Tiểu luận thị trường tài chính: Giải pháp phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam - Pdf 14



TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TIỂU LUẬN
MÔN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
ĐỀ TÀI: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ
TRƯỜNG TRÁI PHIẾU VIỆT NAM GVHD :PGS.TS. NGUYỄN ĐĂNG DỜN
LỚP : NGÂN HÀNG ĐÊM 2 - K16
SVTH : NHÓM 13

- Trái phiếu chính phủ: do ngân sách chính quyền trung ương hay địa phương
phát hành nhằm mục đích bù đắp các khoản chi đầu tư của ngân sách Nhà nước,
quản lý lạm phát hay tài trợ cho các cơng trình, các dự án của Nhà nước.
Trái phiếu cơng trình: là loại trái phiếu được phát hành để huy động vốn cho
những mục đích cụ thể, thường là để xây dung những cơng trình cơ sở hạ tầng hay
cơng trình phúc lợi cơng cộng. Trái phiếu này cĩ thể do chính phủ trung ương hoặc
chính quyền địa phương phát hành. - Trái phiếu doanh nghiệp: do các doanh nghiệp phát hành (cĩ đủ điều kiện của
UBCK) nhằm mục đích đầu tư dài hạn cho doanh nghiệp, mở rộng quy mơ phát
triển sản xuất kinh doanh.
b.Phân loại theo tính chất chuyển nhượng:
- Trái phiếu ghi danh: là loại trái phiếu cĩ ghi tên và địa chỉ của trái chủ, trên
chứng chỉ và trên sổ của người phát hành. Hình thức ghi danh cĩ thể chỉ thực hiện
cho phần vốn gốc, cũng cĩ thể là ghi danh tồn bộ, cả gốc lẫn lãi. Dạng ghi danh tồn
bộ mà đang ngày càng phổ biến là hình thức ghi sổ. Trái phiếu ghi sổ hồn tồn khơng
cĩ dạng vật chất, quyền sở hữu được xác nhận bằng việc lưu giữ tên và địa chỉ của
chủ sở hữu trên máy tính.
- Trái phiếu vơ danh: là trái phiếu khơng mang tên trái chủ, cả trên chứng chỉ
cũng như trên sổ sách của người phát hành. Những phiếu trả lãi đính theo tờ chứng
chỉ, và khi đến hạn trả lãi, người giữ trái phiếu chỉ việc xé ra và mang tới ngân hàng
nhận lãi. Khi trái phiếu đáo hạn, người nắm giữ nĩ mang chứng chỉ tới ngân hàng để
nhận lại khoản cho vay.
c. Phân loại theo phương thức trả lãi.
- Trái phiếu chiết khấu: là loại trái phiếu khơng trả lãi định kỳ. Căn cứ vào lãi
suất thị trường lúc phát hành để định ra giá của trái phiếu, giá này rất thấp so với
mệnh giá gọi là giá chiết khấu, nhưng khi đáo hạn trái chủ lại được hồn lại vốn gốc
bằng với mệnh giá của trái phiếu.
- Trái phiếu lợi tức: là trái phiếu trả lãi suất ổn định và định kỳ thường 6 tháng

vì nếu không đạt được kết quả thì trái phiếu phát hành sẽ không tiêu thụ được và
làm mất uy tín của đơn vị phát hành. Không phải nhà phát hành nào cũng có đủ điều
kiện để thực hiện tốt việc phát hành nên trên thị trường sơ cấp xuất hiện một tổ chức
trung gian giữa nhà phát hành và người đầu tư, đó là nhà bảo lãnh phát hành trái
phiếu.
Tuỳ thuộc vào cung cầu, giá trái phiếu ở thị trường sơ cấp có thể cao hơn hoặc
thấp hơn giá trị danh nghĩa của trái phiếu.
Nhà phát hành sẽ thu được vốn mới chỉ khi những trái phiếu của nó được bán
lần đầu tiên trên thị trường sơ cấp. Sau đó, việc mua bán các trái phiếu này trên thị
trường trái phiếu thứ cấp sẽ không làm ảnh hưởng đến số vốn của người phát hành.
2.2. Thị trường thứ cấp (secondary market):
Đây còn được gọi là thị trường cấp hai, là nơi mua bán các trái phiếu đã được
phát hành trên thị trường sơ cấp. Đây cũng là một bộ phận quan trọng của thị trường
tài chính và có mối quan hệ chặt chẽ với thị trường sơ cấp và khác với thị trường sơ
cấp là nó hoạt động một cách liên tục. Trái phiếu giao dịch trên thị trường này có
thể được mua đi bán lại nhiều lần với giá cả cao thấp khác nhau với tác động của
quan hệ cung cầu và nhiều nhân tố khác. Nhờ có thị trường thứ cấp, những người có
vốn nhàn rỗi tạm thời có thể yên tâm đầu tư vào trái phiếu, vì khi cần tiền họ có thể
bán lại các trái phiếu của mình cho các nhà đầu tư khác trên thị trường.
Thị trường thứ cấp thực hiện các chức năng sau:
- Tạo điều kiện dễ dàng để bán những công cụ tài chính nhằm thu tiền mặt, tức
là tạo cho các công cụ tài chính tăng cao tính thanh khoản.
- Kiếm lời từ việc nắm giữ trái phiếu.
- Xác định giá trái phiếu hợp lý trên cơ sở đấu giá tự do.
- Giá hợp lý trên thị trường cấp hai ảnh hưởng đến giá phát hành trái phiếu
trên thị trường sơ cấp.
2.3. Mối quan hệ giữa thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp:

trái phiếu doanh nghiệp mới cĩ những bước đột phá mới, khởi đầu bằng việc cơng ty
Cổ phần Cơ điện lạnh (REE) huy động được 5 triệu USD. Năm 1998, cơng ty Cổ
phần Cơng nghệ thơng tin EIS huy động được 10 tỷ.
Cho đến năm 2000 khi thị trường chứng khốn đi vào hoạt động đã đánh dấu
giai đoạn khởi động của thị trường trái phiếu cũng như các loại chứng khốn khác
trên thị trường tài chính. Nghị định 72-CP được thay thế bằng Nghị định
01/2000/NĐ-CP ngày 13/01/2000 đã cho thấy sự cải thiện về mặt pháp lý cho hoạt
động của thị trường trái phiếu nĩi riêng.
Năm 2003, Tổng cơng ty Dầu khí huy động được 300 tỷ; Tổng cơng ty Xi
măng được 200 tỷ đồng; EVN được 300 tỷ. Việc huy động vốn trên thị trường trái
phiếu trong giai đoạn này hầu như chưa phát triển. Các tổ chức phát hành chủ yếu là
các tổ chức tín dụng và rất ít các doanh nghiệp phát hành trái phiếu doanh nghiệp.
Tháng 10/2005, Việt Nam đã thành công trong lần đầu tiên phát hành trái
phiếu Chính phủ ra thị trường vốn quốc tế với tổng giá trị huy động 750 triệu USD.
Đợt trái phiếu này sẽ được mua bán lại trên tất cả các trung tâm chứng khoán (thị trường thứ cấp) lớn như Hongkong, Singapore, London, New York, Boston liên
tục đến năm 2016. Trong đợt phát hành trái phiếu đầu tiên để huy động vốn cho
ngành đóng tàu. M ức lãi suất của trái phiếu chính phủ Việt Nam hiện đang là
5,78%, thấp hơn mức 5,95% của loại trái phiếu có kỳ hạn và xếp hạng tín dụng
tương đương của Chính phủ Brazil. Điều này chứng tỏ trái phiếu của Việt Nam có
mức độ hấp dẫn hơn. So với trái phiếu Chính phủ kỳ hạn tương đương Mỹ, hiện nay
lãi suất của trái phiếu Việt Nam cũng chỉ cao hơn có 1,25%.
Một loại trái phiếu khác gần đây đã trở thành hiện tượng trên thị trường chứng
khoán Việt Nam là trái phiếu chuyển đổi. Tính hấp dẫn của nó là ở chỗ nó cho phép
nhà đầu tư chyển đổi sang cổ phiếu thường vào một thời điểm nhất định trong tương
lai. Do kì vọng này mà nhà đầu tư sẵn sàng chấp nhận một mức lãi suất rất thấp,
giúp các công ty phát hành nhanh chóng huy động được một số vốn lớn với chi phí
tài chính dễ chịu. Trái phiếu chuyển đổi của Ngân hàng Ngoại thương

6,8%/năm. Từ sau lần này, những đợt phát hành tiếp theo lãi suất trái phiếu sẽ cố
định, nhưng mệnh giá sẽ thay đổi. Giá trái phiếu sẽ không là 100.000 đồng nữa, mà
có thể xuống 99.000-98.000 đồng hay lên 101.000-102.000 đồng. Sức hấp dẫn của
trái phiếu càng cao, thì giá trúng thầu sẽ càng thấp hơn mệnh giá và ngược lại.
Tính đến 15/10/2007, tổng giá trị vốn hoá trên thị trường trái phiếu đạt gần
114.000 tỷ đồng chiếm 11,7% GDP 2006.
2. Cơ cấu của các loại hình trái phiếu ở Việt Nam:
Thị trường trái phiếu ở nước ta hiện nay bao gồm các bộ phận cấu thành là thị
trường trái phiếu chính phủ; trái phiếu chính quyền địa phương và trái phiếu cơng
ty, trong đĩ cĩ các cơng ty nhà nước và cơng ty thuộc khu vực tư nhân.
_ Trái phiếu chính phủ: 80%
_ Trái phiếu chính quyền địa phương: 10%.
_ Trái phiếu doanh nghiệp: 10% (trong số đĩ chủ yếu là các tổng cơng ty lớn
như Vinaconex, EVN, Vinashin, Sơng Đà…).
Cơ cấu này thể hiện sự bất hợp lý và chứng tỏ thị trường trái phiếu Việt Nam
chưa phát triển. Hàng hĩa hàng hố chủ yếu là trái phiếu chính phủ, vẫn chiếm tới
80% tổng lượng trái phiếu phát hành, trong khi đĩ trái phiếu cơng ty mới là yếu tố
quyết định sự sơi động và sức hấp dẫn của thị trường này. Thị trường trái phiếu
doanh nghiệp ở Việt Nam cịn hạn chế do độ tin cậy của phần lớn các doanh nghiệp
đối với nhà đầu tư chưa cao, các trái phiếu chưa được định hạn cũng như những hạn chế khách quan về quy mơ hoạt động, hệ thống kế tốn - kiểm tốn, định mức tín
nhiệm. Đối với thị trường nhỏ, các nhà đầu tư thường băn khoăn về tính thanh
khoản. Nếu như trái phiếu chính phủ cĩ mức rủi ro thanh tốn thấp, tạo được sự tin
cậy thì các nhà đầu tư lại tỏ ra khá dè dặt với trái phiếu doanh nghiệp. Thị trường
chưa phong phú do số nhà phát hành nhỏ, số lượng trái phiếu phát hành cịn thấp nên
nhà đầu tư cĩ rất ít lựa chọn.
3. Đánh giá về thị trường trái phiếu Việt Nam:
Nhìn chung quy mô của thị trường còn nhỏ, cơ sở hạ tầng thanh toán trong hệ

tháng 11/2007, vẻn vẹn chỉ cĩ 12 doanh nghiệp phát hành trái phiếu doanh nghiệp.
Sau 1 năm thực hiện Nghị định 52, trên thị trường trái phiếu quanh đi quẩn lại cũng
chỉ cĩ vài gương mặt cũ tham gia, như: Vinashin, Tổng cơng ty Thép Việt Nam,
Tổng Cơng ty Sơng Đà, Tập đồn Điện lực (ngồi Vinaconex huy động 1.000 tỉ đồng,
Vilemim huy động 5 tỉ đồng ).
Nhiều đợt đấu giá trái phiếu Chính phủ gần đây mặc dù khối lượng đăng ký
đấu thầu tương đối cao, bình quân gấp 3 lần khối lượng gọi thầu, nhưng tỉ lệ thành
cơng lại cĩ xu hướng giảm dần. Cụ thể, quý I/2007 tỉ lệ thành cơng đạt 99%; quý
II/2007 giảm xuống 82,46% và đến cuối quý III/2007 giảm cịn 58,39%. Nguyên
nhân chủ yếu do việc đưa ra mức lãi suất trần thấp, chỉ 7,05 - 7,8%/năm (cĩ đợt chỉ
là 6,5%/năm) đối với trái phiếu kỳ hạn 5 năm; 7,95% - 8,6%/năm đối với trái phiếu
kỳ hạn 10 năm; 8 - 8,8%/năm đối với trái phiếu kỳ hạn 15 năm, trong khi kỳ vọng
về lãi suất của nhà đầu tư ngày một cao, xuất phát từ việc tăng dự trữ bắt buộc từ
5% lên 10%.
Phần lớn giao dịch chỉ tập trung ở thị trường sơ cấp, ở thị trường thứ cấp khối
lượng giao dịch trái phiếu rất "nhỏ giọt". M ột phần vì tâm lý nhà đầu tư thích nắm
giữ trái phiếu chờ đến ngày đáo hạn để hưởng lãi. Một phần vì chi phí giao dịch trái
phiếu ở Việt Nam quá cao. Theo quy định, việc giao dịch trái phiếu chính phủ phải
thơng qua các cơng ty chứng khốn- là tổ chức trung gian thu phí cả người mua lẫn
người bán. Để một giao dịch trái phiếu chính phủ 100 tỉ đồng được hồn tất thì nhà
đầu tư phải mất đến cả 100 triệu đồng tiền phí, mà thơng thường những giao dịch
mua bán trái phiếu chính phủ là những giao dịch lớn, ít nhất cĩ giá trị từ 100-300 tỉ
đồng. Chính điều này làm cho thị trường trái phiếu chính phủ của Việt Nam khơng
thu hút được nhiều nhà đầu tư giao dịch, nhất là các ngân hàng nước ngồi. Hệ thống thanh tốn chưa cĩ sự liên thơng giữa các thị trường trong khu vực,
dẫn đến nhà đầu tư gặp khĩ khăn khi giao dịch xuyên biên giới và điều này cũng làm
cho nhà đầu tư khơng mặn mà mấy với loại hình chứng khốn này.
Hiện nay Trung tâm Giao dịch chứng khốn (TTGDCK) thành phố Hồ Chí

mơ cịn nhỏ nhưng với mơi trường kinh tế xã hội ổn định, tỷ giá USD/VND trong
những năm qua ít biến động (năm 2006 là 1%), thị trường trái phiếu Việt Nam được
đánh giá sẽ tiếp tục là điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư nước ngồi. Thêm vào đĩ,
xu hướng các doanh nghiệp phát hành trái phiếu ra cơng chúng thay vì chủ yếu huy
động vốn vay từ ngân hàng sẽ mang đến một diện mạo mới cho thị trường trái
phiếu, một sự chuyển mình và phát triển mạnh, bền vững.
So với thị trường cổ phiếu cĩ nhiều phát triển vượt bậc thì thị trường trái phiếu
đang phát triển khá chậm. Khơng chỉ ở Việt Nam, mà ở các thị trường mới nổi thị
trường trái phiếu luơn đi sau thị trường cổ phiếu một bước. Theo quy luật, khi tất cả
những điều kiện chủ quan và khách quan hội tụ đủ thị trường trái phiếu tương lai sẽ
trở thành thị trường cĩ sức hấp dẫn rất lớn đối với nhà đầu tư.
III. Nghiên cứu một số trường hợp trái phiếu Việt Nam điển hình:
1. Trái phiếu quốc tế VinaShin:
Năm 2005, Chính phủ quyết định thực hiện việc phát hành trái phiếu Việt
Nam lần đầu trên thị trường quốc tế do Ngân hàng Credit Suisse First Boston bảo
lãnh. Ngay ngày tiếp xúc với các nhà đầu tư đầu tiên tại Hồng Kơng (9/10), số
lượng nhà đầu tư đặt mua đã đạt khoảng 1 tỷ USD, gấp 2 lần số lượng trái phiếu
Chính phủ Việt Nam định phát hành. Đến ngày 26/10, sau khi Chính phủ quyết định
tăng khối lượng phát hành thêm 250 triệu USD, khối lượng đặt mua từ các nhà đầu
tư đã tăng lên gấp hơn 3 lần: từ mức 1 tỷ USD lên khoảng 3 tỷ USD. Ngày định giá
trái phiếu, 29/10, số lượng trái phiếu các nhà đầu tư đặt mua đã lên đến con số 4,5
tỷ USD. Kết quả đạt được là 750 triệu USD trái phiếu Việt Nam đã được bán hết
với lãi suất danh nghĩa là 6,875%, đáo hạn vào năm 2016; trong đĩ các nhà đầu tư
châu Á nắm giữ 38%, châu Âu 32%, châu Mỹ là 30%. Trong số các nhà đầu tư này
thì các quỹ tài chính chiếm 52%, ngân hàng chiếm 25%, các cơng ty bảo hiểm là
17% và các tổ chức tài chính khác là 7%. Ngay sau đợt phát hành trái phiếu quốc tế
đầu tiên, Bộ Tài chính đã ký kết hợp đồng chuyển giao 750 triệu USD từ việc phát
hành trái phiếu quốc tế của Chính phủ Việt Nam cho Tổng cơng ty Cơng nghiệp tàu
thủy Việt Nam (VinaShin). Người mua Số tiền
(tỷ đồng)
Tỷ lệ
(%)
Các ngân hàng thương mại 23,219

90,2

Ngân hàng thương mại quốc doanh 15,968

62,1

Ngân hàng thương mại cổ phần 7,251

28,2

Các tổ chức kinh tế 2,494

9,7

Cá nhân 0,021

0,1

Bảng: Người mua trái phiếu đơ thị thành phố Hồ Chí Minh (1995)
Lý do thứ nhất để các ngân hàng thương mại mua trái phiếu đơ thị tỷ lệ cao
như trên đĩ là: trái phiếu đơ thị khơng bị đánh thuế, và các ngân hàng thương mại cĩ

nghiệp trên thị trường vốn; phát triển các loại trái phiếu chuyển đổi của doanh
nghiệp, trái phiếu công trình để đầu tư vào các dự án hạ tầng trọng điểm của quốc
gia.
Lãi suất phát hành trái phiếu hiện nay vẫn chưa thực sự theo lãi suất thị
trường, mà cĩ sự chỉ đạo lãi suất trần từ Bộ Tài chính, vì vậy chưa tạo được sự hấp
dẫn đối với nhà đầu tư trái phiếu. Điều này, phần nào đã ảnh hưởng lớn đến việc
huy động vốn thơng qua phát hành trái phiếu. Do đĩ, để thị trường trái phiếu phát
triển, Việt Nam cần cĩ những biện pháp và hệ thống đánh giá chuẩn hơn để xác định
lãi suất phát hành hợp lý.
Đồng thời, tăng khối lượng phát hành thay vì phát hành nhiều đợt với số
lượng nhỏ nhằm giảm chi phí phát hành và thu hút nhiều hơn các nhà đầu tư cĩ tổ
chức tham gia.
1.1. Giải pháp đối với trái phiếu chính phủ:
Tiếp tục phát hành trái phiếu chính phủ Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Nhanh chĩng giải ngân nguồn vốn huy động được để phục vụ phát triển hạ tầng,
kinh tế, xã hội. Tăng cường kiểm tra, kiểm sốt chặc chẽ việc sử dụng vốn, tránh thất
thốt lãng phí nhằm nâng cao mức tín nhiệm của trái phiếu chính phủ trên thị trường
quốc tế. Tiếp theo sự thành cơng của đợt phát hành trái phiếu chính phủ ra thị trường
quốc tế với tổng trị giá 750 triệu USD, trong thời gian tới cần nâng cao uy tín,
thương hiệu Việt Nam trên thị trường quốc tế để các nhà đầu tư quốc tế cĩ thể tin
tưởng vào tương lai sủa của nền kinh tế Việt Nam, để họ cĩ thể tin tưởng là nền kinh
tế Việt Nam đã thực sự đổi mới thơng qua việc: chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hố
tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; từng bước hình thành thể
chế kinh tế thị trường định hướng XHCN; chuyển một nền kinh tế khép kín, nhập
khẩu là chủ yếu sang nền kinh tế mở, chủ động hội nhập, hướng mạnh về xuất khẩu
đồng thời thay thế nhập khẩu những sản phẩm mà Việt Nam cĩ lợi thế và cĩ hiệu
quả Qua đĩ, các nhà đầu tư sẽ tỏ ra lạc quan với sự tăng trưởng cao và ổn định của

Đẩy nhanh tốc độ cổ phần hố các doanh nghiệp nhà nước, Ngân hàng Nhà
nước như: Vietcombank, MHB, MobiFone, Vinaphone…đây là cách tốt nhất để
thúc đẩy thị trường.
Tăng tính thanh khoản của trái phiếu doanh nghiệp trên thị trường vốn thơng
qua sự hổ trợ từ các cơng ty chứng khốn để các nhà đẩu tư cĩ thể dễ dàng mua bán
lại các loại trái phiếu mà họ đang nắm giữ.
Nới lỏng các điều kiện phát hành, điều kiện đảm bảo để các cơng ty cĩ thể dễ
dàng huy động vốn trên thị trường thơng qua hình thức huy động vốn này.
Nâng cao nhận thức về trái phiếu doanh nghiệp đối với các nhà quản lý tài
chính trong các doanh nghiệp cũng như nhận thức của các nhà đầu tư. Để phát triển
thị trường trái phiếu doanh nghiệp, trước hết phải nâng cao tính thanh khoản của trái
phiếu chính phủ. Chỉ khi nào phát triển được thị trường trái phiếu chính phủ khi đĩ
mới cĩ thể khuyến khích sự tham gia của các nhà đầu tư đối với trái phiếu doanh
nghiệp. Điều này cịn cĩ tác động tích cực tới cổ phiếu của chính các cơng ty đĩ.
Bên cạnh đĩ, Nhà nước cần cĩ những chính sách thích hợp để khuyến khích các
doanh nghiệp huy động vốn trực tiếp trên thị trường, hạn chế sự phụ thuộc quá mức
vào việc cấp vốn qua kênh tín dụng, tiếp tục hồn thiện khuơn khổ pháp lý. Ngồi ra,
việc hình thành và phát triển các tổ chức cung cấp dịch vụ cho thị trường trái phiếu
như tổ chức định mức tín nhiệm, định giá trái phiếu; đẩy mạnh hợp tác khu vực và
quốc tế… cũng phải được tính đến.
2. Các giải pháp về quản lý của nhà nước đối với thị trường trái phiếu: Từng bước hoàn chỉnh cấu trúc của thị trường vốn đảm bảo khả năng quản lý,
giám sát của Nhà nước:
- Tách thị trường trái phiếu ra khỏi thị trường cổ phiếu để hình thành thị
trường trái phiếu chuyên biệt. Từng bước nghiên cứu hình thành và phát triển thị
trường giao dịch tương lai cho các công cụ phái sinh, thị trường chứng khoán hoá
các khoản cho vay trung, dài hạn của ngân hàng…;
- Củng cố bộ máy, nâng cao năng lực quản lý, giám sát của Nhà nước đối với

Đối với vấn đề thơng tin về thị trường trái phiếu, đặc biệt là việc tính tốn và
cơng bố các chỉ số trái phiếu, sẽ chọn những nhà cung cấp thơng tin trái phiếu lớn
trên thế giới như Reuters hoặc Bloomberg để cung cấp thơng tin về thị trường trái
phiếu Việt Nam.
Trên cơ sở sự phát triển ổn định của thị trường này, Ủy ban chứng khốn nhà
nước sẽ tiếp tục triển khai mở rộng sang thị trường trái phiếu chính quyền địa
phương và trái phiếu cơng ty.
3. Các giải pháp về mặt thể chế cho thị trường trái phiếu:
Hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, giám sát của
Nhà nước:
Hoàn thiện hệ thống khuôn khổ pháp lý thống nhất, đồng bộ đáp ứng được yêu
cầu quản lý, giám sát và hội nhập với thị trường vốn của khu vực và quốc tế;
Bổ sung các chế tài xử lý nghiêm minh về dân sự, hình sự để phòng ngừa và
xử lý các hành vi vi phạm trong hoạt động trên thị trường vốn, thị trường chứng
khoán;
Nghiên cứu hoàn chỉnh các chính sách về thuế, phí, lệ phí đối với hoạt động
chứng khoán, khuyến khích đầu tư dài hạn, hạn chế đầu tư ngắn hạn; điều tiết lợi
nhuận thu được do kinh doanh chứng khoán, đồng thời thông qua thuế, phí, lệ phí
góp phần giám sát hoạt động của thị trường chứng khoán và từng đối tượng, thành
viên tham gia thị trường (bao gồm cả các nhà đầu tư trong và ngoài nước);
Áp dụng các tiêu chuẩn giám sát thị trường theo thông lệ quốc tế; đẩy
mạnh việc thanh tra, kiểm tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật của các thành
viên tham gia thị trường; kiểm tra, giám sát hàng hoá đưa ra thị trường, đảm
bảo tính công khai, minh bạch; tăng cường năng lực giám sát, cưỡng chế thực
thi của cơ quan giám sát thị trường.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status