LỜI CẢM ƠN
Khóa luận tốt nghiệp là bước cuối cùng đánh dấu sự trưởng thành của một sinh
viên ở giảng đường đại học. Để trở thành một cử nhân hay một kỹ sư đóng góp những
gì mình học được cho sự phát triển của đất nước.
Để hoàn thành bài khóa luận “ Xây dựng chương trình quản lý Nguyên vật liệu
tại công ty TNHH Bao bì Thăng Long – Hưng Yên ”. Em xin bày tổ lòng biết ơn sâu
sắc đến TS.Nguyễn Văn Huân người đã hướng dẫn và tận tình chỉ bảo em trong suốt
quá trình thực hiện khóa luận này, ngoài ra còn các thầy cô trong khoa Hệ thống thông
tin Kinh tế của trường Đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông.
Đồng thời em xin chân thành cám ơn anh Nguyễn Văn Huấn thủ kho công ty
TNHH Bao bì Thăng Long đã giúp đỡ em trong suốt thời gian vừa qua.
Cuối cùng em xin cảm ơn sự quan tâm, chia sẻ, ủng hộ của gia đình và bạn bè.
Thái Nguyên, ngày 13 tháng 04 năm 2013
Sinh viên thực hiện
1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bài khóa luận tốt nghiệp này là công trình nghiêm cứu thực sự
của cá nhân tôi, được thực hiện dựa trên cơ sở lý thuyết, kiến thức chuyên ngành,
nghiêm cứu khảo sát tình hình thực tiễn và dưới sự hướng dẫn khoa học của các thầy
cô giáo
Các số liệu, bảng biểu trong khóa luận là hoàn toàn trung thực, các nhận xét,
phương hướng đưa ra là xuất phát từ thực tiễn và kinh nghiệm hiện có.
Một lần nữa tôi xin khẳng định sự trung thực của tôi về lời cam đoan trên.
Sinh viên thực hiện
2
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2.1 Sơ đồ bộ máy tổ chức quản lý của công ty TNHH Bao bì Thăng Long 21
Hình 2.2.1 Sơ đồ phân cấp chức năng 50
Hình 2.2.2 Biểu đồ luồng dữ liệu khung cảnh 51
Hình 2.2.3 Sơ đồ luồng dữ liệu mức đỉnh 52
Hình 2.2.4 Sơ đồ luồng dữ liệu mức dưới đỉnh chức năng QL Hệ thống 53
Bảng 2.3.6: Bảng “Phiếu xuất” 65
Bảng 2.3.7: Bảng “Phiếu nhập” 65
Bảng 2.3.8: Bảng “Bảng tổng hợp trong tháng” 66
5
MỤC LỤC
1.1 Khái quát về nguyên vật liệu 9
1.1.1 Khái niệm nguyên vật liệu 9
1.1.2 Đặc điểm và vai trò của nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất 9
1.1.3 Các phương pháp phân loại nguyên vật liệu 10
1.1.4 Các phương pháp tính giá NVL 11
6
LỜI NÓI ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Ngày nay công nghệ thông tin đang ngày càng phát triển, các doanh nghiệp ngày
nay đã quá quen thuộc với việc ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động của
mình từ những công việc đơn giản hay phức tạp. Thế giới công nghệ đang thay đổi và
ngày càng đơn giản hóa mọi công việc, tìm ra giải pháp nhanh nhất cho mọi vấn đề. Để
có thể theo kịp thời đại thì bản thân chúng ta phải thay đổi chính mình, phải tạo cho
bản thân thích ứng với một thế giới mới, phải không ngừng phát triển bản thân.
Ra đời trong thời điểm ngành công nghiệp sản xuất bao bì của nước ta đang trên
đà phát triển mạnh. Để tạo được uy tín trên thị trường, doanh nghiệp phải luôn cố gắng
phấn đấu, tạo nhiều sản phẩm chất lượng tốt cùng sự phục vụ tốt nhất cho hách hàng.
Để làm được điều đó, doanh nghiệp đã làm tốt mọi quá trình trong việc sản xuất, kinh
doanh kết hợp với việc sử dụng công nghệ thông tin để đem lại hiệu quả như mong
muốn. Trong đó, quản lý nguyên vật liệu là một khâu quan trọng trong quá trình hạch
toán và quản lý sản xuất kinh doanh của công ty. Nó đóng góp vai trò quan trọng trong
ghi chép, phản ánh kịp thời số lượng, chất lượng từng loại nguyên vật liệu và tình hình
thu mua, dự trữ vật liệu nhằm hạn chế mức thiệt hại thấp nhất cho công ty.
Từ thực tế đó, em chọn đề tài “Xây dựng chương trình quản lý nguyên vật liệu
tại công ty TNHH Bao bì Thăng Long – Hưng Yên ”.
Chương 3: Cài đặt chương trình quản lý nguyên vật liệu
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày … tháng … năm 2013
Sinh viên thực hiện
Trần Tố Loan
8
Chương 1.
TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ NGUYÊN VẬT LIỆU
1.1 Khái quát về nguyên vật liệu
1.1.1 Khái niệm nguyên vật liệu
Trong các doanh nghiệp sản xuất NVL là những đối tượng lao động,thể hiện dưới
dạng vật hoá là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, là cơ sở vật chất cấu
thành nên thực thể sản phẩm.
Trong quá trình tham gia vào sản xuất kinh doanh, NVL chỉ tham gia vào một
chu kỳ sản xuất nhất định, NVL bị tiêu hao toàn bộ và không giữ nguyên hình thái vật
chất ban đầu mà giá trị của NVL được chuyển toàn bộ một lần vào chi phí sản xuất và
giá thành sản phẩm mới làm ra.
1.1.2 Đặc điểm và vai trò của nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất
* Đặc điểm của nguyên vật liệu:
Nguyên liệu là những tài sản lưu động thuộc nhóm hàng tồn kho, tham gia vào
giai đoạn đầu của quá trình sản xuất kinh doanh để hình thành nên sản phẩm mới,
chúng rất đa dạng và phong phú về chủng loại.
Khi tham gia vào quá trình sản xuất nguyên vật liệu bị tiêu hoa toàn bộ giá trị một
lần vào giá trị sản phẩm mới tạo ra.
Khi tham gia vào quá trình sản xuất nguyên vật liệu bi tiêu hao và bị thay đổi
hình thái vật chất ban đầu.
* Vai trò của nguyên vật liệu:
Chi phí về các loại vật liệu thường chiếm một tỉ trọng lớn trong toàn bộ chi phí
sản xuất và giá thành sản phẩm trong các Doanh nghiệp sản xuất. Do đó vật liệu không
chỉ quyết định đến mặt số lượng của sản phẩm, mà nó còn ảnh hưởng trực tiếp đến chất
10
gồm: thuốc nhuộm, thuốc tẩy, sơn các loại, phụ gia bêtông, dầu mỡ bôi trơn, xăng chạy
máy, và các loại khác.
* Nhiên liệu: là những vật liệu được sử dụng để phục vụ cho công nghệ sản xuất
sản phẩm, kinh doanh như phương tiện vận tải, máy móc thiết bị hoạt động trong quá
trình sản xuất. Nhiên liệu bao gồm các loại như: xăng dầu chạy máy, than củi, khí ga
* Phụ tùng thay thế: là các chi tiết phụ tùng, sử dụng để thay thế sửa chữa các loại
máy móc thiết bị sản xuất, phương tiện vận tải.
* Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản: bao gồm các loại vật liệu và thiết bị,
phương tiện lắp đặt vào các công trình xây dựng cơ bản của Doanh nghiệp xây lắp.
* Vật liệu khác: là các loại vật liệu còn được xét vào các loại kể trên như phế liệu
thu hồi từ thanh lý tài sản cố định, từ sản xuất kinh doanh như bao bì, vật đóng gói…
* Phế liệu: là những loại vật liệu thu được trong quá trình sản xuất, thanh lý tài
sản có thể sử dụng hay bán ra ngoài.( phôi bào, vải vụn…). Tuỳ thuộc vào yêu cầu
quản lý và hạch toán chi tiết của từng Doanh nghiệp mà trong từng loại vật liệu nêu
trên lại được chia thành từng nhóm, từng quy cách từng loại một cách chi tiết hơn.
1.1.4 Các phương pháp tính giá NVL
Tính giá nguyên vật liệu
Tính giá NVL là xác định giá trị NVL theo một nguyên tắc nhất định. Theo quy
định hiện hành, kế toán nhập xuất tồn kho NVL phải phản ánh theo giá thực tế, khi
xuất kho cũng phải xác định theo giá thực tế xuất kho theo đúng phương pháp quy
định. Tuy nhiên trong không ít Doanh nghiệp để đơn giản và giảm bớt khối lượng ghi
chép, và tính toán hàng ngày có thể sử dụng giá hạch toán để hạch toán tình hình nhập
xuất vật liệu…
11
Tính giá vật liệu theo giá thực tế
* Giá vật liệu thực tế nhập kho:
Trong các doanh nghiệp sản xuất - xây dựng cơ bản, nguyên vật liệu được nhập
từ nhiều nguồn nhập mà giá thực tế của chúng trong từng lần nhập được xác định cụ
thể như sau:
trong niên độ kế toán. Để tính giá thực tế của NVL xuất kho có thể áp dụng một trong
những phương pháp sau:
- Tính theo giá thực tế bình quân gia quyền:
Theo phương pháp này giá trị của từng loại hàng tồn kho được tính theo giá trị
trung bình của từng loại hàng tồn kho tương tự đầu kỳ và giá trị từng loại hàng tồn kho
được mua hoặc sản xuất trong kỳ. Giá trị trung bình có thể được tính theo thời kỳ hoặc
vào mỗi khi nhập một lô hàng về, phụ thuộc vào tình hình của doanh nghiệp.
Trị giá thực tế xuất kho của vật tư được căn cứ vào số lượng vật tư xuất kho và
đơn giá bình quân gia quyền, theo công thức:
Đơn giá bình quân ra quyền = [(G/H)/(K/Q)]
Trong đó:
+ G: Trị giá vốn thực tế vật tư đầu kỳ.
+ H: Số lượng vật tư tồn kho đầu kỳ.
+ K: trị giá vốn thực tế vật tư nhập trong kỳ.
+ Q: Số lượng vật tư nhập trong kỳ.
+ Trị giá vốn thực tế vật tư xuất kho thì bằng số lượng vật tư xuất kho(tồn kho)
nhân với đơn gia bình quân.
13
Đơn giá bình quân thường được tính cho từng vật tư. Đơn giá bình quân có thể
xác định cho cả kỳ được gọi là đơn giá bình quân cả kỳ hay đơn giá bình quân cố định.
Theo cách này, khối lượng tính toán giảm nhưng chỉ tính được trị giá vốn thực tế của
vật tư vào thời điểm cuối kỳ nên không thể cung cấp thông tin kịp thời.
Đơn giá bình quân có thể xác định sau mỗi lần nhập được gọi là đơn giá bình
quân di động, theo cách tính này xác định được trị giá vốn thực tế vật tư hàng ngày
cung cấp thông tin được kịp thời. Tuy nhiên, khối lượng công việc sẽ nhiều lên nên
phương pháp này rất thích hợp với những doanh nghiệp làm kế toán máy.
- Tính theo giá nhập trước xuất trước –Firt in firt out(FIFO):
Theo phương pháp này ta phải xác định được đơn giá thực tế nhập kho của từng
lần nhập và giả thiết tài sản nào nhập trước thì xuất trước, hàng nào nhập sau thì xuất
sau. Sau đó căn cứ vào số lượng xuất kho để tính ra giá thực tế xuất kho theo nguyên
Tổng giá thực tế NVL xuất trong kỳ = st +sn -std
Trong đó:
+ st: Tổng giá thực tế NVL tồn đầu kỳ.
+ sn: Tổng giá thực tế NVL nhập trong kỳ.
+ std: Tổng giá thực tế NVL tồn cuối kỳ.
+Tổng giá thực tế tồn kho cuối kỳ thì bằng số lượng NVL tồn kho cuối kỳ cộng
với đơn giá mua lần cuối.
15
Tính giá vật liệu theo hạch toán
Do NVL có nhiều loại, thường tăng giảm trong quá trình sản xuất, mà yêu cầu
của công tác kế toán NVL phải phản ánh kịp thời tình hình biến động và số liệu có của
NVL nên trong công tác hạch toán NVL có thể sử dụng giá hạch toán để hạch toán tình
hình nhập xuất NVL hàng ngày.
Khi áp dụng phương pháp này toàn bộ vật liệu biến động trong kỳ được tính theo
giá hạch toán (giá kế toán hay một loại giá ổn định trong kỳ). Hàng ngày kế toán sử
dụng giá hạch toán để ghi sổ chi tiết giá trị vật liệu nhập xuất. Cuối kỳ phải tính toán
để xác định giá trị vật liệu xuất dùng trong kỳ theo các đối tượng theo giá mua thực tế
bằng cách xác định hệ số giá giữa giá mua thực tế và giá mua hạch toán của vật liệu
luân chuyển trong kỳ.
- Trước hết phải xác định hệ số giữa thực tế và giá hạch toán của vật liệu:
Hệ số giá = [(G + sn)/(N+M)]
Trong đó:
+ N: Giá vật liệu tồn đầu kỳ hạch toán.
+M : Tổng giá hạch toán vật liệu nhập trong kỳ.
- Sau đó tính giá thực tế của hàng xuất kho trong kỳ, căn cứ vào giá hạch toán
xuất kho và hệ số giá.
Phương pháp này sử dụng trong điều kiện:
- Doanh nghiệp dùng hai loại giá thực tế và giá hạch toán.
Giá thực tế
Nguyên vật liệu
các định mức, dự toán chi phí nhằm hạ thấp mức tiêu hao vật liệu trong giá thành sản
phẩm, tăng thu nhập, tích luỹ cho Doanh nghiệp. Vì vậy, trong khâu này cần tổ chức
tốt việc ghi chép, phản ánh tình hình xuất dùng và sử dụng vật liệu trong quá trình hoạt
động sản xuất kinh doanh.
Trong khâu dự trữ: Doanh nghiệp phải xác định được mức dự trữ tối đa, tối thiểu
cho từng loại vật liệu để đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh được bình thường,
17
không bị ngưng trệ, gián đoạn do việc cung ứng không kịp thời hoặc gây tình trạng ứ
đọng vốn do dự trữ quá nhiều.
Tóm lại, nguyên vật liệu là yếu tố đầu tiên trong quá trình tạo ra sản phẩm và
cũng là yếu tố chủ yếu tạo nên sản phẩm. Vì vậy muốn sản phẩm đạt tiêu chuẩn, chất
lượng cao và đạt được uy tín trên thị trường nhất thiết phải tổ chức việc quản lý vật
liệu. Đây là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản lý nguyên vật liệu
ở Doanh nghiệp .
1.2 Giới thiệu ngôn ngữ lập trình C# và hệ quản trị dữ liệu SQL 2005
1.2.1 Ngôn ngữ lập trình C#
* Giới thiệu về ngôn ngữ C#:
Ngôn ngữ C# là một ngôn ngữ được dẫn xuất từ C và C++, nhưng nó được tạo từ
nền tảng phát triển hơn.Microsoft bắt đầu với công việc trong C và C++ và thêm vào
những đặc tính. mới để làm cho ngôn ngữ này dễ sử dụng hơn.
C# được thiết kế chủ yếu bởi Anders Hejlsberg kiến trúc sư phần mềm nổi tiếng
với các sản phẩm Turbo Pascal, Delphi, J++, WFC.
Những hạn chế của các ngôn ngữ lập trình C/C++:
- Khó khăn cho những người bắt đầu học lập trình.
- Không thể kiểm tra hoạt động của code cho đến tận lúc code đã được biên dịch.
- Khó khăn trong việc gỡ lỗi bởi có rất ít các công cụ gỡ lỗi và đa số là đắt.
- Thời gian phát triển ứng dụng với các ngôn ngữ này là lâu.
- Kết nối với CSDL phức tạp.
- Các khó khăn trong việc chỉnh sửa dữ liệu.
- Khó khăn trong việc thực hiện.
<lệnh nhảy>
[default:
<Các câu lệnh thực hiện mặc định>]
Vòng lặp do while:
+ Cú pháp: do
<Câu lệnh thực hiện>
while( điều kiện)
* Cơ bản về .NET Framework:
NET Framework là một thành phần cơ bản của Windows cho việc xây dựng và
chạy các ứng dụng viết bởi các ngôn ngữ lập trình mới (ứng dụng thế hệ kế tiếp).
NET Framework được thiết kế để:
+ Cung cấp một môi trường nhất quán cho lập trình hướng đối tượng.
+ Tối ưu hóa việc phát triển phần mềm và sự xung đột phiên bản bằng việc cung
cấp một môi trường thực hiện code.
+ Cung cấp môi trường thực thi code an toàn hơn.
+ Cung cấp trải nghiệm (experience) nhất quán cho những người phát triển trong
việc tạo ra các kiểu ứng dụng khác nhau từ các ứng dụng trên nền tảng Windows, các
ứng dụng trên nền tảng Web cho đến các ứng dụng trên nền tảng thiết bị di động, các
ứng dụng nhúng…
Dot NET Framework bao gồm 2 thành phần chính:
CLR (Common Language Runtime – Môi trường quản lý ngôn ngữ chung): đây
là thành phần cốt lỗi (xương sống – backbone) của NET Framework thực hiện các chức
năng sau:
+ Quản lý bộ nhớ.
+ Thực hiện code.
+ Xử lý lỗi.
20
+Xác nhận sự an toàn của code.
+Thu gom rác.
Framework Class Library (FCL): là một tập hợp các kiểu dữ liệu có khả năng sử
+ Sự cấp phát vùng nhớ động: Các khối của bộ nhớ với bất kì cỡ lớn mong
muốn nào đều có thể được yêu cầu (hay xin) trong thời gian thi hành bằng
cách dùng các hàm thư viện như là malloc(), realloc() và free() từ một khu
vực của bộ nhớ có tên là heap; các khối này có thể được tái dụng sau khi gọi
hàm free() để hoàn trả chúng lại cho bộ nhớ của máy.
Ba phương án này thích hợp cho các tình huống khác nhau và có những hậu quả
khác nhau. Thí dụ, kiểu cấp phát tĩnh sẽ không cần thời gian (để tính toán) cho sự cấp
phát, kiểu cấp phát tự động sẽ cần một khoảng thời gian nào đó cho dự tính, và kiểu
cấp phát động có thể đòi hỏi một lượng lớn thời gian dùng dễ tính toán cho việc cấp
phát và hoàn trả (các vùng nhớ đã được yêu cầu trước đó). Mặt khác, khoảng trống của
chồng thường giới hạn cho vùng nhớ tĩnh hay cho khoảng trống của heap, và chỉ kiểu
cấp phát vùng nhớ động là cho phép sự cấp phát cho các đối tượng mà kích thước của
nó chỉ có thể biết được trong lúc thi hành. Hầu hết các chương trình C đều dùng nhiều
cả ba phương cách này.
Khi có thể thì sự cấp phát tự động hay sự cấp phát tĩnh thường được dề nghị dùng
vì kho nhớ được quản lý bởi trình dịch, giải phóng cho người lập trình những lồi lầm
phiền hà khi phải xin cấp phát và hoàn trả các vùng nhớ bằng tay. Rất tiếc nhiều cấu
trúc dữ liệu có thể trương nở trong thời gian thực thi và vì kiểu cấp phát tĩnh và kiểu tự
động phải có một độ lớn cố định ở thời gian dịch nên trong nhiều tình huống mà buộc
phải dùng kiểu cấp phát động. Các dãy thay đổi về độ lớn là một thí dụ điển hình của
trường hợp này. (Xem thí dụ từ bài malloc về các dãy được cấp phát vùng nhớ
động.)
* Quan hệ với C++:
22
C++ nguyên là sự kết thừa từ C. Mặc dù vậy, không phải mọi chương trình trong
C đều hợp lệ trong C++. Vì là hai ngôn ngữ độc lập, số lượng không tương thích giữa
hai ngôn ngữ này đã tăng lên. [2]. Phiên bản cuối cùng C99 đã tạo ra thêm nhiều tính
năng xung đột (giữa C và C++). Các sự khác nhau này tạo ra khó khăn để viết các
chương trình và thư viện đẻ có thể được dịch và hoạt động chính xác trong cả hai loại
mã C hay C++, đồng thời gây nhầm lẫn cho những người lập trình dùng cả hai ngôn
- Hỗ trợ các giao thức Internet chung.
- Triển khai đơn giản.
- Hỗ trợ tài liệu XML: các chú thích XML có thể được thêm vào các đoạn code
và sau đó có thể được chiết xuất để làm tài liệu cho các đoạn code để cho phép các lập
trình viên khi sử dụng biết được ý nghĩa của các đoạn code đã viết.
* Môi trường phát triển tích hợp Visusal Studio.Net 2005, 2008
VS là một tập hợp các công cụ phát triển cho việc xây dựng các ứng dụng
desktop với hiệu năng cao, các ứng dụng cho thiết bị di động, các dịch vụ Web, các
ứng dụng Web. Ngoài ra VS 2005 cũng được sử dụng để làm đơn giản hóa quá trình
phát triển nhóm, triển khai cài đặt các ứng dụng enterprise.
VS cung cấp các lợi ích mở rộng cho việc phát triển các ứng dụng:
+ Nâng cao tính sản phẩm.
+ Phát triển các ứng dụng cho NET Framework 2.0.
+ Phát triển các ứng dụng cho các thiết bị cầm tay với .NET Framework Compact
1.2.2 Hệ quản trị cơ sở dữ liệu SQL server 2005
SQL Server là gì?
24
SQL Server là chữ viết tắt của Structure Query Language, nó là một công cụ quản
lý dữ liệu được sử dụng phổ biến ở nhiều lĩnh vực. Hầu hết các ngôn ngữ bậc cao đều
có trình hỗ trợ SQL như Visual Basic, Oracle,Visual C
Trong Oracle tất cả các chương trình và người sử dụng phải sử dụng SQL để truy
nhập vào dữ liệu trong CSDL của Oracle. Các chương trình ứng dụng và các công cụ
Oracle cho phép người sử dụng truy nhập tới CSDL mà không cần sử dụng trực tiếp
SQL. Nhưng những ứng dụng đó khi chạy phải sử dụng SQL.
SQL Server cung cấp công nghệ và khả năng mà các tổ chức hy vọng kiểm soát
được các khó khăn thách thức đang ngày càng tăng đối với việc quản lý dữ liệu và
cung cấp thông tin có giá trị kịp thời đến người dùng. Với những cải thiện đáng kể
trong các lĩnh vực chính của nền tảng nhiệm vụ then chốt, phát triển động, dữ liệu quan
hệ mở rộng và truyền lan tin tức, các lợi ích của SQL Server thể hiện ở đây là rất có giá
trị. SQL Server là một bộ phận trong toàn cảnh về nền tảng dữ liệu của Microsoft được