khu nghỉ, xây dựng bến
cảng, kho tàng, trong đó 9% các dự án tập trung ở khu vực Nam Bộ.
* Lí do dẫn đến việc Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tăng mạnh trong năm
2006
+ Các nhà Đầu tư hy vọng sau khi Việt Nam gia nhập WTO, các yếu tố bất
ổn sẽ bị loại bỏ, môi trường xuất khẩu sang Mỹ đựợc cải thiện, thị trường dịch
vụ được mở rộng sẽ tạo ra nhiều cơ hội mới cho kinh doanh.
+ Môi trường kinh doanh được cải thiện nhờ những nỗ lực cải thiện môi
trường Đầu tư của chính phủ Việt Nam.
+ Việt Nam luôn luôn được đánh giá cao nhờ tính ổn định về thể chế so với
các quốc gia khác như Campuchia, Lào, Mianma.
Hi vọng rằng cơ hội tham gia vào các loại dự án quy mô lớn đang được triển
khai hoặc dự kiến triển khai trong thời gian tới như xây dựng khu đô thị mới,
dự án phát triển, xây dựng khu đô thị mới, dự án tái phát triển, xây dựng
đường sắt cao tốc, nhà máy phát điện, nhà máy lọc dầu, nhà máy hoá đầu, khu
sản xuất thép, đường sắt cao tốc, xây dựng khu công nghiệp.
lĩnh vực sau :.
• Điện, điện tử, hàng gia dụng;
• Hóa chất;
• Luyện kim, khai thác và chế biến khoáng sản;
• Bưu chính viễn thông;
• Xây dựng khu đô thị mới;
• Giáo dục, đào tạo, kể cả đào tạo ngắn hạn.
23
Cơ cấu FDI theo ngành của Hàn Quốc đầu tư vào các khu công
nghiệp T9/2006 – Nguồn : Cục Đầu tư nước ngoài -Bộ Kế Hoạch Đầu Tư
Năm 2006, Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đã đạt mức cao nhất trong
quá trình thu hút Đầu tư nước ngoài của chính phủ Việt Nam. Ngoài ra, Đầu
tư Hàn Quốc vào Việt Nam trong năm qua cũng đạt mức cao nhất kể từ khi
Hàn Quốc chính thức bắt đầu tiến hành Đầu tư tại Việt Nam vào năm 1986.
Năm 2006, Việt Nam đạt mức kỉ lục về Đầu tư nước ngoài với 7,48 tỉ
USD, trong đó Đầu tư nước ngoài từ Hàn Quốc chiếm 2,68 tỉ USD (trên thực
tế là 2,8 tỉ USD) chiếm 34,2 % tổng Đầu tư nước ngoài, đưa Hàn Quốc trở
thành quốc gia có số vốn Đầu tư lớn nhất vào Việt Nam năm nay, tiếp theo
đó là Hồng Kông, Nhật Bản, và Mỹ.
Hàn Quốc đạt mức Đầu tư kỉ lục vào Việt Nam với 207 dự án giá trị
2,78 tỉ USD, trong đó 86% là Đầu tư độc lập vào khu vực phía Nam. Xét
theo địa phương, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đứng vị trí thứ nhất, tỉnh Hà Tây
đứng vị trí thứ hai và thủ đô Hà Nội đứng thứ ba trong bảng xếp hạng
vốn Đầu tư.
Ngoài ra Đầu tư của Hàn Quốc vào Việt Nam trong năm 2006 dẫn đầu
là các ngành Công nghiệp nặng (chiếm 55%), xây dựng khu đô thị mới
68%
2%
30%
Công nghiệp Nônh Lâm nghiệp Dịch vụ