Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Lê Tuấn Mãnh
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THẤT THU THUẾ
VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC PHÒNG,
CHỐNG THẤT THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ THUẾ THU
NHẬP DOANH NGHIỆP
1.1. TỔNG QUAN VỀ THẤT THU THUẾ…………………………………… 1
1.1.1. Khái niệm………………………………………………… 1
1.1.2. Hậu quả của thất thu thuế………………………………………………….3
1.2. SỰ CẦN THIẾT PHẢI TĂNG CƯỜNG PHÒNG,
CHỐNG THẤT THU THUẾ ĐỐI VỚI
CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ DÂN DOANH……………………………… 4
1.2.1. Sự cần thiết phải phòng, chống thất thu thuế giá trị gia tăng
và thuế thu nhập doanh nghiệp………………………………………………… 4
1.2.1.1.) Xuất phát từ tầm quan trọng
của thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp……… ……………….…4
1.2.1.2.) Thực trạng quản lý thuế ở nước ta vẫn còn nhiều hạn chế
gây thất thu lớn cho ngân sách nhà nước…………… ……………………………5
1.2.1.3.) Xuất phát từ các thành phần kinh tế dân doanh……… ………………….7
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THẤT THU VÀ CHỐNG THẤT THU THUẾ
GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP Ở CHI
CỤC THUẾ THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỪ NĂM 2011 ĐẾN NĂM 2013
2.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐỊA PHƯƠNG………………………… … 8
SVTH: Hồ Anh Thư Lớp K7-TCNN
1
SVTH: Hồ Anh Thư Lớp K7-TCNN
2
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Lê Tuấn Mãnh
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC
PHÒNG, CHỐNG THẤT THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ THUẾ
THU NHẬP DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ
DÂN DOANH TẠI CHI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ SA ĐÉC
3.1. MỤC TIÊU CỦA CÔNG TÁC TĂNG CƯỜNG PHÒNG,
CHỐNG THẤT THU THUẾ…………… ………………………………………49
3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC PHÒNG,
CHỐNG THẤT THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ THUẾ THU NHẬP
DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ DÂN DOANH
TẠI CHI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ SA ĐÉC…………………………… …50
3.2.1. Tăng cường công tác tuyên truyền,
hỗ trợ người nộp thuế……………………………… …………………………50
3.2.2. Tổ chức tốt công tác cán bộ…………………………… ………………52
3.2.3. Tăng cường sự phối hợp với các cơ quan có liên quan….…………… 53
3.3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ………………………………………53
3.3.1. Tăng cường quản lý người nộp thuế……………………………………53
3.3.2. Quản lý chặt chẽ căn cứ tính thuế………………………………………54
3.3.3. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra……………………………….57
3.3.4. Xử lý nhanh, gọn các khoản nợ thuế……………………………………58
KẾT LUẬN
PHẦN MỞ ĐẦU
SVTH: Hồ Anh Thư Lớp K7-TCNN
3
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Lê Tuấn Mãnh
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Thuế không chỉ là công cụ quan trọng của nhà nước để quản lý nền kinh tế mà
còn là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách nhà nước. Thông qua việc thu thuế nhà, nước
đối với các thành phần kinh tế dân doanh ở Chi cục Thuế thành phố Sa Đéc từ năm
2011 đến năm 2013, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực phòng,
chống thất thu thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các thành
phần kinh tế dân doanh tại Chi cục Thuế thành phố Sa Đéc.
Do kiến thức còn nhiều hạn chế nên trong quá trình thực hiện khóa luận tốt
nghiệp không thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được nhiều ý kiến
góp ý, đánh giá của quí thầy cô về bài viết này nhằm giúp em bổ sung và học hỏi
thêm nhiều kiến thức hơn nữa.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:
Phân tích thực trạng thất thu và chống thất thu thuế giá trị gia tăng và thuế thu
nhập doanh nghiệp đối với các thành phần kinh tế dân doanh ở Chi cục Thuế thành
phố Sa Đéc từ năm 2011 đến năm 2013.
Đối chiếu với sự cần thiết phải tăng cường công tác phòng, chống thất thu thuế
giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp từ đó đề xuất những giải pháp nhằm
nâng cao năng lực phòng, chống thất thu thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh
nghiệp đối với các thành phần kinh tế dân doanh tại Chi cục Thuế thành phố Sa Đéc.
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Đề tài này được thực hiện dựa vào số liệu từ hệ thống dữ liệu ngành thuế và
một số văn bản hướng dẫn về thuế GTGT và huế TNDN của ngành, vận dụng các
phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê và trao đổi với các cán bộ công
chức của bộ phận chuyên môn trong cơ quan.
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU :
* Đối tượng nghiên cứu: là giải pháp nhằm nâng cao năng lực phòng, chống
thất thu thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các thành phần
kinh tế dân doanh tại Chi cục Thuế thành phố Sa Đéc tỉnh Đồng Tháp.
SVTH: Hồ Anh Thư Lớp K7-TCNN
5
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Lê Tuấn Mãnh
* Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Tại Chi cục Thuế thành phố Sa Đéc tỉnh Đồng Tháp.
Dạng thất thu thuế là những biểu hiện bên ngoài của thất thu thuế theo những
tiêu thức nhất định. Do đó có thể khái quát các dạng thất thu thuế cơ bản như sau:
* Thất thu thuế do không bao quát hết số cơ sở sản xuất, kinh doanh: nguyên
nhân này do các cơ sở sản xuất, kinh doanh không đăng ký kinh doanh, không đăng ký
mã số thuế hoặc đăng ký kinh doanh nhưng chưa đăng ký mã số thuế mà vẫn tiến hành
sản xuất, kinh doanh. Hoặc cũng có thể do các cơ sở này xin tạm nghỉ kinh doanh, giải
thể kinh doanh nhưng thực tế vẫn tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh.
* Nhiều đối tượng cố tình kê khai không đúng số thuế phải nộp theo quy định
của pháp luật cũng như thực tế mà họ đang kinh doanh. Các doanh nghiệp cũng như
các hộ kinh doanh nộp thuế theo kê khai thấp hơn so với số thuế thực tế phải nộp
bằng cách khai tăng chi phí, giảm doanh thu thậm chí kê khai sai thuế suất.
* Thất thu từ hoạt động xây dựng, du lịch lữ hành, vận tải tư nhân, cho thuê
nhà nghỉ còn lớn. Do nhà nước ta chưa có các quy định cụ thể để quản lý các hoạt
động này có hiệu quả. Cũng chính vì vậy mà các cá nhân, các hộ kinh doanh, các
doanh nghiệp thường không khai báo, không đăng ký nộp thuế nhằm trốn, tránh
nghĩa vụ nộp thuế với nhà nước.
* Thất thu do chưa bao quát hết thu nhập của người nộp thuế cũng như số
lượng người phải nộp thuế thu nhập cá nhân. Hiện nay, số lượng người lao động
hành nghề tự do ở nước ta còn lớn, thu nhập của người lao động ở nước ta có từ
nhiều nguồn thu khác nhau và thường lớn hơn nhiều so với quỹ lương nhưng nhà
SVTH: Hồ Anh Thư Lớp K7-TCNN
7
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Lê Tuấn Mãnh
nước chỉ có thể quản lý được phần thu nhập thông qua quỹ lương mà các cơ quan,
đơn vị chi trả, còn những khoản thu nhập từ các nguồn khác thì chưa có biện pháp
quản lý hiệu quả.
Do đó, tình trạng thất thu thuế như trên có thể đề cập đến một số nguyên nhân
chủ yếu như sau:
+ Do xuất phát từ người nộp thuế: Trong lịch sử phát triển của xã hội nhà nước
ra đời là tất yếu khách quan trong xã hội có giai cấp. Để có thể đảm bảo quyền lợi
80% vào ngân sách (trừ thu từ dầu). Thông qua việc thu thuế, nhà nước tập trung một
phần nguồn lực xã hội để duy trì hoạt động bộ máy nhà nước, tuy nhiên khi xảy ra tình
trạng thất thu thuế thì nguồn thu của nhà nước sẽ giảm đi, khi đó sẽ ảnh hưởng đến kế
hoạch chi tiêu của nhà nước. Đứng trước tình hình đó nhà nước buộc phải:
- Giảm bớt các khoản chi đã dự định: Khi đó kế hoạch của nhà nước sẽ phải
thay đổi, do vậy các chỉ tiêu về kinh tế, xã hội có thể sẽ không đạt được như kế hoạch
đã đề ra.
- In thêm tiền chi tiêu để thực hiện theo kế hoạch đã đề ra: Khi đó lượng tiền
đưa vào lưu thông quá nhiều sẽ dẫn đến tình trạng lạm phát ảnh hưởng nghiêm
trọng tới sự ổn định và phát triển của đất nước.
- Vay nợ của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước: Khi đó sẽ để lại gánh
nặng nợ trong tương lai nhất là khi các khoản đầu tư này không mang lại hiệu quả
như mong muốn.
* Ảnh hưởng đến việc điều chỉnh, định hướng cơ cấu nền kinh tế:
Thông qua chính sách thuế nhà nước có thể điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế theo
vùng, theo lãnh thổ, theo lĩnh vực đảm bảo sự phát triển hài hòa, đồng đều giữa các
vùng trong cả nước.
* Ảnh hưởng đến mọi mặt của xã hội:
- Một trong những mục tiêu của thuế là đảm bảo công bằng xã hội. Thế nhưng
khi xảy ra tình trạng thất thu thuế thì có doanh nghiệp nhà nước thu đủ thuế, có
doanh nghiệp nhà nước chỉ thu được một phần thuế, thậm chí có doanh nghiệp nhà
nước không thu được thuế do đó sẽ có sự không công bằng trong việc thực hiện
nghĩa vụ thuế đối với nhà nước. Ngoài ra thông qua thu thuế, nhà nước có nguồn tài
chính để thực hiện phân bổ lại của cải xã hội. Ví dụ như xây dựng cơ sở hạ tầng cho
vùng còn khó khăn, chi trợ cấp cho người nghèo…nhưng khi thất thu thuế xảy ra thì
nhà nước có thể sẽ không có khả năng để thực hiện.
- Bên cạnh đó khi xảy ra tình trạng thất thu thuế còn tạo ra sự cạnh tranh
không lành mạnh giữa các doanh nghiệp, những doanh nghiệp gian lận được thuế sẽ
SVTH: Hồ Anh Thư Lớp K7-TCNN
9
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Lê Tuấn Mãnh
được phân chia theo tỷ lệ vốn góp, loại hình công ty được tổ chức gồm hội đồng quản
trị, ban giám đốc, ban kiểm soát và dưới đó là các bộ phận trực tiếp sản xuất kinh
doanh. Công ty có 2 loại đó là công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần.
+ Công ty trách nhiệm hữu hạn có từ 2 thành viên trở lên chỉ chịu trách nhiệm
trong phạm vi vốn góp của mình trong công ty.
+ Công ty cổ phần gồm ít nhất là ba thành viên, thành lập do sự góp vốn của các
cổ đông mỗi cổ đông chỉ chịu trách nhiệm theo phần vốn góp của mình trong công ty.
- Hợp tác xã là đơn vị kinh tế do nhiều lao động tự nguyện tham gia góp vốn
để tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh. Hợp tác xã hoạt động theo nguyên tắc
dân chủ, bình đẳng đối với mọi xã viên nhằm kết hợp sức mạnh của tập thể xã viên,
ban chủ nhiệm hợp tác xã có trách nhiệm quản lý mọi hoạt động của hợp tác xã.
- Doanh nghiệp tư nhân: Doanh nghiệp tư nhân là đơn vị kinh tế do một người
đứng ra tổ chức và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình, trong quá trình
hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.
- Cá nhân, hộ cá thể kinh doanh có mức vốn thấp hơn mức vốn pháp định của
doanh nghiệp tư nhân, họ tự bỏ vốn ra kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về kết quả
kinh doanh của mình, bộ phận kinh tế tư nhân cá thể này chiếm một số lượng lớn
trong khu vực các thành phần kinh tế dân doanh.
Chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước ta hiện nay đã tạo điều kiện thuận
lợi cho các thành phần kinh tế dân doanh ngày càng phát triển, đặc biệt trong giai
đoạn hiện nay Nhà nước ta thực hiện cổ phần hoá một số doanh nghiệp nhà nước
làm cho các thành phần kinh tế dân doanh càng khẳng định được vị trí của mình
trong nền kinh tế.
1.2.1.2.) Đặc điểm của các thành phần kinh tế dân doanh:
Một là: Các thành phần kinh tế dân doanh có quy mô hoạt động sản xuất kinh
doanh nhỏ, tham gia vào tất cả các lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Các tổ chức các
thành phần kinh tế dân doanh ở nước ta được hình thành chủ yếu do một số tư nhân
cá thể tự bỏ vốn ra để tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh, một phần được hình
SVTH: Hồ Anh Thư Lớp K7-TCNN
đội ngũ làm công tác quản lý điều hành. Cho nên, ngoại trừ một số ít các thành phần
kinh tế dân doanh đứng vững trong nền kinh tế thị trường, hoạt động sản xuất kinh
SVTH: Hồ Anh Thư Lớp K7-TCNN
12
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Lê Tuấn Mãnh
doanh có hiệu quả thì nhiều các thành phần kinh tế dân doanh phải rất khó khăn mới
duy trì được hoạt động sản xuất kinh doanh của mình trong sự cạnh tranh khốc liệt
của nền kinh tế thị trường.
1.2.1.3. Vai trò của các thành phần kinh tế dân doanh:
a) Các thành phần kinh tế dân doanh thu hút lao động trong xã hội, góp phần
làm giảm tỷ lệ thất nghiệp.
Từ khi thực hiện chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần,
nhiều tổ chức các thành phần kinh tế dân doanh được thành lập, đặc biệt trong
những năm gần đây các tổ chức thành phần kinh tế dân doanh ngày càng phát triển
mạnh mẽ cả về số lượng cũng như quy mô hoạt động do đó đã thu hút được một
khối lượng lớn lao động trong xã hội tham gia vào hoạt động SXKD ở khu vực kinh
tế này, làm giảm đáng kể tỷ lệ người lao động không có việc làm trong xã hội.
b) Các thành phần kinh tế dân doanh đã tạo ra một khối lượng lớn của cải vật
chất cho xã hội, góp phần làm tăng thêm nguồn thu cho ngân sách Nhà nước.
Trong nền kinh tế thị trường với tính năng động, sáng tạo của mình, các thành
phần kinh tế dân doanh đã có nhiều đóng góp cho nền kinh tế, tạo ra được một khối
lượng lớn hàng hoá dịch vụ đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu
ra nước ngoài, làm tăng kim ngạch xuất khẩu. Với các khoản đóng góp cho ngân sách
nhà nước thì đóng góp của các thành phần kinh tế dân doanh cho ngân sách nhà nước
cũng rất lớn, trong những năm gần đây trong tổng thu ngân sách nhà nước thì chiếm
tới gần 40% là thu từ các thành phần kinh tế dân doanh, do vậy để khơi tăng nguồn
thu ngân sách từ khu vực các thành phần kinh tế dân doanh Nhà nước cần phải tạo
môi trường cho các thành phần kinh tế phát triển, coi trọng việc đầu tư vào cơ sở hạ
tầng để các tổ chức kinh tế này mở rộng liên doanh với các doanh nghiệp trong và
ngoài nước, thúc đẩy sản xuất phát triển.
hội của mình.
1.2.2.2.) Thực trạng quản lý thuế ở nước ta vẫn còn nhiều hạn chế gây thất thu lớn
cho ngân sách nhà nước:
Số lượng các thành phần kinh tế dân doanh ở nước ta tăng nhanh trong những
năm gần đây. Năm 2011 mới chỉ có 166.440 đơn vị doanh nghiệp của các thành
phần kinh tế dân doanh thì đến năm 2012 đã lên tới 173.625 đơn vị doanh nghiệp và
đến năm 2013 đã là 178.938 đơn vị doanh nghiệp. Tuy nhiên trên thực tế không
SVTH: Hồ Anh Thư Lớp K7-TCNN
14
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Lê Tuấn Mãnh
phải các thành phần kinh tế dân doanh nào cũng đăng ký kinh doanh, hoặc có đăng
ký kinh doanh nhưng không đăng ký mã số thuế ngay do vậy đã gây ra không ít khó
khăn cho cơ quan thuế trong việc quản lý đối với các doanh nghiệp này.
Mặc dù đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần nhưng luật thuế GTGT và TNDN ở
nước ta vẫn còn hạn chế, bất cập chính vì vậy đã tạo kẽ hở cho một số doanh nghiệp
mà chủ yếu là các thành phần kinh tế dân doanh lợi dụng để lách luật nhằm mưu lợi
cho riêng mình không những làm mất nguồn thu cho NSNN mà còn gây mất ổn
định cho nền kinh tế. Hiện nay cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, các
giao dịch trên thị trường ngày càng phức tạp, các hoạt động gian lận về thuế do vậy
cũng diễn ra ngày càng tinh vi và phức tạp rất khó phát hiện.
* Trong luật thuế GTGT: Đặc điểm nổi bật của thuế GTGT là việc khấu trừ
đầu vào được thực hiện căn cứ trên hóa đơn mua vào do đó tạo điều kiện cho việc
thu thuế ở khâu sau đó. Tuy nhiên để thực hiện đòi hỏi phải quản lý được công tác
ghi chép hóa đơn, sổ sách phải rõ ràng, minh bạch. Bên cạnh đó đòi hỏi ý thức chấp
hành pháp luật của người nộp thuế phải cao. Song các doanh nghiệp nhất là các
thành phần kinh tế dân doanh với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, các doanh nghiệp
này thường tìm cách trốn, tránh thuế và một trong những cách đó là tăng số tiền
thuế khấu trừ đầu vào không có thật. Ngoài ra lợi dụng chính sách hoàn thuế nhiều
doanh nghiệp đã lập hồ sơ khống xin hoàn thuế với số thuế lên tới hàng chục tỷ
đồng, số tiền này rất khó có thể thu hồi lại được. Hiện nay với cơ chế tự khai, tự
thuế và quy trình nộp thuế vì vậy nếu không có chính sách thuế hợp lý, cơ chế ràng
buộc chặt chẽ, chế tài xử lý nghiêm thì họ thường sử dụng các biện pháp tinh vi để
trốn, tránh thuế.
- Yếu tố tâm lý của các doanh nghiệp: Bên cạnh đó là tâm lý lo lắng về khả
năng xảy ra vi phạm pháp luật thuế như tính toán sai thu nhập chịu thuế, thanh toán
không đúng làm cho họ ngại khi đến cơ quan thuế nộp thuế.
- Ngoài ra còn có một số yếu tố khác như: Lãi suất thị trường, lãi suất ngân
hàng cũng ảnh hưởng đến quyết định tuân thủ, trì hoãn, hay không tuân thủ thuế.
Khi lãi suất tăng cao doanh nghiệp sẽ trì hoãn việc nộp thuế hoặc có khả năng trốn,
tránh thuế. Hay như tình trạng lạm phát quá cao sẽ ảnh hưởng tới mức sinh lợi từ
hoạt động sản xuất kinh doanh do vậy cũng có thể ảnh hưởng tới việc tuân thủ
nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp.
SVTH: Hồ Anh Thư Lớp K7-TCNN
16
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Lê Tuấn Mãnh
Sự vi phạm dù là vô tình hay cố ý đều có ảnh hưởng xấu đến nhiều khía cạnh
của đất nước. Do đó có thể nói sự tăng cường công tác chống thất thu thuế đối với
các doanh nghiệp đặc biệt là các thành phần kinh tế dân doanh là vô cùng cần thiết
để góp phần làm tăng thu cho NSNN, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các
doanh nghiệp cũng như các thành phần khác trong nền kinh tế, phát huy và nâng
cao vai trò điều tiết, định hướng kinh tế của nhà nước, góp phần đưa chính sách
thuế vào cuộc sống để cho các sắc thuế nói chung cũng như hai sắc thuế GTGT và
TNDN nói riêng không chỉ là công cụ đắc lực của nhà nước trong điều tiết nền kinh
tế mà còn góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển.
SVTH: Hồ Anh Thư Lớp K7-TCNN
17
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Lê Tuấn Mãnh
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG THẤT THU VÀ PHÒNG, CHỐNG THẤT THU
THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ THUẾ THU NHẬP DOANH
nghề đa dạng, lưu thông hàng hóa trong và ngoài khu vực ngày càng ổn định.
Năm 2013 thành phố Sa Đéc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội trong
điều kiện toàn tỉnh Đồng Tháp nói chung và tại địa phương thành phố Sa Đéc nói
riêng còn gặp những khó khăn nhất định: tình hình thiên tai, dịch bệnh xảy ra nhiều
nơi; giá trị sản xuất công nghiệp−tiểu thủ công nghiệp có tăng trưởng nhưng chưa
thật sự ổn định và bền vững; du lịch thành phố chưa phát triển; việc ứng dụng tiến bộ
khoa học trong sản xuất nông nghiệp còn hạn chế; tình hình gạo xuất khẩu giảm so
năm trước do ảnh hưởng giá cả và nguồn gạo nguyên liệu thường xuyên biến động;
tình hình giá cả các mặt hàng tiêu dùng tăng mạnh làm sức mua của người dân bị hạn
chế; tình hình vi phạm về an ninh trật tự và an toàn giao thông vẫn còn diễn ra trên
địa bàn thành phố. Trước những khó khăn chung của địa phương, cấp Ủy và Uỷ ban
nhân dân thành phố Sa Đéc đã tập trung công tác chỉ đạo, điều hành đối với các
ngành, các cấp và lãnh đạo nhân dân từng bước khắc phục khó khăn, phát huy thế
mạnh của địa phương, nên tình hình kinh tế vẫn ổn định và tiếp tục tăng trưởng.
Bảng 2.1: Tỷ trọng các ngành trong tổng GDP
Đơn vị: %
SVTH: Hồ Anh Thư Lớp K7-TCNN
19
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Lê Tuấn Mãnh
(Nguồn: Đội Kê Khai
−
Kế Toán Thuế
−
Tin Học)
Qua bảng số liệu trên ta thấy cơ cấu kinh tế của thành phố Sa Đéc có bước
chuyển biến tích cực. Tỷ trọng nông lâm thủy sản giảm; tỷ trọng công nghiệp, xây
dựng và thương mại dịch vụ tăng. Cụ thể là:
- Ngành công nghiệp, xây dựng: tỷ trọng GDP năm 2011 đạt 40,67%, năm
2012 đạt 41,08% (tương ứng tăng 0,41% so với năm 2011) và năm 2013 đạt
43,02%, (tương ứng tăng 1,94% so với năm 2012).
TCCB ngày 21/8/1990 của Bộ Tài chính. Trụ sở Văn phòng Chi cục Thuế đặt tại Đường
Nguyễn Sinh Sắc, khóm Hòa Khánh, Phường 2, thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
Chi cục Thuế thành phố Sa Đéc chịu sự lãnh đạo song trùng của ngành dọc và
Ủy ban nhân dân cùng cấp, có trách nhiệm quản lý, khai thác, bồi dưỡng nguồn thu
trên địa bàn theo sự phân công của cấp trên và tổ chức thực hiện hoàn thành chỉ tiêu
thu hàng năm.
Hiện tại Chi cục Thuế thành phố Sa Đéc có tổng số cán bộ là 54 người gồm 50
biên chế, 04 hợp đồng.
SVTH: Hồ Anh Thư Lớp K7-TCNN
21
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Lê Tuấn Mãnh
Số lượng cán bộ nữ 17 người chiếm 31,48%, cán bộ nam 37 người chiếm
68,51%. Điều này phù hợp với nhiệm vụ đặc thù của ngành thuế, nhất là ở các bộ
phận trực tiếp tiếp xúc với cơ sở kinh doanh, trực tiếp kiểm tra tình hình kinh doanh
trên địa bàn.
2.2.2 Sơ đồ tổ chức bộ máy theo mô hình chức năng của Chi cục Thuế thành phố
Sa Đéc:
2.2.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy:
Chi cục Thuế thành phố Sa Đéc được sắp xếp theo đúng quy định tại Quyết
Định số: 503 và 504/QĐ-TCT ngày 29/03/2010 của Tổng cục Thuế về việc quy
định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Chi cục Thuế trực thuộc Cục Thuế và
chức năng nhiệm vụ của các Đội thuế thuộc Chi cục Thuế.
- Ở Trung ương có Tổng cục Thuế trực thuộc Bộ Tài chính.
SVTH: Hồ Anh Thư Lớp K7-TCNN
22
CHI CỤC TRƯỞNG
PHÓ CHI CỤC TRƯỞNG PHÓ CHI CỤC TRƯỞNG
Đội Quản lý nợ và Cưỡng
chế thuế
Đội Kê khai -Kế toán thuế
2.2.4 Chức năng nhiệm vụ của từng đội thuế:
- Đội Hành chính−Nhân sự−Tài vụ−Ấn chỉ
+ Chức năng: Giúp Chi cục Thuế trưởng Chi cục Thuế thực hiện công tác
hành chính, văn thư, lưu trữ; công tác quản lý nhân sự; quản lý tài chính, quản trị;
quản lý ấn chỉ trong nội bộ Chi cục Thuế quản lý.
+ Nhiệm vụ: Xây dựng kế hoạch hàng năm về đầu tư xây dựng cơ sở vật chất,
kinh phí hoạt động và quản lý ấn chỉ thuế của Chi cục Thuế ; tổ chức thực hiện công
tác hành chính, văn thư, lưu trữ; thực hiện chế độ quản lý, sử dụng công chức thuế,
SVTH: Hồ Anh Thư Lớp K7-TCNN
23
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Lê Tuấn Mãnh
lao động, tiền lương, đào tạo, bồi dưỡng công chức thuế, công tác bảo vệ chính trị
nội bộ của Chi cục Thuế theo phân cấp quản lý.
- Đội Kiểm tra thuế:
+ Chức năng: Giúp Chi cục Thuế trưởng Chi cục Thuế thực hiện công tác
kiểm tra, giám sát kê khai thuế; giải quyết tố cáo liên quan đến NNT; chịu trách
nhiệm thực hiện dự toán thu thuộc phạm vi quản lý của Chi cục Thuế .
+ Nhiệm vụ: Kiểm tra tính trung thực, chính xác của hồ sơ khai thuế; kiểm tra
việc thực hiện chính sách pháp luật về thuế tại trụ sở của NNT; kiểm tra các tổ chức
được ủy nhiệm thu thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế; Thực hiện các thủ tục
miễn thuế, giảm thuế, trình Lãnh đạo Chi cục Thuế ra quyết định; kiểm tra, đối
chiếu xác minh hóa đơn và trả lời kết quả xác minh hóa đơn theo quy định; kiểm tra
việc chấp hành các quy định về quản lý, sử dụng biên lai, ấn chỉ thuế; Tổ chức hoạt
động tiếp dân tại trụ sở cơ quan thuế để nắm bắt, xem xét, giải quyết những thông
tin phản ánh của nhân dân về hành vi vi phạm chính sách, pháp luật thuế của NNT;
kiểm tra xác minh, giải quyết tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật thuế của NNT
thuộc thẩm quyền quản lý của Chi cục Thuế.
- Đội Tuyên truyền - Hỗ trợ và Nghiệp vụ - Dự toán:
+ Chức năng: Giúp Chi cục Thuế trưởng Chi cục Thuế hướng dẫn về nghiệp vụ
quản lý thuế, chính sách, pháp luật thuế cho cán bộ, công chức thuế trong Chi cục
+ Nhiệm vụ: Thực hiện các thủ tục thu tiền thuế nợ, tiền phạt; theo dõi, đôn
đốc, tổng hợp kết quả thu hồi tiền thuế nợ, tiền phạt vào NSNN; thực hiện xác nhận
tình trạng nợ NSNN; lập hồ sơ đề nghị và thực hiện cưỡng chế và đề xuất biện pháp
thực hiện cưỡng chế thu tiền thuế.
- Đội thuế liên xã, phường, thị trấn:
+ Chức năng: Giúp Phó Chi cục Thuế trưởng Chi cục Thuế quản lý thu thuế
các tổ chức (nếu có), cá nhân nộp thuế trên địa bàn xã, phường được phân công
(bao gồm các hộ SXKD công thương nghiệp và dịch vụ, kể cả hộ nộp thuế TNCN;
thuế nhà đất, thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế tài nguyên ).
+ Nhiệm vụ: Tổ chức cho NNT trên địa bàn được đăng ký mã số thuế; hướng
dẫn NNT trên địa bàn thực hiện pháp luật về thuế; thực hiện điều tra doanh thu, ấn
SVTH: Hồ Anh Thư Lớp K7-TCNN
25