CHIẾN LƯC TOÀN CẦU
VỀ BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH
CHIẾN LƯC TOÀN CẦU VỀ CHẨN ĐOÁN,
ĐIỀU TRỊ VÀ PHÒNG NGỪA
BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH CẬP NHẬT NĂM 2006
CHIẾN LƯC TOÀN CẦU
VỀ BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH
Roberto Rodriguez Roisin, MD
Hospital Clinic
Oregon Health & Science University
Barcelona, Spain
Portland, Oregon, USA
Thys van der Molen, MD
Antonio Anzueto, MD
University of Groningen
(Representing the American Thoracic
Society)
Groningen, The Netherlands
Chris van Weel, MD
University of Texas Health Science Center
(Representing the World Organization of
Family Doctors
San Antonio, Texas, USA
Peter Calverley, MD
(WONCA))
University Hospital Aintree
University of Nijmegen
Liverpool, UK
Nijmegen, The Netherlands
Teresita S. deGuia, MD
Philippine Heart Center
BAN THƯ KÝ
Quezon City, Philippines
Yoshinosuke Fukuchi, MD
(Representing the Asian Pacific Society for
Peter Calverley, MD
Ali Kocabas, MD
University Hospital Aintree
Cukurova University School of Medicine
Liverpool, UK
Balcali, Adana, Turkey
Marc Decramer, MD (Effective June 2006)
Mará Victorina López, MD
University Hospital
(Representing the Latin American Thoracic
Society)
Leuven, Belgium
Yoshinosuke Fukuchi, MD
Montevideo, URUGUAY
President
Ewa Nizankowska-Mogilnicka, MD
Asian Pacific Society for Respirology
University School of Medicine
Tokyo, Japan
Krakow, Poland
Paul Jones, MD (Effective June 2006)
3
Prof. E.M. Irusen
St. George's Hospital Medical School
London, UK
South Africa Thoracic Society
Roberto Rodriguez Roisin, MD
University of Stellenbosch
Hospital Clinic
Cape Town, South Africa
St. Paul’s Hospital
Bart Celli, MD
Vancouver, British Columbia, Canada
Caritas St. Elizabeth's Medical Center
Christine Jenkins, MD
Brighton, Massachusetts, USA
Woolcock Institute of Medical Research
M.W. Elliott, MD
Sydney, NSW, Australia
St. James's University Hospital
Ewa Nizankowska-Mogilnicka, MD
West Yorkshire, UK
University School of Medicine
H.A.M. Kerstjens, MD, PhD
Krakow, Poland
University Medical Center Groningen
Sean Sullivan, MD
Groningen, The Netherlands
University of Washington
Peter Lange, MD
Seattle, Washington, USA
Hvidovre Hospital
Thys van der Molen, MD
Hvidovre, Denmark
University of Groningen
Carlos M. Luna, MD
Groningen, The Netherlands
President, ALAT
Chris van Weel, MD
Buenos Aires, Argentina
4
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
- Chronic Obstructive Pulmonary Disease (COPD): Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.
- Epidermal Growth Factor Receptor (EGFR): Thụ thể của yếu tố tăng trưởng biểu mô.
- Forced expiratory volume in one second (FEV
1
): Thể tích thở ra tối đa trong một giây đầu tiên.
- Forced vital capacity (FVC): Dung tích sống gắng sức.
- Global Initiative for Chronic Obstructive Lung Disease (GOLD): Chiến lược toàn cầu về
bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.
- International Classification of Disease (ICD): Cập nhật lần thứ 8 của phân loại quốc tế về bệnh tật.
- Lower Limit of Normal (LLN): Giới hạn dưới của giá trò bình thường.
- Meta-analysis: Phân tích hệ thống.
- Transforming growth factor beta-1 (TGF-β1): Yếu tố tăng trưởng biến đổi beta-1.
- Tumor Necrosis Factor Alpha (TNF- ∝): Yếu tố hoại tử khối u-∝.
- World Health Organization (WHO) : Tổ chức y tế thế giới.
5
LỜI NÓI ĐẦU
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
(Chronic Obstructive Pulmonary Disease:
COPD) vẫn còn là một vấn đề sức khỏe cộng
đồng chính. Đây là nguyên nhân đứng hàng thứ
4 về bệnh tật và tử vong mạn tính ở Hoa Kỳ.
Theo một nghiên cứu được xuất bản bởi Tổ
chức y tế thế giới và Ngân hàng thế giới,
COPD được dự đoán là đứng hàng thứ năm vào
năm 2020 về gánh nặng bệnh tật trên toàn thế
nguyên đònh dạng như ấn bản đồng thuận ban
đầu, nhưng được bổ sung thêm nhiều thông tin
mới so với ấn bản năm 2001.
Từ khi ấn bản đồng thuận đầu tiên
được xuất bản vào năm 2001, một mạng lưới
chuyên gia quốc tế, là những nhà lãnh đạo
GOLD của các quốc gia được hình thành để
cung cấp các khuyến cáo. Nhiều người trong số
các chuyên gia này đã khởi động các nghiên
cứu về nguyên nhân và tần suất của COPD tại
đất nước họ và đề xuất các sáng kiến mới nhằm
cập nhật và phổ biến các hướng dẫn điều trò
COPD. Thay mặt cho các bệnh nhân COPD,
chúng tôi trân trọng những đóng góp to lớn của
các nhà lãnh đạo GOLD của các quốc gia.
Mặc dù đã có những thành tựu đáng kể
trong vòng 5 năm qua kể từ khi ấn bản đầu tiên
được xuất bản, vẫn còn rất nhiều công việc
đang chờ đợi phía trước nhằm kiểm soát vấn đề
sức khỏe cộng đồng quan trọng này. Chiến lược
toàn cầu về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
(GOLD) sẽ tiếp tục làm cho COPD được chú ý
nhiều hơn nữa bởi các quan chức chính phủ,
quan chức y tế, nhân viên y tế và cả cộng đồng
và một sự phối hợp hành động của các ban
ngành liên quan là cần thiết.
Tôi rất biết ơn các thành viên trong
ban khoa học của GOLD, những người đã
chuẩn bò cho ấn bản cập nhật này. Chúng tôi sẽ
tiếp tục công việc với các tổ chức liên quan và
đoán được trong những thập kỷ tới
2
.
Mục đích của “Chiến lược toàn cầu về
bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (GOLD)” là nhằm
tăng kiến thức về COPD và giảm tỷ lệ bệnh tật và
tử vong do bệnh. Mục đích của GOLD là nhằm
cải thiện sự phòng ngừa và điều trò COPD thông
qua nỗ lực của những người liên quan về tất cả
các khía cạnh chăm sóc sức khỏe và chính sách
chăm sóc sức khỏe của toàn thế giới và khuyến
khích nhiều nghiên cứu sâu rộng hơn về bệnh có
tần suất tương đối cao này. Vẫn còn thái độ thờ ơ
về COPD trong số các nhân viên y tế, là do nguồn
lực tương đối hạn hẹp cho phòng ngừa tiên phát
và thứ phát (như tránh các yếu tố gây ra COPD
hoặc tiến triễn của bệnh), quan điểm đang thònh
hành xem COPD là một bệnh đa phần bệnh nhân
phải tự chòu đựng và thất vọng với các chế độ
điều trò hiện có. Mục đích quan trọng khác của
GOLD là chống lại thái độ buông xuôi này bằng
cách phổ biến thông tin về các điều trò hiện có (cả
điều trò bằng thuốc và điều trò không thuốc) và
bằng cách làm việc với một mạng lưới các chuyên
gia là những nhà lãnh đạo quốc gia về GOLD để
tiến hành các chương trình điều trò COPD có hiệu
quả, phù hợp với điều kiện thực tế của hệ thống
chăm sóc sức khỏe của từng nơi.
Thuốc lá vẫn tiếp tục là nguyên nhân
chính của COPD cũng như của nhiều bệnh khác.
phòng ngừa và điều trò hiệu quả nhất. Hứơng dẫn
GOLD, được xây dựng bởi các chuyên gia chăm
sóc và nghiên cứu bệnh nhân COPD và được xem
xét bởi nhiều chuyên gia khác nhằm cung cấp
thông tin về COPD cho thầy thuốc chuyên khoa
hô hấp và những thầy thuốc khác có quan tâm đến
bệnh này. Các tài liệu này được xem như là một
nguồn truyền đạt thông tin cho nhiều nhóm độc
giả khác nhau, gồm một bảng tóm tắt cho các nhà
quản lý, một hướng dẫn bỏ túi cho các nhân viên
y tế và một hướng dẫn cho bệnh nhân
2
.
Hướng dẫn này không phải là một sách
giáo khoa hoàn chỉnh về COPD mà chỉ là một tóm
tắt những hiểu biết hiện tại về COPD. Mỗi
chương bắt đầu bằng tóm tắt những điểm chính là
tinh hoa của những hiểu biết hiện tại. Các chương
về gánh nặng COPD và các yếu tố nguy cơ cho
thấy tầm quan trọng của COPD trên toàn cầu và
các yếu tố nguyên nhân khác có liên quan đến
COPD. Chương bệnh học, bệnh sinh và sinh lý
bệnh ghi nhận những hiểu biết hiện tại và những
vấn đề chưa được giải quyết về các cơ chế dẫn
7
đến COPD cũng như những bất thường về cấu trúc
và chức năng của phổi là đặc trưng của bệnh.
Phần chính của GOLD thì dành hết cho
điều trò COPD và đưa ra một kế hoạch điều trò
gồm 4 phần: (1). Đánh giá và theo dõi bệnh (2).
và cùng với sự hợp tác với chương trình GARD,
bệnh nhân COPD được chăm sóc tốt hơn đáng kể
trong những thập kỷ tới.
PHƯƠNG PHÁP
A. Chuẩn bò cập nhật hàng năm: Ngay
lập tức sau khi xuất bản hướng dẫn lần đầu vào
năm 2001, Ban điều hành đã có một cuộc gặp với
Ban thư ký, có trách nhiệm trong việc giữ các tài
liệu cập nhật của GOLD bằng cách xem xét các
nghiên cứu đã công bố, đánh giá ảnh hưởng của
nghiên cứu này trên các khuyến cáo điều trò của
hướng dẫn GOLD và công bố cập nhật hàng năm
hướng dẫn này trên Website của GOLD. Cập nhật
lần đầu được công bố vào tháng tháng 7 năm
2003, dựa trên các nghiên cứu từ tháng 1 năm
2001 đến tháng 12 năm 2002. Cập nhật lần 2 vào
tháng 7 năm 2004 và lần 3 vào tháng 7 năm 2005,
mà mỗi lần cập nhật đều có xem xét kết quả của
các nghiên cứu từ tháng 1 đến tháng 12 của năm
trước.
Cập nhật hàng năm bắt đầu bằng việc
Ban thư ký truy cập trên Pubmed
(
) bằng các từ tìm kiếm
sau đây:
1. COPD OR chronic bronchitis OR emphysema,
All Fields, All Adult, 19+ years, only items with
abstracts, Human, sorted by author và
2. COPD OR chronic bronchitis OR emphysema
AND systematic, All Fields, All Adult, 19+ years,
sách các nghiên cứu được Ban thư ký xem xét mỗi
năm cùng với các nghiên cứu mới được cập nhật
hàng năm được công bố trên Website của GOLD
http://www/goldcopd.org.
B. Chuẩn bò cho cập nhật mới vào năm
2006: Vào tháng 1 năm 2005, ban thư ký GOLD
đã khởi đầu công việc cập nhật hướng dẫn GOLD.
8
Trong một cuộc họp 2 ngày, ban thư ký đã xác
đònh cấu trúc của lần cập nhật này nên duy trì như
hướng dẫn của năm 2001 nhưng mỗi chương được
xem xét và thay đổi cẩn thận tương ứng với các y
văn mới vừa được xuất bản. Ban thư ký đã họp
vào tháng 5 và tháng 9 năm 2005 để đánh giá tiến
độ và để có được sự đồng thuận về các thông tin
được cung cấp trong mỗi chương. Trong quá trình
làm việc, ban thư ký đã có cam kết là xây dựng
một tài liệu tiếp cận được với độc giả toàn cầu,
dựa trên phần lớn các y văn khoa học hiện có,
càng súc tích càng tốt, trong cùng thời điểm đó họ
cũng nhận ra rằng một trong những giá trò của
GOLD là cung cấp những thông tin chính về điều
trò COPD dựa trên những nguyên tắc khoa học.
NHỮNG VẤN ĐỀ MỚI TRONG
KHUYẾN CÁO NÀY 1. Khuyến cáo nhấn mạnh: COPD được
thời điểm này, những nghiên cứu hiện diện trước
31 tháng 7 năm 2006 đều được xem xét ảnh
hưởng của chúng đến các khuyến cáo.
3. Phân loại hô hấp ký về độ nặng của
COPD hiện tại chia thành 4 giai đoạn: giai đoạn 1
(nhẹ), giai đoạn 2 (trung bình), giai đoạn 3 (nặng),
giai đoạn 4 (rất nặng). Giai đoạn 0 (nguy cơ) hiện
diện trong hướng dẫn năm 2001 hiện không được
xem như là một giai đoạn của COPD bởi vì không
đủ bằng chứng cho thấy những bệnh nhân đủ tiêu
chuẩn nguy cơ (ho và khạc đàm mạn tính, hô hấp
ký bình
thường) sẽ tiến triễn đến giai đoạn 1. Tuy nhiên,
tầm quan trọng về thông tin sức khỏe cho cộng
đồng rằng ho và khạc đàm mạn tính không phải là
triệu chứng thông thường vẫn không thay đổi.
4. Phân loại hô hấp ký về độ nặng tiếp
tục sử dụng tỷ lệ cố đònh FEV
1
/FVC sau giãn phế
quản < 0,7 để xác đònh tắc nghẽn luồng khí. Sử
dụng tỷ lệ cố đònh (FEV
Đònh kỳ trong quá trình chuẩn bò cập nhật
lần này (tháng 5 và tháng 9 năm 2005, tháng 5 và
tháng 9 năm 2006), đại diện ban thư ký GOLD đã
họp với những nhà lãnh đạo về GOLD của các
quốc gia để thảo luận về điều trò COPD và những
vấn đề đặc biệt của mỗi chương. Những nhà lãnh
hơn ở người trên 40 tuổi so với dưới 40 tuổi và ở
nam cao hơn nữ. Chương này cũng cung cấp một
số dữ kiện về bệnh tật và tử vong trong COPD.
MỨC ĐỘ BẰNG CHỨNG
Mức độ bằng chứng được đề cập trong
phần khuyến cáo điều trò ở chương 5, điều trò
COPD. Mức độ bằng chứng được in đậm trong
ngoặc đơn sau câu tương ứng (ví dụ: bằng chứng
A). Vấn đề phương pháp liên quan quan đến bằng
chứng từ các phân tích hệ thống (meta-analysis)
đã được xem xét cẩn thận
6. Khuyến cáo cũng nhấn mạnh thuốc lá
là yếu tố nguy cơ thường gặp nhất của COPD và
việc loại bỏ yếu tố nguy cơ này là một bước quan
trọng để phòng ngừa và kiểm soát COPD. Tuy
nhiên, cũng nên xem xét những yếu tố nguy cơ
khác của COPD nếu được. Những yếu tố này gồm
bụi nghề nghiệp và hóa chất, ô nhiễm trong nhà
do các chất đốt sinh khối và sưởi ấm ở những nơi
thông khí kém. Yếu tố nguy cơ sau cùng đặc biệt
quan trọng ở phụ nữ các nước đang phát triển.
3
.
Bảng mức độ bằng chứng (bảng A) được
sử dụng trong các hướng dẫn GOLD trước đây và
vẫn tiếp tục được sử dụng cho lần chuẩn bò hướng
dẫn này. Ban thư ký GOLD gần đây đã đưa ra
một tiếp cận mới về mức độ bằng chứng
4
quả. Việc xác đònh tính hiệu quả sẽ tùy thuộc vào
nguồn lực y tế đòa phương và việc quan trọng phải
làm là xây dựng chiến lược điều trò hiệu quả nhất
phù hợp với điều kiện từng nơi. Chương về áp
dụng GOLD tại các nước và những vấn đề trong
thực hành lâm sàng được đưa vào nhưng vẫn còn
là vấn đề cần được chú trọng thêm. 10
Bảng A: Mô tả các mức độ bằng chứng
Loại
bằng
chứng
Nguồn bằng chứng Đònh nghóa
A
Các thử nghiệm lâm sàng
ngẫu nhiên có đối chứng
(RCTs). Đầy đủ dữ kiện.
Bằng chứng từ kết quả của các RCTs được thiết kế tốt, cung
cấp các kết quả nhất quán trong dân số được khuyến cáo. Bằng
cứng A đòi hỏi một số lượng nghiên cứu đáng kể với cỡ mẫu
lớn.
B
Các thử nghiệm lâm sàng
ngẫu nhiên có đối chứng
(RCTs). Dữ kiện hạn chế.
Bằng chứng từ kết quả của các nghiên cứu can thiệp, mà chỉ
có một số nhỏ bệnh nhân, phân tích post-hoc hoặc dưới nhóm
analyses on treatment of
asthma: critical evaluation. BMJ 2000;320(7234):537-40.
4. Guyatt G, Vist G, Falck-Ytter Y, Kunz R, Magrini N, Schunemann H. An emerging consensus on grading
recommendations? ACP J
Club 2006;144(1):A8-9. Available from URL: .
11
CHÖÔNG 1
ÑÒNH NGHÓA
12
CHƯƠNG1: ĐỊNH NGHĨA
trong phổi, có các ảnh hưởng ngoài phổi đáng kể.
Các bệnh kèm theo quan trọng của bệnh nhân có
thể góp phần vào độ nặng của bệnh. Vì thế, có
thể xem COPD như là một bệnh phổi nhưng các
bệnh kèm theo nặng cần phải được xem xét khi
đánh giá độ nặng của bệnh để xác đònh điều trò
thích hợp.
Dựa trên những hiểu biết hiện tại, GOLD
cho rằng: Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD)
là một bệnh lý có thể phòng ngừa và có thể điều
trò được với các ảnh hưởng ngoài phổi đáng kể,
góp phần vào độ nặng của bệnh. Thành phần phổi
của bệnh được đặc trưng bởi tắc nghẽn luồng khí
không hồi phục hoàn toàn. Tắc nghẽn luồng khí
thường là tiến triển và liên quan đến đáp ứng
viêm bất thường của phổi với các phân tử hoặc
khí độc hại.
Trên thế giới, thuốc lá là yếu tố nguy cơ
thường gặp nhất của COPD, mặc dù ở tại nhiều
nước, ô nhiễm không khí do chất đốt từ gỗ và các
chất đốt sinh khối khác cũng được xác đònh là một
yếu tố nguy cơ của COPD.
Tắc nghẽn luồng khí trong COPD
Đặc trưng của tắc nghẽn luồng khí trong
COPD là được gây ra bởi sự kết hợp của bệnh
đường dẫn khí nhỏ (viêm tiểu phế quản tắc
nghẽn) và phá hủy nhu mô phổi (khí phế thủng)
với mức độ khác nhau ở từng bệnh nhân (hình
này và kể cả những lần trước. Khí phế thủng hay
nói cách khác là sự phá hủy bề mặt trao đổi khí
của phổi (phế nang) là một thuật ngữ giải phẫu
bệnh, thường được sử dụng trên lâm sàng (nhưng
không chính xác) và chỉ mô tả được một vài bất
thường cấu trúc ở bệnh nhân COPD. Viêm phế
quản mạn, hay nói cách khác là sự hiện diện của
ho và khạc đàm trong ít nhất ba tháng của một
13
năm và trong hai năm liên tiếp là một thuật ngữ
có ích về mặt lâm sàng và dòch tể học. Tuy nhiên
thuật ngữ này không phản ánh được những ảnh
hưởng chính của tắc nghẽn luồng khí lên tình hình
bệnh tật và tử vong ở bệnh nhân COPD. Điều
quan trọng cần phải chú ý là ho và khạc đàm có
thể xuất hiện trước khi có tắc nghẽn luồng khí.
Ngược lại, một số bệnh nhân có thể tắc nghẽn
luồng khí đáng kể nhưng không có ho và khạc
đàm mạn tính.
COPD và các bệnh kèm theo
Do COPD thường xuất hiện ở tuổi trung
niên và ở những người hút thuốc lá trong một thời
gian dài nên bệnh nhân thường có thêm các bệnh
khác kèm theo hoặc do thuốc lá hoặc do tuổi tác
1
.
Bản thân COPD cũng có những ảnh hưởng ngoài
phổi đáng kể (ảnh hưởng toàn thân) có khả năng
luồng khí mạn tính.
BỆNH SỬ TỰ NHIÊN
Bệnh sử tự nhiên của COPD thì thay đổi
và không phải tất cả bệnh nhân COPD đều diễn
tiến giống nhau. Tuy nhiên, COPD thường là một
bệnh tiến triễn, nhất là khi bệnh nhân vẫn còn
tiếp xúc với các tác nhân độc hại. Ngưng tiếp xúc
với những tác nhân này, thậm chí khi tắc nghẽn
luồng khí đã xảy ra có thể làm cải thiện chức
năng phổi và làm chậm hoặc thậm chí làm ngưng
sự tiến triển của bệnh. Tuy nhiên, một khi COPD
đã xuất hiện thì COPD và các bệnh lý khác kèm
theo không thể nào được chữa khỏi và vì vậy cần
phải được điều trò liên tục. Điều trò COPD giúp
làm giảm triệu chứng, cải thiện chất lượng cuộc
sống, giảm các đợt kòch phát cấp và có thể làm
giảm tử vong.
Phân loại độ nặng dựa vào hô hấp ký
Vì mục đích giáo dục, một phân loại đơn
giản độ nặng của bệnh dựa vào hô hấp ký, chia
độ nặng của bệnh thành 4 giai đoạn đã được đề
nghò (hình 1.2). Hô hấp ký thì cần thiết cho chẩn
đoán và là phương tiện hữu ích để mô tả độ nặng
của những thay đổi giải phẫu bệnh trong COPD.
Những điểm cắt hô hấp ký được sử dụng (ví dụ tỷ
lệ FEV
50% ≤ FEV
1
≤ 80% dự đoán
3: COPD nặng FEV
1
/FVC < 0,7
30% ≤ FEV
1
≤ 50% dự đoán
4: COPD rất
nặng
FEV
1
/FVC < 0,7
FEV
1
< 30% dự đoán hoặc
FEV
1
< 50% dự đoán kèm suy
hô hấp mạn tính.
FEV
1
: Forced expiratory volume in one second;
FVC: Forced vital capacity; Suy hô hấp: PaO
2
< 8
kPa (60mmHg) có kèm hoặc không kèm PaCO
2
>
10
để giảm thiểu
sự biến thiên. Trong một nghiên cứu trên dân số
ngẫu nhiên nhằm xác đònh các giá trò tham khảo
của hô hấp ký, giá trò sau giãn phế quản khác
đáng kể so với giá trò trước giãn phế quản
9
. Hơn
nữa, test chức năng phổi sau giãn phế quản trong
cộng đồng đã cho thấy là có hiệu quả để nhận
diện những bệnh nhân bò COPD
11
.
Trong khi FEV
1
/ FVC sau giãn phế quản
và FEV
1
được sử dụng cho chẩn đoán và đánh giá
độ nặng của COPD, mức độ hồi phục của tắc
nghẽn luồng khí (Δ FEV
1
sau sử dụng thuốc giãn
phế quản hoặc glucocorticosteroids) không còn
được khuyến cáo dùng để chẩn đoán, chẩn đoán
phân biệt với hen suyễn hoặc tiên đoán đáp ứng
với điều trò lâu dài bằng giãn phế quản hoặc
glucocorticosteroids.
không được xem như là một giai đoạn của COPD
bởi vì không đủ bằng chứng cho thấy những bệnh
nhân đủ tiêu chuẩn nguy cơ (ho và khạc đàm mạn
tính, hô hấp ký bình thường) sẽ tiến triễn đến giai
đoạn 1. Tuy nhiên, tầm quan trọng về thông tin
sức khỏe cho cộng đồng rằng ho và khạc đàm
mạn tính không phải là triệu chứng thông thường
vẫn không thay đổi và sự hiện diện của chúng bắt
buộc phải tìm nguyên nhân.
Ngược lại, có thể có tắc nghẽn luồng khí
đáng kể mà không có ho và khạc đàm mạn tính.
Mặc dù COPD được đònh nghóa dựa trên tắc
nghẽn luồng khí, trong thực tế bệnh nhân thường
tìm đến với thầy thuốc vì một triệu chứng nào đó
của bệnh ảnh hưởng đến đời sống bệnh nhân (và
nhờ vậy có thể chẩn đoán được). Do đó, COPD có
thể được chẩn đoán tại bất kỳ giai đoạn nào của
bệnh.
Giai đoạn 1 (COPD nhẹ): đặc trưng bởi tắc
nghẽn luồng khí nhẹ (FEV
1
/FVC < 0,7; FEV
1
≥
80% dự đoán). Triệu chứng ho và khạc đàm mạn
tính có thể hiện diện nhưng không phải luôn luôn.
Ở giai đoạn này, bệnh nhân thường không biết
được chức năng phổi của họ bất thường.
tính khác được đặc trưng bởi quá trình viêm của
đường dẫn khí. Viêm mạn tính của đường dẫn khí
thì khác nhau ở hai bệnh (hình 1.4). Tuy nhiên,
những người hen suyễn mà có tiếp xúc với các tác
nhân độc hại đặc biệt là khói thuốc lá
Giai đoạn 4 (COPD rất nặng): đặc trưng bởi
tắc nghẽn luồng khí nặng (FEV
1
/FVC < 0,7; FEV
1
< 30% dự đoán hoặc FEV
1
< 50% dự đoán kèm
suy hô hấp mạn tính). Suy hô hấp được đònh nghóa
là PaO
2
< 8 kPa (60mmHg) có kèm hoặc không
kèm PaCO
2
> 6,7 kPa (50mmHg) khi thở khí trời ở
mực nước biển. Suy hô hấp cũng có thể dẫn đến
các ảnh hưởng trên tim như tâm phế (suy tim
phải). Các triệu chứng thực thể của tâm phế là
tónh mạch cổ nổi và phù mắt cá chân ấn lõm.
Bệnh nhân có thể ở giai đoạn 4 (COPD rất nặng)
nếu FEV
16
cũng có
thể có tắc nghẽn luồng khí cố đònh và có một tình
Nguyên nhân của tắc nghẽn luồng khí ở người
không hút thuốc lá cần phải được nghiên cứu
thêm.
13
. Không phải tất cả bệnh
nhân COPD đều có một diễn tiến bệnh đi theo
một đường thẳng như trong biểu đồ của Fletcher
và Peto, mà đây chỉ là đường biểu diễn trung bình
của nhiều bệnh nhân khác nhau
14
. Nguyên nhân
tử vong của bệnh nhân COPD chủ yếu là do bệnh
lý tim mạch, ung thư phổi và ở những người với
COPD nặng là suy hô hấp
Hình 1.4: Hen suyễn và COPD
HEN SUYỄNCOPD
Tác nhân nhạy cảm Tác nhân gây độc
Viêm đường dẫn khí
ở bệnh nhân hen
Lymphocyte-T CD4+
và Eosinophil
Viêm đường dẫn khí
ở bệnh nhân COPD
Có thể
hồi phục
được
Khơng thể
hồi phục
Lao phổi và COPD
Tại nhiều nước đang phát triển, lao phổi
và COPD rất phổ biến
21
. Ở những nước nơi mà lao
phổi rất phổ biến, các bất thường hô hấp thường
được quy là do bệnh này
22
. Ngược lại, ở những nơi
ít bò lao phổi thì chẩn đoán lao phổi có thể bò bỏ
sót. Vì thế, tất cả những người có triệu chứng của
COPD cần phải chẩn đoán phân biệt với lao phổi,
nhất là ở những nơi có lưu hành độ của bệnh lao
cao
23
.
16
TAØI LIEÄU THAM KHAÛO
1. Soriano JB, Visick GT, Muellerova H, Payvandi
N, Hansell AL.Patterns of comorbidities in newly
diagnosed COPD and asthmain primary care.
Chest 2005;128(4):2099-107.
2. Agusti AG. Systemic effects of chronic
obstructive pulmonary disease. Proc Am Thorac
Soc 2005;2(4):367-70.
3. van Weel C. Chronic diseases in general
practice: the longitudinal dimension. Eur J Gen
Gulsvik A. Implications of reversibility testing on
prevalence and risk factors for chronic obstructive
pulmonary disease: a community study. Thorax
2005;60(10):842-7.
12. Rennard S, Vestbo J. COPD: the dangerous
underestimate of 15%. Lancet 2006;367:1216-9.
13. Lokke A, Lange P, Scharling H, Fabricius P,
Vestbo J. Developing COPD - a 25 years follow-
up study of the general population. Thorax
2006;61:935-9.
14. Fletcher C, Peto R. The natural history of
chronic airflow obstruction. BMJ
1977;1(6077):1645-8.
15. Mannino DM, Doherty DE, Sonia Buist A.
Global Initiative on Obstructive Lung Disease
(GOLD) classification of lung disease and
mortality: findings from the Atherosclerosis Risk
in Communities (ARIC) study. Respir Med
2006;100(1):115-22.
16. Thomson NC, Chaudhuri R, Livingston E.
Asthma and cigarette smoking. Eur Respir J
2004;24(5):822-33.
17. Lange P, Parner J, Vestbo J, Schnohr P, Jensen
G. A 15-year follow-up study of ventilatory
function in adults with asthma. N Engl J Med
1998;339(17):1194-200.
18. Chanez P, Vignola AM, O'Shaugnessy T,
Enander I, Li D, Jeffery PK, et al. Corticosteroid
reversibility in COPD is related to features of
asthma. Am J Respir Crit Care Med
CHÖÔNG 2
GAÙNH NAËNG CUÛA COPD
18
CHƯƠNG 2: GÁNH NẶNG CỦA COPD NHỮNG ĐIỂM CHÍNH
* COPD là nguyên nhân hàng đầu của bệnh tật và
tử vong trên toàn thế giới. Đây là một gánh nặng
kinh tế và xã hội đáng kể và ngày càng gia tăng.
* Tần suất, bệnh tật và tử vong của COPD thay
đổi giữa các nước và giữa các nhóm người khác
nhau trong cùng một nước nhưng nói chung, có
liên quan trực tiếp đến tần suất của hút thuốc lá
mặc dù ở nhiều nước, ô nhiễm không khí do chất
đốt từ gỗ và các chất đốt sinh khối khác đã được
xác đònh là một yếu tố nguy cơ của COPD.
* Tần suất và gánh nặng của COPD được tiên
đoán là gia tăng trong những thập kỷ tới do việc
tiếp xúc liên tục với các yếu tố nguy cơ của COPD
và sự thay đổi cấu trúc tuổi của dân số thế giới.
* COPD là một bệnh lý tốn kém, cả về chi phí trực
tiếp (giá của các nguồn lực chăm sóc sức khỏe
gặp nhiều khó khăn. Hơn nữa, việc bỏ sót chẩn
đoán COPD làm cho số liệu thống kê thấp đáng
kể. Số liệu khác nhau ở từng nước và phụ thuộc
vào khả năng hiểu và nhận biết COPD của các
chuyên gia y tế, các đơn vò chăm sóc sức khỏe và
sự sẵn có của các loại thuốc dùng để điều trò
COPD
1
.
Có vài nguồn thông tin về gánh nặng của
COPD: Sách trắng về hô hấp của châu Âu
2
, xuất
bản năm 2003 (2003 European Lung White Book),
Website của Tổ chức y tế thế giới
(
), của Ngân hàng thế giới và
Tổ chức y tế thế giới
(
/>ase) và Website của từng nước như Trung tâm
kiểm soát và phòng ngừa bệnh tật của Hoa Kỳ
(
) và Điều tra về sức khỏe ở
Anh Quốc (
).
Tần suất Các dữ kiện về tần suất COPD hiện có
bệnh có biểu hiện lâm sàng, khi mà bệnh đủ nặng
để cần được chăm sóc y tế và vì thế, có khả năng
tạo ra chi phí trực tiếp và gián tiếp đáng kể.
19
Ngược lại, dữ kiện từ các nghiên cứu về
tần suất được thực hiện ở một số nước, sử dụng
phương pháp chuẩn và có dùng hô hấp ký ước
tính: khoảng ¼ người trưởng thành từ 40 trở lên có
thể có tắc nghẽn luồng khí được xếp loại như
COPD giai đoạn 1: COPD giai đoạn nhẹ hoặc có
thể nặng hơn
6-9
.
Do có sự khác biệt lớn giữa tần suất của
COPD theo đònh nghóa dựa vào sự tắc nghẽn
luồng khí và theo đònh nghóa COPD dựa vào bệnh
có ý nghóa lâm sàng, vẫn còn tiếp tục bàn cãi liệu
sử dụng đònh nghóa nào thì tốt hơn trong việc đánh
giá gánh nặng của COPD. Chẩn đoán và can thiệp
sớm có thể giúp nhận dạng số bệnh nhân có khả
năng tiến đến giai đoạn bệnh có biểu hiện lâm
sàng, nhưng cho đến hiện tại, vẫn còn chưa có đủ
dữ kiện ủng hộ việc tầm soát COPD trong cộng
đồng bằng hô hấp ký
10
.
Các tiêu chuẩn chẩn đoán khác nhau
cũng dẫn đến những ước lượng khác nhau và ít có
sự đồng thuận về tiêu chuẩn thích hợp nhất để có
thể sử dụng trong nhiều tình huống khác nhau (vd:
cứu kém sẽ đưa đến các sai lệch do chọn lựa về
tần suất và đôi khi, rất khó xác đònh được hướng
sai lệch. Thở ra không đủ trong lúc đo hô hấp ký
khá thường gặp và sẽ dẫn đến tỷ lệ FEV
1
/FVC
cao giả tạo và vì vậy, đánh giá thấp hơn tần suất
thật sự của COPD. Dùng giá trò trước giãn phế
quản thay cho giá trò sau giãn phế quản sẽ dẫn
đến chẩn đoán quá mức tắc nghẽn luồng khí
không hồi phục. Trong tương lai, các nghiên cứu
về tần suất nên sử dụng hô hấp ký sau giãn phế
quản để xác đònh chẩn đoán COPD
16
.
Mặc dù có những phức tạp này, dữ kiện
hiện có vẫn giúp đưa ra một số kết luận về tần
suất của COPD. Việc tổng quan một cách có hệ
thống và làm các nghiên cứu phân tích hệ thống
(meta-analysis) đã được thực hiện ở 28 nước từ
năm 1990 đến năm 2004
3
và một nghiên cứu từ
Nhật Bản
17
cho thấy: Tần suất của COPD (Giai
đoạn 1: COPD nhẹ và nặng hơn) cao đáng kể ở
những người hiện đang hút thuốc lá và những
người có hút thuốc lá nhưng đã bỏ hút hơn là trong
nhóm không hút thuốc. Tần suất COPD cao hơn ở
Tần suất COPD theo tuổi trong
5 thành phố của Mỹ La Tinh
6
.
Tần suất tính dựa trên FEV
1
/FVC sau giãn phế
quản < 0,7 (Giai đoạn 1: COPD nhẹ và nặng
hơn)
20
Tổn thất do COPD
Các đo lường tổn thất cổ điển bao gồm số
lần khám bệnh, nhập cấp cứu và nhập viện. Mặc
dù cơ sở dữ liệu cho những đo lường này của
COPD ít khi có sẵn và cũng thường ít tin cậy hơn
là cơ sở dữ liệu về tử vong nhưng các số liệu hạn
chế hiện có vẫn cho thấy COPD tăng theo tuổi và
ở nam cao hơn ở nữ
19-21
. Tuy nhiên, trong các bộ
dữ kiện này, COPD giai đoạn sớm (giai đoạn 1:
COPD nhẹ và giai đoạn 2: COPD trung bình)
thường không được nhận biết, không được chẩn
đoán, không được điều trò và vì vậy, không được
chẩn đoán trong hồ sơ y khoa của bệnh nhân.
Tổn thất do COPD có thể bò ảnh hưởng
bởi nhiều tình trạng mạn tính khác đi kèm
22
COPD là tính số năm bò mất đi do chết sớm hoặc
do sống chung với tình trạng tàn tật (years of
living with disability: YLD). Nghiên cứu gánh
nặng toàn cầu của COPD cho thấy: COPD làm
mất đi 1,68 năm do chết sớm hoặc do sống chung
với tình trạng tàn tật (years of living with
disability: YLD)/1.000 dân, chiếm 1,8% so với
tổng số năm phải mất đi do chết sớm hoặc do
sống chung với tình trạng tàn tật (years of living
with disability: YLD), với tổn thất ở nam cao hơn
là ở nữ (1,93% so với 1,42%)
8,24,25
.
Tử vong
Tổ chức y tế thế giới (World Health
Organization: WHO) xuất bản thống kê tử vong
hàng năm do các nguyên nhân trong tất cả các
vùng thuộc WHO. Thông tin có sẵn từ Website
Tuy nhiên, dữ kiện
cần được diễn giải thận trọng bởi vì sự không
đồng nhất trong thuật ngữ của COPD. Trước năm
1968 và cập nhật lần thứ 8 của phân loại quốc tế
về bệnh tật (International Classification of
Disease: ICD), thuật ngữ viêm phế quản mạn và
khí phế thủng được sử dụng rộng rãi. Trong những
năm 1970, thuật ngữ COPD thay thế dần thuật
ngữ cũ ở một vài nước chứ không phải là ở tất cả
các nước, làm cho việc so sánh tử vong do COPD
thay đổi nhân chủng học chiếm ưu thế hơn.
Khuynh hướng tỷ lệ tử vong theo thời
gian cung cấp thông tin quan trọng hơn nhưng một
lần nữa, những số liệu thống kê này bò ảnh hưởng
21
nặng bởi thuật ngữ, sự nhận biết về bệnh và các
sai lệch về giới tính trong chẩn đoán. Tử vong do
COPD thường là vết tích của vài thập kỷ sau khi
hút thuốc lá. Tỷ lệ tử vong chuẩn hóa theo tuổi
cho 6 nguyên nhân tử vong hàng đầu ở Hoa Kỳ từ
năm 1970 đến năm 2002
26
cho thấy, trong khi tử
vong do các tình trạng mạn tính này giảm trong
thời gian qua, tử vong do COPD vẫn tiếp tục tăng
(hình 2.2). Tử vong do COPD ở Canada, ở cả nam
lẫn nữ cũng tăng từ năm 1997. Tuy nhiên, ở Châu
Âu, có một khuynh hướng khác, với tử vong do
COPD đã giảm ở nhiều nước
7
. Không có nguyên
nhân rõ ràng về khuynh hướng khác biệt ở Bắc
Mỹ và Châu Âu, mặc dù các yếu tố giả đònh như
là sự hiểu biết, thuật ngữ và sai lệch trong chẩn
đoán có thể góp phần vào sự khác biệt này.
Hình 2.2:
Khuynh hướng tỷ lệ tử vong
được chuẩn hóa theo tuổi cho 6 nguyên nhân tử
vong hàng đầu ở Hoa Kỳ, từ năm 1970 đến năm
GÁNH NẶNG KINH TẾ VÀ
XÃ HỘI CỦA COPD
Gánh nặng kinh tế
COPD là một bệnh lý gây ra khá nhiều
tốn kém, cả chi phí trực tiếp (giá trò của các nguồn
lực chăm sóc sức khỏe dùng để chẩn đoán và điều
trò) và chi phí gián tiếp (hậu quả tính bằng tiền
của tàn tật, nghỉ làm, chết sớm và chi phí cho
người chăm sóc…)
2
. Ở các nước đã phát triển, các
đợt kòch phát cấp của COPD tạo ra gánh nặng lớn
cho hệ thống chăm sóc sức khỏe. Ở liên minh
châu Âu, tổng chi phí trực tiếp của các bệnh hô
hấp ước tính là khoảng 6% tổng ngân sách chăm
sóc sức khỏe, với COPD chiếm khoảng 56% (38,6
triệu Euros) của chi phí này
2
. Tại Hoa Kỳ vào
năm 2002, chi phí trực tiếp cho COPD là 18 tỉ và
chi phí gián tiếp là 14,1 tỉ
28
. Chi phí cho mỗi bệnh
nhân khác nhau ở mỗi nước bởi vì chi phí này phụ
người không bò COPD (5.409 USD so với 2.001
USD)
30
. Trong một nghiên cứu chăm sóc y khoa
năm 1992, chương trình bảo hiểm y tế cho người
trên 65 tuổi của chính phủ Hoa Kỳ, chi phí bình
quân đầu người hàng năm của bệnh nhân COPD
(8.482 USD) gần bằng 2,5 lần chi phí cho người
không bò COPD (3.511 USD)
31
.
Bệnh nhân COPD thường được chăm sóc
chuyên khoa tại nhà của họ. Ở một vài nước, các
chương trình bảo hiểm y tế quốc gia chi trả cho
chi phí oxygen, chi phí chăm sóc điều dưỡng, phục
hồi chức năng và thậm chí thông khí cơ học tại
nhà mặc dù mức độ chi trả cho từng loại khác
nhau giữa các nước
32
. Bất kỳ một sự ước tính nào
về chi phí y tế trực tiếp cho chăm sóc tại nhà đều
đánh giá thấp hơn chi phí thực tế bởi vì thường
hay không tính giá trò công chăm sóc cho bệnh
nhân từ những người trong gia đình của họ. Ở các
nước đang phát triển, chi phí y tế trực tiếp ít quan
trọng hơn là ảnh hưởng của COPD đến năng lực ở
nơi làm việc và ở nhà. Bởi vì các đơn vò chăm sóc
sức khỏe không cung cấp các dòch vụ chăm sóc hỗ
trợ lâu dài cho những người bò tàn tật nặng, COPD
giới vào năm 2020, sau bệnh tim thiếu máu cục
bộ, trầm cảm nặng, tai nạn giao thông và tai biến
mạch máu não. Sự gia tăng đáng kể trong gánh
nặng toàn bộ của COPD trong vòng 20 năm nữa
phản ánh việc sử dụng thuốc lá gia tăng trong
nhiều nước và sự thay đổi cấu trúc tuổi trong dân
số ở các nước đang phát triển.
23
TAØI LIEÄU THAM KHAÛO
1. Tirimanna PR, van Schayck CP, den Otter JJ,
van Weel C, van Herwaarden CL, van den Boom
G, et al. Prevalence of asthma and COPD in
general practice in 1992: has it changed since
1977? Br J Gen Pract 1996;46(406):277-81.
2. European Respiratory Society. European Lung
White Book: Huddersfield, European Respiratory
Society Journals, Ltd; 2003.
3. Halbert RJ, Natoli JL, Gano A, Badamgarav E,
Buist AS, Mannino DM. Global burden of COPD:
systematic review and meta-analysis. Eur Respir J
2006.
4. Halbert RJ, Isonaka S, George D, Iqbal A.
Interpreting COPD prevalence estimates: what is
the true burden of disease? Chest
2003;123(5):1684-92.
5. van den Boom G, van Schayck CP, van Mollen
MP, Tirimanna PR, den Otter JJ, van Grunsven
PM, et al. Active detection of chronic obstructive
2006;3:1-6.
12. Roberts SD, Farber MO, Knox KS, Phillips
GS, Bhatt NY, Mastronarde JG, et al. FEV1/FVC
ratio of 70% misclasifies patients with obstructin
at the extremes of age. Chest 2006;130:200-6.
13. Celli BR, Halbert RJ, Isonaka S, Schau B.
Population impact of different definitions of
airway obstruction. Eur Respir J 2003;22(2):268-
73.
14. Pellegrino R, Viegi G, Brusasco V, Crapo RO,
Burgos F, Casaburi R, et al. Interpretative
strategies for lung function tests. Eur Respir J
2005;26(5):948-68.
15. Hankinson JL, Odencrantz JR, Fedan KB.
Spirometric reference values from a sample of the
general US population. Am J Respir Crit Care
Med 1999;159:179-87.
16. Sterk PJ. Let's not forget: the GOLD criteria
for COPD are based on post-bronchodilator FEV1.
Eur Respir J
2004;23:497-8.
17. Fukuchi Y, Nishimura M, Ichinose M, Adachi
M, Nagai A, Kuriyama T, et al. COPD in Japan:
the Nippon COPD Epidemiology study.
Respirology 2004;9(4):458-65.
18. COPD Prevalence in 12 Asia-Pacific Countries
and regions: Projections based on the COPD
prevalence estimation model. Regional COPD
Working Group. Respirology 2003;8:192-8.
19. National Heart, Lung, and Blood Institute.
1997;349(9064):1498-504.
26. Jemal A, Ward E, Hao Y, Thun M. Trends in
the leading causes of death in the United States,
1970-2002. JAMA 2005;294(10):1255-9.
27. Mannino DM, Homa DM, Akinbami LJ, Ford
ES, Redd SC. Chronic obstructive pulmonary
disease surveillance United States, 1971-2000.
MMWR Surveill Summ 2002;51(6):1-16.
28. National Heart, Lung, and Blood Institute.
Morbidity and mortality chartbook on
cardiovascular, lung and blood diseases. Bethesda,
Maryland: US Department of Health and Human
Services, Public Health Service, National
Institutes of Health. Accessed at:
/>book.htm; 2004.
29. Jansson SA, Andersson F, Borg S, Ericsson A,
Jonsson E, Lundback B. Costs of COPD in Sweden
according to disease severity. Chest
2002;122(6):1994-2002.
30. Sullivan SD, Strassels S, Smith DH.
Characterization of the incidence and cost of
COPD in the US. Eur Respir J 1996;9(Supplement
23):S421.
31. Grasso ME, Weller WE, Shaffer TJ, Diette
GB, Anderson GF. Capitation, managed care, and
chronic obstructive pulmonary disease. Am J
Respir Crit Care Med 1998;158:133-8.
Characterization of the incidence and cost of
COPD in the US. Eur Respir J 1996;9(Supplement
23):S421.
31. Grasso ME, Weller WE, Shaffer TJ, Diette
GB, Anderson GF. Capitation, managed care, and
chronic obstructive pulmonary disease. Am J
Respir Crit Care Med 1998;158:133-8.
32. Fauroux B, Howard P, Muir JF. Home
treatment for chronic respiratory insufficiency: the
situation in Europe in 1992. The European
Working Group on Home Treatment for Chronic
Respiratory Insufficiency. Eur Respir J
1994;7:1721-6.
25