TIỀM NĂNG sản XUẤT TRÁI cây hữu cơ ở ĐỒNG BẰNG SÔNG cửu LONG - Pdf 14

TIỀM NĂNG SẢN XUẤT TRÁI CÂY HỮU CƠ Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
GS. TS. Nguyễn Bảo Vệ
Trường Đại học Cần Thơ
TÓM TẮT
An toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường và bảo vệ sức khỏe của người tiêu dùng và của cả
nhà nông đã thúc đẩy con người canh tác trái cây hữu cơ. Sản xuất trái cây hữu cơ chủ yếu là dựa
vào luân canh, sử dụng phân chuồng, phân xanh, vi sinh, đá nghiền có chứa dưỡng chất và áp
dụng biện pháp phòng trừ sâu bệnh bằng sinh học và thuốc trích từ thảo mộc, để canh tác. Sản
xuất trái cây hữu cơ có thể cho năng suất thấp chi phí cao nhưng lại có hiệu quả kinh tế cao trên
một đơn vị diện tích nhờ bán được giá cao. Nhiều vùng đất của Đồng bằng sông Cửu Long có
thể áp dụng những biện pháp canh tác trái cây hữu cơ như đất không hóa chất, màu mỡ, có giống
kháng sâu bệnh, chống chịu tốt với điều kiện của môi trường; nguồn nước tưới đầy đủ, không
phèn, mặn và có kỹ thuật tưới, không tạo điều kiện cho sâu bệnh phát triển, khống chế cỏ dại
bằng biện pháp canh tác như tủ liếp, làm cỏ bằng tay hay cơ giới, bổ sung dinh dưỡng khoáng và
chất kích thích sinh trưởng bằng phân chuồng, phân xanh, đá nghiền và vi sinh vật; quản lý sâu
bệnh và phòng trị bằng biện pháp sinh học, cơ giới, và chất trích thảo mộc. Nông dân Đồng bằng
sông Cửu Long có khả năng và đủ kinh nghiệm để sản xuất trái cây đạt chứng nhận sản phẩm
hữu cơ, tuy nhiên việc hình thành và phát triển chúng còn tùy thuộc giá cả và thị trường.
Từ khóa: Trái cây hữu cơ, biện pháp sinh học, chất trích thảo mộc, phân chuồng, phân xanh.
1- MỞ ĐẦU
Vấn đề an toàn trong thực phẩm cho người tiêu dùng, bảo vệ môi trường sống và bảo vệ sức
khỏe nhà nông đã thúc đẩy con người phải canh tác trái cây hữu cơ. Như vậy, sản xuất trái cây
hữu cơ là để bảo vệ sức khỏe con người, để có môi trường trong sạch và bền vững (Smith-
Spangler et al.,2012), sản xuất trái cây hữu cơ là không sử dụng phân, thuốc và các chế phẩm do
con người tổng hợp. Chỉ dựa vào thiên nhiên như luân canh, sử dụng phân chuồng, phân xanh, vi
sinh, đá nghiền có chứa dưỡng chất và áp dụng biện pháp sinh học phòng trừ sâu bệnh để canh
tác. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là khi sử dụng phân và thuốc có nguồn gốc hữu cơ, sinh
học là hoàn toàn an toàn và không cần chú ý đến những khuyến cáo khi sản xuất, tất cả các loại
phân và thuốc dù ở dưới dạng nào khi sử dụng đều phải cẩn thận và theo hướng dẫn của nhà sản
xuất. Hiện nay, sản xuất trái cây hữu cơ đang phát triển mạnh ở nhiều nước, mục đích chính cũng
là vì sức khoẻ của con người và giữ gìn môi trường trong sạch.

trong đất tốt giúp rễ không bị thiếu oxy và rửa độc chất trong đất cũng dễ dàng. Ở ĐBSCL, đất
phèn chiếm gần một nửa diện tích, đất thấp và có tầng canh tác mỏng (Nguyen Bao Ve and
VoTong Xuân, 1986), cần phải biết cách đào mương lên liếp thì cây ăn trái phát triển mới tốt và
ít sâu bệnh. Lớp đất mặt tơi xốp chứa nhiều hữu cơ ít độc chất được sử dụng làm mặt liếp, tùy
theo điều kiện đất đai và kích thước mương liếp mà có thể chọn các kiểu lên liếp cuốn chiếu hay
ốp bệ (Nguyen Bao Ve and Nguyen Thanh Trieu, 1998). Tuy nhiên,trong canh tác trái cây hữu
cơ, nên hạn chế sử dụng loại đất này.
Đất mặn chiếm gần một phần tư diện tích đất ĐBSCL không nên chọn đất này để canh tác
trái cây hữu cơ vì thiếu nước tưới trong mùa nắng làm cây bị thiếu nước, suy yếu dễ bị sâu bệnh
tấn công. Đặc tính tơi xốp của đất cát trồng rất tốt cho bộ rễ cây ăn trái nhờ dễ thoát nước và
thông thoáng, nhưng đất cát nhiều thường nghèo dinh dưỡng và chất hữu cơ. Đất phù sa ven
những con sông lớn nằm trên địa hình cao, có hàm lượng sét trung bình, không phèn, không mặn
thích hợp cho việc lập vườn sản xuất trái cây hữu cơ ở ĐBSCL (Nguyễn Bảo Vệ, 2002). Nếu đất
sét nặng thì phải bồi trộn thêm cát hay bón nhiều hữu cơ kết hợp với nấm Trichoderma để đất
thông thoáng giúp cho bộ rễ phát triển và hạn chế nấm bệnh trong đất.
Nói chung cây ăn trái không đòi hỏi đất giàu dưỡng chất lắm. Đất có dưỡng chất cân đối, pH
thích hợp và giàu chất hữu cơ là nền tảng để sản xuất trái cây hữu cơ. Trước khi trồng cây ăn trái
cần trồng cây phân xanh, bón phân hữu cơ, đá nghiền, phân rác Trong giai đoạn này, đá vôi có
cần được bón thêm hay không là tùy thuộc vào phân tích đất, dùng đá vôi để nâng pH đất. Hầu
hết cây ăn trái phát triển tốt ở đất có pH từ5,5 đến 7,2, ngoại trừ khóm chịu được đất có pH thấp.
Phân tích đất cũng được dùng để định hướng cho việc bón phân hữu cơvà bột đá hầu tránh mất
cân đối về dinh dưỡng cho việc canh tác trái cây hữu cơ sau này. 2.2. Chọn giống kháng và thích nghi
Để cây ăn trái cho năng suất cao, giống phải thích nghi với điều kiện từng địa phương.
Giống thích hợp giúp cây kháng được sâu bệnh. những nhà chọn và tạo giống đã chọn ra được
những giống kháng, bỏ dần những giống dễ nhiễm sâu bệnh. Cây ăn trái có chu kỳ sinh trưởng
dài, nên nhà vườn hiếm có cơ hội để thay đổi giống mới thường xuyên, vì vậy những giống
kháng và thích nghi phải được chọn lọc kỹ trước khi trồng, nhất là khai thác thế mạnh của gốc

cạn cũng làm cho hạt cỏ ở tầng đất sâu không có cơ hội được mang lên mặt đất để nẩy mầm, vì
vậy giảm được áp lực cỏ dại. Làm cỏ giữa hàng cây, kết hợp với xới cạn và rải cỏ khô dưới tán
cây sẽ làm giảm sự nén dẽ và rửa trôi đất, đồng thời cũng để nuôi dưỡng sinh vật đất phù hợp
cho sản xuất trái cây hữu cơ ở ĐBSCL.
- Ở ĐBSCL, đất có hàm lượng sét cao nên dễ bị bí chặt và lèn mặt, nhất là vào mùa mưa,
nên biện pháp trồng cây che phủ trong vườn cây ăn trái để diệt cỏ kết hợp cải tạo đất cần được
quan tâm. Trồng cây họ đậu (nhưcỏkudzu) dưới tán cây rất tốt, chống xói mòn và cung cấp
lượng đạm rất có ý nghĩa cho cây ăn trái hữu cơ. Trồng cây họ đậu hay cỏ trên liếp làm cho đất
thấm rút tốt hơn, làm gia tăng chất hữu cơ và khả năng giữ nước của đất. Trồng cây che phủ còn
có lợi là làm nơi trú ẩn và cung cấp thức ăn cho những côn trùng có lợi (thiên địch). Tuy nhiên,
cũng có một vài loại cây che phủ quyến rũ làm gia tăng bệnh và côn trùng cần tránh. Trồng cỏ họ
hòa bản trên đất liếp vườn giúp cho bộ rễ cây ăn trái được thông thoáng, nhất là trong mùa mưa
dầm nó hút ra khỏi đất và mang oxy vào trong đất.
- Phủ liếp cũng là biện pháp diệt cỏ dại: Phủ mặt liếp với rơm rạ, lá cây mục, mùn cưa, trấu,
màng phủ nông nghiệp làm giảm cỏ. Tùy theo từng loại cây mà chọn vật liệu phủ liếp cho phù
hợp. Phủ bằng vật liệu hữu cơ giúp đất có cấu trúc, tăng khả năng sử dụng nước và cung cấp
dinh dưỡng rất phù hợp cho sản xuất trái cây hữu cơ. Xác bã thực vật phủ liếp như rơm rạ, cỏ
mục phải được ủ oai mục diệt hạt cỏ. Phủ bằng plastic giúp rễ cây phát triển gần mặt đất, chống
úng. Khi phủ liếp, không phủ sát gốc cây để hạn chế bệnh gốc.
2.5. Quản lý độ phì của đất
Cung cấp thêm dưỡng chất cho đất là để cải thiện độ phì của đất và cũng để cải thiện năng
suất cây trồng. Cải thiện độ phì của đất đòi hỏi thời gian, phải mất nhiều năm và làm liên tục.
Trái cây cấu tạo chủ yếu là nước, nên so với những loại cây trồng khác thì cây ăn trái lấy dưỡng
chất của đất ít hơn, chính vì vậy mà lượng dưỡng chất cần thiết cho cây ăn trái có thể được thoả
mãn nhờ vào phân bón hữu cơ. Vôi và những loại bột đá chứa dưỡng chất chậm tan có thể được
áp dụng trước khi trồng (Nguyễn Bảo Vệ, 2013).
Chọn loại phân hữu cơ, số lượng và thời kỳ bón là một khoa học:
- Chất hữu cơ sử dụng thường là bán hay chưa phân hủy, cần phải được bón sớm trước khi
trổ hoa khoảng 1-2 tháng.
- Bón chất hữu cơ trên mặt liếp làm mất đạm. Tuy nhiên nếu trộn bằng cách xới xáo đất dễ

Hầu hết đất ở ĐBSCL đều chua, độ pH thấp (Nguyễn Bảo Vệ, 1991) làm cho sự hữu dụng
của Ca ít đi, ngoài ra địa hình cao của đất liếp làm cho dưỡng chất Ca dễ bị rửa trôi, do đó, cần
bón bổ sung Ca cho vườn cây ăn trái. Trong sản xuất trái cây hữu cơ thì đá vôi nghiền, vỏ sò là
nguồn cung cấp chất Ca khá tốt.
- Chất Mg:
Cũng giống như Ca, chất Mg ít ở dạng hữu dụng trong đất chua của ĐBSCL và cũng dễ bị
rửa trôi ở đất liếp, do đó cũng cần được bón bổsung cho vườn cây ăn trái. Bột đá Dolomite
nghiền mịn có chứa nhiều Mg được dùng để cung cấp thêm Mg cho đất vườn sản xuất trái cây
hữu cơ.
- Nguyên tố vi lượng:
Triệu chứng thiếu một số nguyên tố vi lượng trên cây ăn trái được tìm thấy ở ĐBSCL như
Zn, Mn, Dùng nước cá ủ phun cho cây là biện pháp cung cấp nguyên tố vi lượng trong sản xuất
trái cây hữu cơ.
2.6. Sử dụng chất kích thích sinh trưởng
Chất kích thích sinh trưởng tựnhiên không bị cấm sử dụng trong sản xuất trái cây hữu cơ
như: Chất trích từ rong biển ,những enzyme có trong thiên nhiên, vi sinh vật, rong tảo, chất trích
Humic acid từ vật liệu hữu cơ (Nguyen Bao Ve et al.,2004, Đỗ Minh Nhựt và Nguyễn Bảo Vệ,
1999), hormone có trong rễ cây, chất dính.
2.7. Một số biện pháp kỹ thuật canh tác khác
Trồng cây ăn trái với mật độ thưa cho thấy áp lực sâu bệnh giảm rất đáng kể nhờ gió lưu
thông tốt trong tán cây làm giảm thời gian ẩm ướt của lá, vì vậy trong canh tác trái cây hữu cơ
phải thường xuyên xén tỉa cho thưa phần dưới tán để gió dễ lưu thông và xuyên qua tán cây. Tỉa
bỏ những nhánh mọc là đà trên mặt đất cũng giúp hạn chế sâu bệnh vì cắt đứt cầu nối mầm sâu
bệnh giữa đất và tán cây. Khi đào mương lên liếp, chọn hướng liếp Tây Bắc - Đông Nam, đây là
hướng gió chính trong năm, gió theo mương vườn lan toả vào tán cây giúp vườn cây ít sâu bệnh
hơn (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2011).
Những giống cho thu hoạch trái sớm thường ít bịáp lực của sâu bệnh hơn là những giống thu
hoạch muộn. Trồng cây xua đuổi cũng phòng ngừa được một vài loại sâu bệnh.
Tuy nhiên, trồng dưới tán cây thiếu ánh sáng là một trởngại cho sự phát triển của cây xua
đuổi. Trồng cây xua đuổi thành hàng giữa những tán và chung quanh vườn có lẽ dễ dàng hơn.

- Những cành gần mặt đất, nhất là khi mang trái, phải được cắt bỏ để côn trùng và bệnh từ
đất không có cầu nối lên cây.
- Xịt mạnh nước để rửa rầy mềm và rệp.
- Sâu kèn có thể dùng phương pháp đốt, đặc biệt là vào sáng sớm hay thật muộn vào buổi
chiều lúc sâu có ở trong kèn. Cắt bỏ cành để loại sâu kèn cũng là biện pháp hữu hiệu.
- Làm vệ sinh phần thân cành cây bị bệnh cũng là phương pháp cơ học hữu hiệu cho ở một
vài loại bệnh.
- Dùng bẩy côn trùng, dùng máy hút, ánh sáng cực tím để hấp dẫn và giết nhiều loại côn
trùng bay cũng hữu hiệu.
- Dùng chất dẫn dụpheromone để côn trùng rơi vào bẩy (bẩy kín hay bẩy hở).
3.3. Thuốc sát trùng có nguồn gốc thiên nhiên
Trên cây ăn trái, một vài loại sâu bệnh sẽ gia tăng mật số nhanh chóng ở một thời điểm nhất
định nào đó trong năm, cần phải được trị ngay nếu không sẽ gây hại cây và trái. Một số loại
thuốc sát trùng được xếp vào loại có nguồn gốc thiên nhiên thích hợp cho việc sản xuất trái cây
hữu cơ là:
- Dung dịch trích từ những cây gia vị như hạt tiêu, củ gừng, nghệ, tỏi,… được dùng làm
thuốc sát trùng (Nguyễn Thị Xuân Thu và ctv., 2008).
- Dầu khoáng được xem là thuốc có nguồn gốc thiên nhiên trị khá hữu hiệu trên rệp sáp, sâu
vẽ bùa, bù lạch, bệnh đốm mỡ trong vườn cam quýt.
- Tất cả thuốc sát trùng thực vật trích từ cây xoan Ấn Độ (Melia azedarach), cúc lá nhỏ
(pyrethrum), dây thuốc cá (Derris elliptica), hạt bình bát (Annona reticulata),… có thể được dùng
làm thuốc sát trùng.
- Có nhiều loại bột đá cũng hữu hiệu phòng trừ một vài loại sâu bệnh được chấp nhận trong
sản xuất trái cây hữu cơ như thuốc trừ nấm bệnh gốc đồng, gốc lưu huỳnh thiên nhiên và gồm cả
lưu huỳnh nguyên tố.
- Dùng chlorine để tẩy trùng và những chất vi lượng như Zn cũng được công nhận trong sản
xuất trái cây hữu cơ.
3.4. Áp dụng quản lý dịch hại tổng hợp IPM
Để áp dụng thành công IPM nhà vườn phải có đủ kiến thức về cây trồng và sâu bệnh, nông
dân ĐBSCL làm được điều nầy (Nguyễn Văn Huỳnh và ctv., 2009). Nhận biết được dịch hại và

dấu xác nhận. Trong tiêu chuẩn phải phân định rõ quy trình kỹ thuật và vật liệu nào được áp
dụng và những kỹ thuật và vật liệu nào cấm sử dụng, định kỳ kiểm tra việc thực hiện.
Mỗi loại cây ăn trái đều có mức độ nhiễm sâu bệnh khác nhau. Để giúp nhà vườn định
hướng sản xuất, cần xác định rõ khả năng sản xuất trái cây hữu cơ cho từng loại cây để nhà vườn
chọn lựa. Cần phải xây dựng quy trình canh tác hữu cho từng loại trái cây đã chọn để đạt tiêu
chuẩn trái cây hữu cơ theo quy định.
6. KẾT LUẬN
Đồng bằng sông Cửu Long có đủ điều kiện để áp dụng những biện pháp canh tác trái cây
hữu cơ như có vùng đất trồng không độc chất, màu mỡ, có giống kháng sâu bệnh, chống chịu tốt
điều kiện bất lợi của môi trường, nguồn nước tưới đầy đủ, không độc chất và kỹ thuật tưới không
kích thích sâu bệnh phát triển, khống chế được cỏ dại bằng biện pháp canh tác như tủ liếp và làm
cỏ bằng cơ giới, bổ sung dinh dưỡng khoáng và chất kích thích sinh trưởng cho cây bằng phân
hữu, phân xanh đá nghiền và vi sinh vật; quản lý sâu bệnh và phòng trị bệnh bằng biện pháp sinh
học, cơ giới, và chất trích thảo mộc.
Nông dân Đồng bằng sông Cửu Long có đủ khả năng và kinh nghiệm để sản xuất trái cây
đạt chứng nhận sản phẩm hữu cơ, tuy nhiên, giá cả và thị trường sẽ quyết định sự phát triển trái
cây hữu cơ ở vùng này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Blair, R. 2012. Organic Production and Food Quality.A Down to Earth Analysis. Wiley-
Blackwell, Oxford, UK.
Đỗ Minh Nhựt và Nguyễn Bảo Vệ. 1999. Hàm lượng và đặc tính của Humic acid trích từ đất
than bùn Kiên Giang. Tạp chí Nông nghiệp & công nghiệp thực phẩm 8/1999. Trang
344-346.
Nguyen Bao Ve and Nguyen Thanh Trieu. 1998. Soils of the Mekong Delta in relation to raised
bed construction for fruit tree cultivation.In: Proceedings of the first symposium on fruit
production in the Mekong Delta focussing on integrated pest management. Can Tho,
Vietnam. Pag. 1-6.
Nguyen Bao Ve and Vo Tong Xuan. 1986. Characterization, constraints and extent of acid
sulfate soils of Asia. Project Design Workshop for Developing Collaboration Research
Program for the Improvement of Rice Yields in Problem Soils, IRRI. Los Banos. The

foods safer or healthier than conventional alternatives?: A systematic review. Annals of
Internal Medicine 157 (5): 348–366.
Trần Thị Ba. 2005. Ảnh hưởng của màng phủ nông nghiệp đến sự thay đổi tiểu môi trường, hiện
diện của côn trùng, gia tăng năng suất và phẩm chất dưa hấu ở Đồng bằng sông Cửu
Long. Luận án tiến sĩ chuyên ngành trồng trọt. Trường Đại Học Cần Thơ.
Trần Văn Hai, Trịnh Thị Xuân và Phạm Kim Sơn. 2009. Khảo sát đặc tính sinh học sâu xếp lá
đậu Archips micacerana Walker và hiệu lực của một số chủng nấm xanh Metarhizium
anisopliae Sorokin đối với dịch hại này tại trà Vinh. Tạp chí Khoa học Trường Đại học
Cần Thơ11: 54-62.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status