1 Giới thiệu
Nhóm Sinh kế CPO tiếp tục sưu tầm, biên soạn và
gửi đến các anh, chị, em cán bộ dự án một số quy trình kỹ
thuật trồng trọt các loại rau. Một lần nữa chúng tôi xin
nhắc lại rằng tài liệu này được viết chung cho các cây
trồng ở các vùng khác nhau. Vì vậy chúng có thể lệch đôi
chút về mùa vụ, mật độ, khoảng cách, v.v. so với quy trình
của địa phương. Do vậy, chỉ nên dùng để tham khảo. Khi
cần áp dụng vào thực tể thì nên đến các phòng Nông
nghiệp, Trạm khuyến nông tại địa phương để xin các quy
trình phù hợp nhất với điều kiện đất đai, thời tiết, khí hậu,
tập quán, .v.v. tại địa phương. 2
PHỤ LỤC
KỸ THUẬT TRỒNG RAU
PHẦN 1: KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÂY RAU CẢI 3
3
PHẦN 1: KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC
CÂY RAU CẢI
I. Kỹ thuật trồng cải ngọt
: trung tâm khuyến nông quốc gia//. www.khuyennongvn.gov.vn
1. Thời vụ
Vụ đông xuân: Gieo từ tháng 8
đến tháng 11; vụ hè thu: gieo từ tháng 2
đến tháng 6.
2. Vườn ươm:
Cây cải ngọt có thể gieo hạt thẳng
hoặc gieo ở vườn ươm rồi cấy. Làm đất
nhỏ, lên luống rộng 1m, cao 30 cm, rãnh rộng 30 cm. Bón lót phân chuồng hoai
mục 2 – 3 kg/m
2
. Nếu gieo để liền chân thì dùng 0,5 - 1g hạt giống/m
2
; nếu gieo
vườn ươm rồi cấy thì 1 - 1,2 g hạt giống/m
2
. Gieo hạt xong phủ trấu hoặc rơm rạ
lên mặt luống rồi dùng thùng ô doa tưới đều, sau đó mỗi ngày tưới một lần.
3. Làm đất, trồng:
Chọn đất cát pha hoặc đất thịt nhẹ có độ pH 5,5 - 6,5. Làm đất nhỏ, lên
luống rộng 1m, cao 30 cm, rãnh rộng 30 cm. Bón phân chuồng hoai mục 1,2 –
2kg/m
2
. Nếu không có phân chuồng có thể sử dụng phân hữu cơ vi sinh, lượng
trừ: Sherpa 25EC hoặc thuốc trừ sâu sinh học Bt để diệt trừ sâu. Sử dụng
Rhidomil MZ72 WP, Score 25EC để phòng trừ bệnh thối nhũn, phun với nồng
độ và liều lượng ghi trên bao bì của nhà sản xuất. Cần sử dụng các biện pháp
phòng trừ tổng hợp như vệ sinh đồng ruộng, luân canh cây trồng, bón phân cân
đối
7. Thu hoạch
Khi thu hoạch cần loại bỏ các lá gốc, lá già, lá bị sâu bênh, chú ý rửa sạch,
cây không bị giập nát cho vào bao bì sạch để sử dụng. 5
II. Kỹ thuật trồng cây cải thảo
trung tâm khuyến nông quốc gia//.Theo www.khuyennongvn.gov.vn
Khi trồng, bà con nên chọn các giống cải
thảo lai, thích nghi rộng, có năng suất, chất
lượng cao như: cải thảo Minh Nguyệt, Bạch
Dương
1. Thời vụ
Các tỉnh phía Bắc trồng từ tháng 8 – 10
dương lịch, phía Nam trồng từ tháng 7 năm
trước đến tháng 4 dương lịch năm sau.
2. Vườn ươm
Làm đất kỹ, nhặt sạch cỏ dại, lên luống rộng 90 – 100 cm, rãnh rộng 30 cm,
cao 25 cm. Bón lót 1 kg phân chuồng hoai mục + 15g supe lân + 8g kali sunfat
cho 1m
2
đất vườn ươm. Trải đều phân lên mặt luống, trộn lẫn phân với đất, sau
đó vét đất ở rãnh phủ lên mặt luống dày 1,2 – 2 cm.
Hạt giống sau khi ngâm vào nước nóng 50
Dùng nước sạch, nước giếng khơi, giếng khoan, nước sông ngòi chưa bị ô
nhiễm tưới cho cải thảo để đảm bảo an toàn thực phẩm.
IV. Kỹ thuật trồng cải xà lách xoong
/>ytrongkythuat=rau%20c%E1%BA%A3i (ThS. Trần Thị Ba; Bộ môn Khoa học
cây trồng, Khoa Nông nghiệp và sinh học ứng dụng, Trường ĐHCT)
1. Giới thiệu chung
Cải xà lách xoong có nguồn
ngốc Châu Âu, ngày nay được trồng
ở phía Tây Châu Á và nhiều nước
trong vùng nhiệt đới như Mã Lai, Ấn
Độ, In-đô-nê-xi-a, Phi Luật Tân,
Việt Nam,… và ở phía Bắc Châu
Phi. Cải xoong giàu Calcium (64
mg), sắt (1,1 mg), vitamin A, C,…
Ở Việt Nam cải xoong được
trồng chủ yếu ở vùng cao, có khí hậu
mát như miền Bắc, Đà Lạt, Bình
Thuận. Ở Đồng bằng sông Cửu Long, Huyện Bình Minh tỉnh Vĩnh Long là nơi
trọng điểm trồng xà lách xoong, có truyền thống từ lâu đời, không những cung
cấp cho đồng bằng mà cả thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra tỉnh An Giang, Cần
Thơ cũng có trồng nhưng diện tích không đáng kể.
Thân cải non, mềm, xốp dài 20 – 60 cm, mỗi lóng thân dài 1 – 5 cm tùy
thuộc rất lớn vào thời tiết và sự chăm sóc, mỗi mắt có thể mọc một cành. Lá kép
có 3 – 9 lá phụ, lá đỉnh to nhất, lá cải hình tròn nhỏ màu xanh đậm, rìa lá răng
7
cưa. Cải xoong thuộc loại rễ chùm, có nhiều rễ phụ ở đốt thân có thể hút chất
dinh dưỡng và nếu đem trồng sẽ thành cây độc lập.
Cải xoong rất thích sống ở nơi nhiều đất bùn, sống dưới nước, độ ngập
khoảng 4 – 5 cm nơi có dòng nước chảy như ở dưới chân của thác nước, mực
bờ và rãnh thoát nước.
Rải thêm đất mới (đất giàu hữu cơ được phơi khô, đập nhuyễn) lên luống
nhằm cung cấp đất cho lứa cải sau phát triển.
5. Bón phân
Lượng phân sử dụng cho 1000 m
2
Trồng mới:
Super lân (lót): 50 kg
Vôi bột: 50 kg
Phân chuồng hoai: 500 kg. (Có thể thay thế bằng phân dơi)
Cải gốc:
Lân vi sinh: 20 kg
Phân tôm: 30 – 40 kg
Phân chuồng hoai: 200 kg
NPK 16-16-8: 30 – 40 kg
Phân Urê: 4 – 5 kg
Cách bón:
+ Bón lót: Bón phân lân vi sinh khi vừa thu hoạch xong lứa trước.
Lần 1: (10 – 15 ngày): Phân tôm 10 kg + phân chuồng.
Lần 2 (17 – 20 ngày): Phân NPK 16-16-8 bón 10 kg
Lần 3 (24 – 28 ngày): Phân tôm 15 kg + phân chuồng
Lần 4 (30 – 35 ngày): NPK 16-16-8 bón từ 12 – 15 kg
Lần 5 (37 – 40 ngày): Phân tôm 15 kg + phân chuồng
9
Lần 6 (44 – 47 ngày): NPK 16-16-8 bón 15 kg
Giữa hai lần thúc phân có thể bổ sung phân bón lá + 01 kg Urê.
- : Ngưng tưới phân hóa học tối thiểu 07 ngày trước thu hoạch
6. Tưới nước
Anvil,…
10. Thu hoạch
Vào mùa nắng khoảng 60 ngày sau khi cắt lứa trước là thu hoạch.
Trồng từ tháng 09 – 12 thì thu hoạch vào khoảng 35 ngày sau khi thu
hoạch lứa trước.
Thu hoạch bình quân 6 – 8 lứa trong năm. Năng suất trung bình từ 8 – 10
tấn/ ha/ vụ.
V. Kỹ thuật trong và chăm sóc cây cải bắp
Ngun: />=971
1. Giới thiệu chung
Cải bắp thuộc loại cây chịu lạnh, cần qua giai đoạn xuân hoá ở nhiệt độ 1-
10
0
C.
Cải bắp có bộ lá rất phát triển, có hệ số sử dụng nước rất lớn nhưng lạ có
bộ rễ chùm khá dày, do đó chịu hạn và chịu nước tốt hơn so với su hào và xuplơ.
Cải bắp sinh trưởng thuận lợi trong điều kiện nhiệt dộ 18-20oC, ưa ánh
sáng ngày dài và cường độ chiếu sáng yếu. Cải bắp thích hợp trồng trong vụ
Đông - Xuân. Độ ẩm thích hợp là 75-85%, độ ẩm không khí thích hợp là 80-
90%. Cải bắp ưa đất thịt nhẹ, đất cát pha, có độ pH=6,5. Tốt nhất là đất phù sa
được bồi hàng năm.
11
Cải bắp đòi hỏi nhiều dinh dưỡng. Để đạt được năng suất 80 tấn / ha cần
610kg đạm ure, 400kg supe lân, 500 kg KCl.
2. Một số giống cải bắp
Hiện nay nước ta có nhiều giống cải bắp: cải bắp Bắc Hà, Lạng Sơn, Hà
Nội, Nhật Bản Giống sớm nhất là CB26 của Hà Nội, K-cross của Nhật, tiếp đó
là giống của Lạng Sơn, Bắc Hà, N-cross Nhật Bản.
3. Thời vụ gieo trồng
Dùng dầm hay cuốc bổ hốc rồi đặt cây vào theo thế tự nhiên của cây. Trên
1 luống trồng 2 hàng, sắp xếp theo kiểu so le. Khoảng cách giữa các cây thay đổi
tuỳ thuộc vào bắp cuống của giống to hay nhỏ.
Vụ sớm trồng với mật độ trồng 50 x 40cm.
Vụ chính trồng với khoảng cách 50 x 50cm.
Vụ muộn trồng với khoảng cách 50 x 40cm.
7. Kỹ thuật chăm sóc:
Sau khi trồng cây xong phải tưới ngay. Sau đó tưới hàng ngày cho đến khi
cây hồi xanh. Từ đó trở đi có thể 5-7 ngày tưới 1 lần. Có thể kết hợp tưới với
bón thúc bằng phân nước hay phân đạm hoà tan.
Khi cải bắp trải lá bàng nên dẫn nước vào rãnh, ngập đến 1/3 luống, để
nước thấm dần vào luống. Khi cải bắp đã cuốn cho nước vào rãnh lần thứ 2, để
ngập 2/3 rãnh . Không nên để thưa trong ruộng cải bắp. Khi cải bắp đã cuốn
chắc thì không tưới nữa để tránh hiện tượng nứt bắp.
Bón thúc cho cải bắp vào 2 thời kì chính:
Kỳ đầu bón vào thời gian từ lúc ra ngôi đến lúc cây trải lá bàng, trong
khoảng 30 - 45 ngày tuỳ theo giống. ở thời kì này cải bắp cần được bón thúc 2
lần. Lần đầu bón khi cây ra ngôi 10 - 15 ngày. Dùng phân chuồng loãng 30% để
tưới. Lần thứ 2 khi cây sắp trải lá bàng. Lần này cũng tưới nước phân chuồng
pha loãng, kết hợp với bón 60-70kg phân đạm cho 1 ha.
Kì thứ 2 bón vào giai đoạn cây trưởng thành đến khi cuốn xong, kì này bón
làm 2 - 3 lần. Lần đầu bón khi cây bắt đầu vào cuốn. Dùng phân chuồng pha đặc
kết hợp với 50 kg đậm ure để bón thúc cho 1 ha. Lần thứ 2 bón khi cải bắp đã
cuốn chắc. Cũng dùng lượng phân chuồng pha đặc như trên kết hợp với 60-70
kg đạm ure bón cho 1 ha.
13
Sau đó nều điều kiện thời tiết thuận lợi thì không cần bón thúc nữa. Nhưng
nếu thời tiết xâu, cây sinh trưởng kém, lá vàng thì bón thúc thêm lần thứ 3.
Lượng phân chuồng pha đặc tuỳ theo trạng thái tốt xấu của cây.
quả đã chín. Cần tiến hành thu hoạch ngay để đem ủ thêm 3-5 ngày cho quả chín
thêm rồi đem phơi khô, tách lấy hạt, sàng sẩy kỹ cất kĩ để đảm bảo cho vụ sau.
Ở các vùng núi cao, cải bắp để giống được gieo hạt vào tháng 6, trồng vào cuối
tháng 7 sang đầu tháng 8, thu hoạch bắp cải vào tháng 11 và tháng 12. Sau đó
lấy gốc trồng, ngay hoặc để lại tại chỗ rồi tiến hành chăm sóc. Đến tháng 2 cải
bắp trổ ngồng, ra hoa. Tháng 4-5 thu hoạch hạt để giống. Cần thu hoạch hạt
nhanh gọn, kịp thời vì lúc này ở các tỉnh miền núi phía Bắc thường có mưa sớm,
dễ làm hạt bị thối, mốc, hoặc mọc mầm ngay trên cành.
VI. Kỹ thuật gieo trồng súp lơ
Theo: Rauhoaquavietnam.vn
1. Giới thiệu chung
a. Đặc tính sinh học
Thực phẩm của Súp lơ là toàn bộ phần hoa chưa nở. Bộ phận này mềm,
xốp không chịu được mưa nắng.
Súp lơ có bộ phận lá rất phát triển so với su hào, nhưng bộ rễ phát triển
kém hơn nhiều, ăn nông (ở lớp đất 10 - 15 cm) và ít lan rộng, bán kính hoạt
động của bộ rễ chỉ 35 – 50 cm. Vì thế tính chịu hạn, chịu nước kém.
b. Yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh
Yêu cầu nhiệt độ
Súp lơ là loại cây 2 năm, chịu được lạnh; nhiệt độ thích hợp nhất cho sinh
trưởng và phát triển là 15
0
– 18
0
C. Từ 25
0
C trở lên cây mọc kém, chậm, mau hóa
già, hoa súp lơ bé và dễ nở. Quả lại ở giai đoạn súp lơ đang ra hoa nếu nhiệt độ
dưới 10
thông thường có hoa màu trắng hoặc trắng ngà, loại súp lơ này cả cuống lẫn ngù
hoa đều có màu xanh đậm như màu lá, gạo hoa nhỏ, mặt hoa thưa không mịn,
nhưng ăn ngọt và ngon, chịu nhiệt tốt hơn loại súp lơ trắng.
2. Thời vụ gieo trồng
- Vụ sớm: gieo tháng 7, tháng 8, trồng tháng 8 - 9.
- Vụ chính: gieo tháng 10 - tháng 12, trồng tháng 11 - 12.
Trước khi đem gieo, ngâm hạt vào nước nóng 50
0
C trong 25 - 30 phút để
diệt các nấm bệnh bám ở vỏ hạt giống, đồng thời tăng tỷ lệ mọc của hạt khi gieo.
16
Lượng hạt gieo trên 1m
2
khoảng 3,5 - 4g (1 ha gieo 400g đến 600g). Sau khi
gieo hạt phải tưới giữ ẩm từ 65 - 70%.
Chú ý: che mưa nắng cho cây giống.
Riêng đối với súp lơ vụ sớm sau khi cây con mọc được 15 - 18 ngày thì
phải đem giâm. Đất giâm súp lơ vụ sớm cũng làm luống như lúc gieo hạt, cây
cách cây 5 - 6 cm theo hình nanh sấu.
Chú ý: Nên giâm vào buổi chiều để cây đỡ héo, mau bén rễ. Giâm xong
tưới nước giữ ẩm ngay. Cây giống giâm được 20 - 25 ngày thì nhổ đem trồng.
3. Làm đất, bón phân lót
Luống rộng 0,9 – 1m: vụ sớm làm luống cao, hình mui luyện, vụ muộn và
chính làm luống thấp và phẳng.
Bón lót cho 1 ha: phân chuồng ủ hoai 40 tấn.
Phân đạm urê 50 kg.
Phân lân 25kg.
Phân kali 70kg.
Phân chuồng, phân lân và kali trộn đều nhau rồi theo hốc trồng là tốt nhất.
(giống chính vụ và muộn) thấy có ngù hoa ở trong lá nõn thì phải che đậy ngay.
Việc che đậy này phải làm cho tới khu thu hoạch hoa lơ. Lúc đầu hoa lơ còn bé,
có thể bẻ gập 1 - 2 lá trong lại để đậy (chú ý không bẻ rời hẳn mà chỉ bẻ gẫy
chân chính của lá); khi hoa đã lớn thì ngắt bỏ các lá ngoài (lấy khoảng 1/3 phiến
lá phần đầu lá) để đậy cho hoa, cứ thấy lá đậy hoa hơi héo là phải thay đổi lá đậy
khác ngay để nước khỏi dột vào ngù làm thối rữa hoa.
6. Phòng trừ sâu bệnh
Ngoài những sâu bệnh hại cây súp lơ thường bị bệnh thối cổ rễ và bệnh gối
đen. Nguồn bệnh chủ yếu lây lan qua hạt giống và phát triển mạnh mẽ trong
điều kiện độ ẩm của đất quá cao (trên 90%).
Vì vậy, nhất thiết phải xử lý hạt giống trước khi gieo và tránh tưới nước
quá ẩm gây độc hại cho bộ rễ súp lơ.
18
7. Thu hoạch súp lơ
Cần thu hoạch đúng lúc mới đảm bảo được năng suất và phẩm chất của hoa
lơ.
Sau khi ngù hoa xuất hiện 15 - 20 ngày thu là vừa. Lúc này mặt hoa lơ bắt
đầu gồ ghề, có hiện tượng rão ở xung quanh hoa thì phải thu hoạch ngay.
Dùng dao sắc, chặt một lá sát gốc, tỉa bỏ một vài lá chân, xếp đứng cuống
hoa hoặc xếp chụm cuống hoa vào nhau để dễ vận chuyển. Năng suất súp lơ có
thể đạt từ 18 - 22 tấn/ha (6 - 8 tạ/sào).
8. Để giống súp lơ
Chúng ta phải tính toán thời vụ để khi súp lơ ra hoa kết quả không gặp mưa
nhiều, lúc thu hoạch có thể hong phơi được ngay.
Khi để giống người ta thường bố trí cho quả chín vào tháng 4 và tháng 5.
Gieo hạt vào hạ tuần tháng 9 đến thượng tuần tháng 10, ra ngôi tháng 11 và
tháng 12. Tính bình quân một cây súp lơ giống cho 5 - 7g hạt, trồng tốt, chăm
sóc chu đáo có thể đạt 12 - 15g mỗi cây, tức là vào khoảng 3 - 5 tạ/1 ha (10 -
18kg/sào).
6. Để giống cải củ
Sau khi đã chuẩn bị đất kỹ, tìm những cây rủ lá vào buổi trưa, chọn củ to,
đều đặn, dáng đẹp, không sâu bệnh; cắt bỏ chỉ lấy 1/3 củ và 15 – 18 cm ls; chấm
mặt cắt vào tro bếp, chờ cho lát cắt se rồi trồng theo hàng với khoảng cách 30 x
40 cm hoặc 40 x 50 cm, ấn chặt đất quanh gốc và tưới giữ ẩm liên tiếp cho cây
ra rễ mới. Nửa tháng sau tưới thúc bằng nước phân loãng. Khi cây trổ ngồng thì
bấm ngọn để ngồng phát nhanh sẽ cho nhiều hoa và quả. Từ khi trổ ngồng đến
khi ra quả cần tưới nước phân cho cây 3 – 4 lần nữa, quả sẽ sáng, hạt chắc.
Khi quả chuyển từ màu xanh sang màu vàng lục thì thu hoạch, cắt cả cành
đem về bó lại để chỗ thoáng độ 5 – 7 ngày sau đó mới phơi khô lấy hạt. Một
hecta cải củ có thể thu từ 600 – 1000 kg hạt cải củ ( 22 – 35 kg/sào).
VIII. Kỹ thuật trồng Su hào
/>cat_view&gid=87&Itemid=154
1. Giới thiệu chung
20
Cây su hào thuộc họ Thập tự.
Thân của cây phát triển phình to ra thành củ khí sinh, trong chứa rất nhiều
chất dinh dưỡng, và được dùng làm thực phẩm (rau). Tuy cũng có những đòi hỏi
giống như cây cải bắp về các điều kiện sống, nhưng có thể chịu được nóng hơn
cải bắp 2 - 3
o
C. Vì vậy su hào có thể trồng sớm và muộn hơn cải bắp được, do
đó góp phần chống giáp vụ rau trong vụ xuân hè.
Su hào lại không đòi hỏi nhiều đối với đất cũng như phân bón.
2. Các giống su hào trồng ở nước ta.
Thường có 2 giống.
- Su hào dọc trung (hay su hào dọc nhỡ): củ tròn, to, mỏng vỏ, cọng và
phiến lá to hơn, dày hơn loại su hào dọc tăm. Điển hình là su hào Hà Giang.
Thời gian sinh trưởng 90 - 105 ngày.
cấy thì bón thúc kết hợp tưới. Tưới sao giữ được độ ẩm cho đất trong suốt thời
gian sinh trưởng.
- Bón thúc: bón thúc lần đầu sau khi cây đã bén rễ bằng phân chuồng pha
loãng 20%. Sau đó cứ một tuần lại thúc một lần. Lượng phân đạm để thúc suốt
quá trình sinh trưởng từ 150 - 200 kg urê cho 1 ha. Chú ý, su hào càng lớn lượng
phân thúc càng tăng. Thúc lần cuối trước khi thu hoạch một tuần để củ nẩy đều,
mỏng vỏ.
- Vun xới: Xới xáo làm hai lần: lần đầu vào sau khi ra ngôi được 15 - 20
ngày, lần thứ hai sau lần trước khoảng 15 ngày.
6. Phòng trừ sâu bệnh:
Tất cả các loại sâu bệnh hại cải bắp cũng đều hại su hào, đặc biệt là rệp rau:
chúng tập trung ở phần nõn củ và lá non mới nhú để chích hút làm cho các bộ
phận này bị teo đi, su hào không lớn được. Phải phát hiện kịp thời và dùng
dipterêc pha 1/1600 để phun trừ.
7. Thu hoạch:
Căn cứ vào thời gian sinh trưởng của từng giống, từng vụ và thấy mặt củ đã
bằng, lá non ngừng sinh trưởng thì thu hoạch: kéo dài thêm sẽ già, nhiều xơ,
22
giảm phẩm chất. Năng suất su hào của ta hiện nay từ 16 - 30 tấn/ha (6 - 10
tạ/sào).
8. Để giống su hào.
Gieo hạt vào tháng 9 đến cuối tháng 10 để trồng vào tháng 11, tháng 12.
Để giống cần bón lót nhiều kết hợp với lượng lân và kali gấp đôi ở đại trà:
lượng đạm giảm đi từ 1/2 - 2/3. Cây sinh trưởng bình thường thì không cần dùng
đạm để thúc.
PHẦN 2: KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC
CÂY THUỘC HỌ BẦU BÍ
I. Kỹ thuật trồng và chăm sóc bí đỏ
Nguồn: />gID=1&NewsID=263
chiếu sáng mạnh, có khả năng chịu hạn khá nhưng nếu khô hạn quá dễ bị rụng
hoa và trái non.
Nhiệt độ và độ dài ngày đều có ảnh hưởng trên sự hìanh thành tỉ lệ hoa đực
và cái trên cây. Ngày dài và nhiệt độ cao thích hợp cho cây ra nhiều hoa đực.
Cây không kén đất nhưng đòi hỏi phải thoát nước tốt, vì cây chịu úng kém
nhưng chịu khô hạn tốt. ẩm độ cao không thích hợp cho cây phát triển vì dễ phát
sinh bệnh trên lá.
Giống
Các giống địa phương trồng phổ biến. Hai giống được ưa chuộng nhất là:
- Giống Bí Vàm Răng: Trồng phổ biến ở Kiên Giang, Cần Thơ, Sóc
Trăng. Trái tròn dẹp, có khía, nặng 3 - 5 kg, trái già màu vàng, vỏ hai da, thịt
dầy, dẻo, màu vàng tươi, phẩm chất ngon.
- Giống Bí trái dài Ban Mê Thuột: Trồng phổ biến ở miền Đông Nam Bộ
và cao nguyên. Trái bầu dục dài, nặng 1 - 2 kg, vỏ vàng xanh hay vàng, trơn
láng hay sần sùi, thịt mỏng, màu vàng tươi đến vàng cam, ít dẻo, ngon ngọt.
2. Thời vụ trồng
Bí đỏ trồng được quanh năm, tùy theo điều kiện đất và nước từng nơi mà
bố trí trồng mùa khô hay mùa mưa. Mùa khô gieo tháng 11 - 12 dương lịch, thu
hoạch tháng 3 - 4 dương lịch; mùa mưa gieo tháng 5 - 6, thu hoạch tháng 8 - 9
dương lịch.
24
3. Làm đất, Gieo hạt
Bí đỏ rất dễ trồng không kén đất, có thể trồng trên đất bờ hoặc đất ruộng
sau mùa lúa, nhưng tốt nhất là đất mới khai phá. Kỹ thuật làm đất bí tương tự
như làm đất trồng dưa hấu. Đất được cuốc lên líp đôi, khoảng cách giữa 2 tim
mương 5 - 6 m, mương rộng 0,4 - 0,6 m, mặt luống rộng 0,7 m, cao 0,2 - 0,3 m,
khoảng cách cây trên luống 0,5 - 0,7 m, mật độ 5.500 - 7.500 cây/ha.
Hạt gieo thẳng hoặc gieo trong bầu, thường ngâm ủ cho nẩy mầm trước khi
gieo. Lượng giống gieo 1 - 1,5 kg/ha tùy giống. Cây con đem trồng có 1 - 2 lá
Phân 16-16-8
600
200
200
200
Uree (kg)
250
250
DAP (kg)
150
120
30
KCl (kg)
100
100
NSKT: Ngày sau khi gieo
25
Ngoài lượng phân trên có thể phun phân qua lá định kỳ 7-10 ngày/lần như
Bayfolan, HVP, Komix, Bioted với nồng độ khuyến cáo trên nhản chai thuốc