Đề tài: Sàn giao dịch cà phê Buôn Ma Thuột BCEC GVHD: Th.S Đoàn Ngọc Duy Linh
Để có thể hoàn thành bài tiểu luận này nhóm chúng em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ từ
phía các thầy cô và nhà trường.. Chúng em xin chân thành cảm
ơn:
• Ban Giám Hiệu trường đại học Công Nghiệp đã cung
cấp cơ sở vật chất cần thiết: phòng học, trang thiết bị
hiện đại … để tạo điều kiện học tập tốt hơn cho chúng
em.
• Cảm ơn khoa Thương mại-Du lịch và khoa Quản trị kinh
doanh đã trang bị những kiến thức cơ bản, quan trọng,
cần thiết về đề tài tiểu luận.
• Đặc biệt chúng em xin gửi lời cảm ơn đến Ths Đôanf
Ngọc Duy Linh đã tận tình truyền đạt kiến thức và
hướng dẫn chúng em thực hiện bài tiểu luận này.
Một lần nữa chúng em xin chân thành cảm ơn!
Nhóm TH: SPIRIT FIRE 1
Đề tài: Sàn giao dịch cà phê Buôn Ma Thuột BCEC GVHD: Th.S Đoàn Ngọc Duy Linh
LỜI MỞ ĐẦU
Nhắc đến kinh tế Việt Nam người ta sẽ nghĩ ngay đó là một trong những nước xuất khẩu gạo, cà
phê,… đứng đầu trên thế giới. Đúng như vậy, cà phê là một trong những nông sản đã góp phần đưa
tên tuổi của nước ta ra thế giới. Và hòa mình cùng xu hướng thương mại điện tử hóa ngày nay, giao
dịch mua bán cà phê trong nước ra không chỉ gói gọn trong hình thức mua bán trực tiếp thông
thường mà nó còn được thực hiện một cách quy mô, chuyên nghiệp hơn. Điều đó được thể hiện rõ
nét bởi sự ra đời của Trung tâm giao dịch cà phê Buôn Ma Thuột BCEC. Có thể nói, BCEC ra đời
đánh dấu một bước ngoặc lớn trong giao dịch nông sản ở Việt Nam
Vậy cơ chế hoạt động của BCEC là như thế nào? Và thực trang hoạt động hiện nay của nó ra sao?
Mời thầy và các bạn đến với tiểu luận: “ Tìm hiểu về trung tâm giao dịch cà phê Buôn Ma Thuột” để
hiểu rõ hơn về trung tâm này.
Trong quá trình thực hiện chúng em sẽ không thể tránh khỏi sai sót, mong thầy và các bạn thông cảm
và góp ý cho chúng em để bài tiểu luận được hoàn thiện hơn.
Nhóm TH: SPIRIT FIRE 2
cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được
Nhóm TH: SPIRIT FIRE 3
Đề tài: Sàn giao dịch cà phê Buôn Ma Thuột BCEC GVHD: Th.S Đoàn Ngọc Duy Linh
giao nhận một cách hữu hình, cả các sản phẩm giao nhận cũng như những thông tin số hoá thông
qua mạng Internet".
Theo Ủy ban Thương mại điện tử của Tổ chức Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương
(APEC), "Thương mại điện tử là công việc kinh doanh được tiến hành thông qua truyền thông số
liệu và công nghệ tin học kỹ thuật số".
Hiểu theo nghĩa rộng
Thương mại điện tử hiểu theo nghĩa rộng là các giao dịch tài chính và thương mại bằng
phương tiện điện tử như: trao đổi dữ liệu điện tử, chuyển tiền điện tử và các hoạt động như gửi/rút
tiền bằng thẻ tín dụng.
Theo định nghĩa này, có thể thấy phạm vi hoạt động của thương mại điện tử rất rộng, bao quát
hầu hết các lĩnh vực hoạt động kinh tế, trong đó hoạt động mua bán hàng hóa và dịch vụ chỉ là một
phạm vi rất nhỏ trong thương mại điện tử.
Theo Ủy ban châu Âu: "Thương mại điện tử được hiểu là việc thực hiện hoạt động kinh doanh
qua các phương tiện điện tử. Nó dựa trên việc xử lý và truyền dữ liệu điện tử dưới dạng text, âm
thanh và hình ảnh".
Thương mại điện tử trong định nghĩa này gồm nhiều hành vi trong đó: hoạt động mua bán hàng
hóa; dịch vụ; giao nhận các nội dung kỹ thuật số trên mạng; chuyển tiền điện tử; mua bán cổ phiếu
điện tử, vận đơn điện tử; đấu giá thương mại; hợp tác thiết kế; tài nguyên trên mạng; mua sắm công
cộng; tiếp thị trực tiếp với người tiêu dùng và các dịch vụ sau bán hàng; đối với thương mại hàng
hoá (như hàng tiêu dùng, thiết bị y tế chuyên dụng) và thương mại dịch vụ (như dịch vụ cung cấp
thông tin, dịch vụ pháp lý, tài chính); các hoạt động truyền thống (như chăm sóc sức khoẻ, giáo dục)
và các hoạt động mới (như siêu thị ảo)
Theo quan điểm thứ hai nêu trên, "thương mại" (commerce) trong "thương mại điện tử" không
chỉ là buôn bán hàng hoá và dịch vụ (trade) theo các hiểu thông thường, mà bao quát một phạm vi
rộng lớn hơn nhiều, do đó việc áp dụng thương mại điện tử sẽ làm thay đổi hình thái hoạt động của
hầu hết nền kinh tế. Theo ước tính đến nay, thương mại điện tử có tới trên 1.300 lĩnh vực ứng dụng,
trong đó, buôn bán hàng hoá và dịch vụ chỉ là một lĩnh vực ứng dụng.
1.2.1 B2B (Business to Business)
Nhóm TH: SPIRIT FIRE 5
Đề tài: Sàn giao dịch cà phê Buôn Ma Thuột BCEC GVHD: Th.S Đoàn Ngọc Duy Linh
Là loại hình giao dịch qua các phương tiện điện tử giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp. Đây
là loại hình thương mại điện tử gắn với mối quan hệ giữa các công ty với nhau. Khoảng 80% thương
mại điện tử theo loại hình này và phần lớn các chuyên gia dự đoán rằng thương mại điện tử B2B sẽ
tiếp tục phát triển nhanh hơn B2C.
Phần lớn các ứng dụng B2B là trong lĩnh vực quản lý cung ứng ( Đặc biệt chu trình đặt hàng
mua hàng), quản lý kho hàng (Chu trình quản lý đặt hàng gửi hàng-vận đơn), quản lý phân phối (đặc
biệt trong việc chuyển gia các chứng từ gửi hàng) và quản lý thanh toán (ví dụ hệ thống thanh toán
điện tử hay EPS).
1.2.2 B2C (Business to Customers)
Là thương mại trên internet giữa các doanh nghiệp và người tiêu dùng, liên quan đến việc
khách hàng thu thập thông tin, mua các hàng hoá thực (hữu hình như là sách hoặc sản phẩm tiêu
dùng) hoặc sản phẩm thông tin (hoặc hàng hoá về nguyên liệu điện tử hoặc nội dung số hoá, như
phần mềm, sách điện tử) và các hàng hoá thông tin, nhận sản phẩm qua mạng điện tử.
Đơn giản hơn chúng ta có thể hiểu: Thương mại điện tử B2C là việc một doanh nghiệp dựa
trên mạng internet để trao đổi các hang hóa dịch vụ do mình tạo ra hoặc do mình phân phối.
1.2.3 C2C (Customers to Customers)
Thương mại điện tử khách hàng tới khách hàng C2C đơn giản là thương mại giữa các cá nhân
và người tiêu dùng.
Loại hình thương mại điện tử này được phân loại bởi sự tăng trưởng của thị trường điện tử và
đấu giá trên mạng, đặc biệt với các ngành theo trục dọc nơi các công ty/ doanh nghiệp có thể đấu
thầu cho những cái họ muốn từ các nhà cung cấp khác nhau. Có lẽ đây là tiềm năng lớn nhất cho
việc phát triển các thị trường mới.
1.2.4 B2G (Business to Government)
Nhóm TH: SPIRIT FIRE 6
Đề tài: Sàn giao dịch cà phê Buôn Ma Thuột BCEC GVHD: Th.S Đoàn Ngọc Duy Linh
Thương mại điện tử giữa doanh nghiệp với chính phủ (B2G) được định nghĩa chung là
thương mại giữa công ty và khối hành chính công. Nó bao hàm việc sử dụng Internet cho mua bán
• Bán lẻ hàng hoá hữu hình (retail of tangible goods).
1.5 Lợi ích và thách thức của Thương mại điện tử
1.5.1 Lợi ích
Mặc dù hiện nay Thương mại điện tử mới chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong các hoạt động kinh tế, nó đã
và đang góp phần đẩy mạnh các quá trình thương mại thông thường và mở ra các cách làm ăn mới,
các cách tổ chức công việc mới. Thương mại điện tử là để phát triển các loại sản phẩm, dịch vụ hỗ
trợ cho các quá trình cạnh tranh giá, đặc biệt là việc sử dụng intelligent agents. Lợi ích của Thương
mại điện tử được thể hiện ở các điểm sau:
1.5.1.1 Đối với các doanh nghiệp
• Mở rộng thị trường: Với chi phí đầu tư nhỏ hơn nhiều so với thương mại truyền thống, các
công ty có thể mở rộng thị trường, tìm kiếm, tiếp cận nhà cung cấp, khách hàng và đối tác
trên khắp thế giới. Việc mở rộng mạng lưới nhà cung cấp, khách hàng cũng cho phép các tổ
chức có thể mua với giá thấp hơn và bán được nhiều sản phẩm hơn.
• Cải thiện hệ thống phân phối:giảm lượng hàng lưu kho và độ chậm trễ trong phân phối hàng.
Hệ thống cửa hàng giới thiệu sản phẩm được thay thế hoặc hỗ trợ bởi các showroom trên
mạng.
• Vượt giới hạn về thời gian:việc tự động hóa các giao dịch thông qua Web và Internet giúp
hoạt động kinh doanh được thực hiện 24/7/365 mà không mất thêm nhiều chi phí biến đổi.
• Sản xuất hàng theo yêu cầu:còn được biết đến dưới tên gọi “Chiến lược kéo”, lôi kéo khách
hàng đến với doanh nghiệp bằng khả năng đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng, ví dụ như
hãng Dell Computer Corp.
• Mô hình kinh doanh mới: các mô hình kinh doanh mới với những lợi thế và giá trị mới cho
khách hàng. Mô hình của Amazon.com, mua hàng theo nhóm hay đấu giá nông sản qua mạng
đến các sàn giao dịch B2B là điển hình của những thành công này.
Nhóm TH: SPIRIT FIRE 8
Đề tài: Sàn giao dịch cà phê Buôn Ma Thuột BCEC GVHD: Th.S Đoàn Ngọc Duy Linh
• Tăng tốc độ tung sản phẩm ra thị trường: với lợi thế về thông tin và khả năng phối hợp giữa
các doanh nghiệp làm tăng hiệu quả sản xuất và giảm thời gian tung sản phẩm ra thị trường.
• Giảm chi phí sản xuất:giảm chi phí giấy tờ, chi phí thông tin, chi phí in ấn, gửi văn bản
truyền thống.
• Lợi thế cạnh tranh: kinh doanh trên mạng là “sân chơi” cho sự sáng tạo, nơi đây, doanh nhân
tha hồ áp dụng những ý tưởng hay nhất, mới nhất về dịch vụ hỗ trợ, chiến lược tiếp thị v.v…
• Các lợi ích khác: nâng cao uy tín, cải thiện hình ảnh doanh nghiệp; cải thiện chất lượng dịch
vụ khách hàng; tìm kiếm các đối tác kinh doanh mới; đơn giản hóa và chuẩn hóa các quy
trình giao dịch; tăng năng suất, tăng khả năng tiếp cận thông tin; tăng sự linh hoạt trong giao
dịch và hoạt động kinh doanh.
1.5.1.2 Đối với người tiêu dùng
• Vượt giới hạn về không gian và thời gian: Thương mại điện tử cho phép khách hàng mua sắm
mọi nơi, mọi lúc trên khắp thế giới.
• Nhiều lựa chọn về sản phẩm và dịch vụ:Thương mại điện tử cho phép người mua có nhiều
lựa chọn hơn vì tiếp cận được nhiều nhà cung cấp hơn.
• Giá thấp hơn:do thông tin thuận tiện, dễ dàng và phong phú hơn nên khách hàng có thể so
sánh giá cả giữa các nhà cung cấp thuận tiện hơn và từ đó tìm được mức giá phù hợp nhất.
• Giao hàng nhanh hơn với các hàng hóa số hóa được: đối với các sản phẩm số hóa được như
phim, nhạc, sách, phần mềm.... việc giao hàng được thực hiện dễ dàng thông qua Internet.
• Thông tin phong phú, thuận tiện và chất lượng cao hơn: khách hàng có thể dễ dàng tìm được
thông tin nhanh chóng và dễ dàng thông qua các công cụ tìm kiếm (search engines); đồng thời
các thông tin đa phương tiện (âm thanh, hình ảnh).
• Đấu giá: mô hình đấu giá trực tuyến ra đời cho phép mọi người đều có thể tham gia mua và
bán trên các sàn đấu giá và đồng thời có thể tìm, sưu tầm những món hàng mình quan tâm tại
mọi nơi trên thế giới.
• “Đáp ứng mọi nhu cầu”: khả năng tự động hóa cho phép chấp nhận các đơn hàng khác nhau
từ mọi khách hàng.
Nhóm TH: SPIRIT FIRE 10
Đề tài: Sàn giao dịch cà phê Buôn Ma Thuột BCEC GVHD: Th.S Đoàn Ngọc Duy Linh
• Thuế: trong giai đoạn đầu của Thương mại điện tử, nhiều nước khuyến khích bằng cách miễn
thuế đối với các giao dịch trên mạng.
1.5.1.3 Đối với xã hội
Mặc dù lúc đầu chỉ là một hiện tượng kinh tế, Thương mại điện tử nay đã trở thành bộ phận
của một quá trình cải biến xã hội rộng lớn hơn nhiều trên nền tảng của xu thế toàn cầu hoá, của quá
nhất của Thương mại điện tử theo thứ tự là:
1. An toàn
2. Sự tin tưởng và rủi ro
3. Thiếu nhân lực về Thương mại điện tử
4. Văn hóa
5. Thiếu hạ tầng về chữ ký số hóa (hoạt động của các tổ chức chứng thực còn hạn chế)
6. Nhận thức của các tổ chức về Thương mại điện tử
7. Gian lận trong Thương mại điện tử (thẻ tín dụng...)
8. Các sàn giao dịch B2B chưa thực sự thân thiện với người dùng
9. Các rào cản thương mại quốc tế truyền thống
10.Thiếu các tiêu chuẩn quốc tế về Thương mại điện tử
1.5.2.1 Cản trở về kỹ thuật
• Chưa có tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng, an toàn và độ tin cậy.
• Tốc độ đường truyền Internet vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của người sö dông, nhất là
trong Thương mại điện tử.
• Các công cụ xây dựng phần mềm vẫn trong giai đoạn đang phát triển
• Khó khăn khi kết hợp các phần mềm Thương mại điện tử với các phần mềm ứng dụng và các
cơ sở dữ liệu truyền thống
• Cần có các máy chủ Thương mại điện tử đặc biệt (công suất, an toàn) đòi hỏi thêm chi phí
đầu tư
• Chi phí truy cập Internet vẫn còn cao
• Thực hiện các đơn đặt hàng trong Thương mại điện tử đòi hỏi hệ thống kho hàng tự động lớn
Nhóm TH: SPIRIT FIRE 12
Đề tài: Sàn giao dịch cà phê Buôn Ma Thuột BCEC GVHD: Th.S Đoàn Ngọc Duy Linh
1.5.2.2 Cản trở về thương mại
• An ninh và riêng tư là hai cản trở về tâm lý đối với người tham gia Thương mại điện tử
• Thiếu lòng tin vào Thương mại điện tử và người bán hàng trong Thương mại điện tử do
không được gặp trực tiếp
• Nhiều vấn đề về luật, chính sách, thuế chưa được làm rõ
• Một số chính sách chưa thực sự hỗ trợ tạo điều kiện để Thương mại điện tử phát triển
thông tin giữa nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà cung cấp và khách hàng.Việc định giá cũng
chịu tác động của Thương mại điện tử khi doanh nghiệp tiếp cận được thị trường toàn cầu,
đồng thời đối thủ cạnh tranh và khách hàng cũng tiếp cận được nguồn thông tin toàn cầu đòi
hỏi chính sách giá toàn cầu và nội địa cần thay đổi để có sự thống nhất và phù hợp giữa các
thị trường. Việc phân phối đối với hàng hóa hữu hình và vô hình đều chịu sự tác động của
Thương mại điện tử, đối với hàng hóa hữu hình quá trình này được hoàn thiện hơn, nâng cao
hiệu quả hơn; đối với hàng hóa vô hình, quá trình này được thực hiện nhanh hơn hẳn so với
thương mại truyền thống. Đặc biệt hoạt động xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh có sự tiến bộ vượt
bậc nhờ tác động của Thương mại điện tử với các hoạt động mới như quảng cáo trên website,
quảng cáo bằng e-mail, diễn đàn cho khách hàng trên mạng, dịch vụ hỗ trợ khách hàng 24/7...
1.6.2 Thay đổi mô hình kinh doanh
Việc xuất hiện Thương mại điện tử đã dẫn đến trào lưu hàng loạt doanh nghiệp phát triển các
mô hình kinh doanh từ truyền thống sang mô hình kinh doanh Thương mại điện tử như các Công ty
Ford Motor, Dell Computer Corp… Bên cạnh đó cũng đã hình thành các sàn giao dịch điện tử dạng
B2B.
Với Ford, việc áp dụng Thương mại điện tử vào các hoạt động sản xuất kinh doanh đã giúp
công ty giảm lượng hàng lưu kho và độ trễ trong phân phối hàng hoá. Hệ thống cửa hàng giới thiệu
sản phẩm được thay thế hoặc hỗ trợ bởi các showroom trên mạng, tiết kiệm được chi phí hàng tỷ
USD từ giảm chi phí lưu kho.
• Với Dell Computer Corp, áp dụng Thương mại điện tử trong các chiến lược thúc đẩy hoạt
động kinh doanh của công ty như lôi kéo các khách hàng đến với doanh nghiệp bằng khả
Nhóm TH: SPIRIT FIRE 14
Đề tài: Sàn giao dịch cà phê Buôn Ma Thuột BCEC GVHD: Th.S Đoàn Ngọc Duy Linh
năng đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng, sản xuất hàng theo yêu cầu (được biết đến dưới
tên gọi “chiến lược kéo”), v.v..
• Với mô hình của Amazon.com, mua hàng theo nhóm hay đấu giá nông sản qua mạng đến các
sàn giao dịch B2B là điển hình của những thành công từ việc tạo ra các lợi thế và giá trị mới
cho khách hàng bằng Thương mại điện tử.
1.6.3 Tác động đến hoạt động sản xuất, kinh doanh
Các hãng sản xuất lớn nhờ ứng dụng Thương mại điện tử có thể giảm chi phí sản xuất đáng
2.1.1. Vị trí pháp lý và tính chất của BCEC
2.1.1.1. Vị trí pháp lý: Trung tâm Giao dịch Cà phê Buôn Ma Thuột là một đơn vị sự nghiệp
có thu, có tư cách pháp nhân, trực thuộc Sở Thương mại - Du lịch Đăk Lăk. Tài chính ban đầu của
Trung tâm từ nguồn kinh phí ngân sách cấp, sau khi thị trường đi vào hoạt động ổn định thì nguồn
tài chính sẽ thu từ các khoản phí giao dịch, phí thành viên, phí dịch vụ thanh toán, thu nhận, chuyển
giao sản phẩm và các loại phí dịch vụ khác.
2.1.1.2. Tính chất
Trung tâm Giao dịch Cà phê BMT là thị trường giao dịch mua bán giao ngay và thị trường
giao dịch mua bán giao sau theo các kỳ hạn:
Thị trường mua bán giao ngay là thị trường giao dịch mua bán thông thường theo thông lệ
“tiền trao cháo múc”,việc giao dịch, ký kết và thực hiện hợp đồng diễn ra một cách liên tục trong
một khoảng thời gian ngắn, tính theo ngày. Thị trường mua bán giao sau, hợp đồng mua bán được ký
kết hôm nay, nhưng việc giao hàng và trả tiền (thực hiện hợp đồng) được thực hiện sau đó theo các
kỳ hạn.
Thị trường mua bán giao sau không giống hợp đồng mua bán thường xuyên theo kế hoạch
như trong mua bán rau quả, thực phẩm tươi sống,... Những giao dịch này không cần xác định ngày
giao hàng cụ thể, không cần có hợp đồng tiêu chuẩn, cũng không cần có người môi giới.
Việc mua bán hàng hóa giao sau được xác định bằng bản hợp đồng cho mỗi bên mua, bán,
trong đó quy định: loại hàng, phẩm cấp, khối lượng, giá và tháng thực hiện.
Trong thời gian hợp đồng chưa đến kỳ hạn thực hiện, người mua có quyền bán quyền mua
(bán hợp đồng mua); người bán có quyền mua lại giá trị hợp đồng bán để chấm dứt vị thế bán.
Hợp đồng mua bán giao sau (hợp đồng kỳ hạn) có tính bắt buộc cao, đến kỳ hạn, ai đang sở
hữu hợp đồng người đó có quyền và nghĩa vụ phải thực hiện hợp đồng. Nếu có một sự vi phạm nào
đó trong hợp đồng, bên vi phạm sẽ bị phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại.
Có được một thị trường nông sản phẩm kỳ hạn hoạt động có hiệu quả có ý nghĩa rất lớn đối
với nền kinh tế:
Nhóm TH: SPIRIT FIRE 17
Đề tài: Sàn giao dịch cà phê Buôn Ma Thuột BCEC GVHD: Th.S Đoàn Ngọc Duy Linh
Thứ nhất: trên cơ sở nhu cầu của thị trường thông qua các hợp đồng mua bán quyết định quy
mô sản xuất, sản xuất những thứ gì và sản xuất bao nhiêu là vừa (dùng thị trường định hướng sản
của Trung tâm. Ngoài ra, Trung tâm còn tổ chức hệ thống kho, xưởng chế biến và kho ngoại quan
sẵn sàng để phục vụ các nhu cầu về ký gửi, gia công chế biến và các dịch vụ về giao nhận hàng, thủ
tục xuất khẩu (đối với kho ngoại quan) nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người sản xuất, các tổ
chức, doanh nghiệp kinh doanh, xuất nhập khẩu cà phê.
Tóm lại: nếu có được một thị trường giao sau sẽ khắc phục được những tồn tại cơ bản hiện
nay trong sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu nông phẩm cà phê, đó là giải pháp hữu hiệu nhất để
bảo hộ giá cà phê cho người sản xuất trong nước, và bảo vệ giá cà phê của Việt Nam trên thị trường
thế giới; thực hiện được yêu cầu của hoạt động xuất khẩu trên cơ sở nhu cầu thị trường định hướng
sản xuất, “bán những thứ thế giới cần, chứ không phải bán những thứ ta có”.
2.1.1.3. Trung tâm Giao dịch Cà phê BMT vừa là thị trường sơ cấp vừa là thị trường thứ cấp:
+ Thị trường sơ cấp: Là những giao dịch mua bán lần đầu, sản phẩm của người sản xuất lần
đầu tiên được đưa vào giao dịch (sản phẩm không xuất xứ từ hợp đồng mua trước đó tại Trung tâm
Giao dịch Cà phê BMT) hình thành hợp đồng nguyên thuỷ.
+ Thị trường thứ cấp (dành riêng cho giao dịch kỳ hạn): Là những giao dịch mua bán lại
quyền mua từ hợp đồng nguyên thuỷ (bên mua bán lại hợp đồng cho người khác). Nghĩa là Trung
tâm giao dịch cà phê Buôn Ma Thuột phục vụ cho cả người sản xuất và người kinh doanh, tiêu thụ.
2.1.1.4/ Trung tâm Giao dịch Cà phê BMT hoạt động theo nguyên tắc thành viên:
Các tổ chức kinh doanh xuất nhập khẩu cà phê trong nước và nước ngoài, các nông trường,
chủ trang trại và hộ gia đình sản xuất cà phê, các tổ chức chế biến, tiêu thụ cà phê và các tổ chức tài
chính với vai trị là người môi giới…là những chủ thể có thể tham gia mua bán cà phê tại Trung tâm.
Nhưng chỉ có các tổ chức thành viên của Trung tâm Giao dịch Cà phê BMT mới được trực tiếp thực
hiện giao dịch mua bán tại Trung tâm Giao dịch. Các tổ chức không thành viên, thực hiện việc giao
dịch mua bán thông qua một tổ chức môi giới thành viên.
Nhóm TH: SPIRIT FIRE 19