1 MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Là một nền văn học có lịch sử non trẻ nhƣng văn học Mỹ có những
thành tựu lớn lao và đóng góp cho văn hóa nhân loại nhiều giá trị to lớn.
Phong phú về nội dung, luôn đổi mới các phƣơng thức nghệ thuật, cùng với
xu thế toàn cầu hóa, văn học Mỹ đang trở thành một hiện tƣợng đặc biệt. Ta
thấy chỉ trong thế kỷ XX văn học Mỹ có tới mƣời một nhà văn đƣợc giải
thƣởng Nobel, điều này chứng tỏ đƣợc tầm vóc của một nền văn học lớn.
Những năm 30 của thế kỷ XX, văn học Mỹ xuất hiện nhiều nhà văn xuất
sắc. Họ đã và đang khẳng định đƣợc tài năng sáng tạo và chiều sâu tƣ tƣởng
trong những sáng tác của mình, Pearl Buck là một trong những tên tuổi nổi
bật – là nhà văn nữ của hai thế giới phƣơng Đông và phƣơng Tây. Bà sinh
năm 1892 tại Hillsboro, West Virginia, Hoa Kỳ, là con một nhà truyền giáo
ngƣời Mỹ. Sau khi ra đời chƣa đầy năm tháng, bà đƣợc cha mẹ đƣa sang
Trung Quốc sinh sống. Từ nhỏ và suốt cả cuộc đời bà yêu mến, thích tìm hiểu
cuộc sống của ngƣời dân Trung Quốc.
Đƣợc mến mộ bởi hàng triệu độc giả khắp năm châu, hàng trăm sáng tác
của bà đã đƣợc dịch sang rất nhiều thứ tiếng khác nhau và nhận đƣợc nhiều
giải thƣởng danh giá của Mỹ và đặc biệt là giải thƣởng cao quý nhất – Nobel
văn học 1938. Tác phẩm của bà tái hiện sinh động cuộc sống của những
ngƣời dân Trung Quốc trong giai đoạn chuyển biến từ một quốc gia nông
nghiệp lạc hậu, bị nô dịch sang một quốc gia tiên tiến, độc lập. Bà là ngƣời có
cái nhìn am hiểu sâu sắc về văn hóa Trung Hoa.
Bộ ba tiểu thuyết Ngôi nhà đất (The Earth House) đƣợc cấu thành bởi ba
tác phẩm Đất lành (The Good Earth), Những người con trai (Sons) và Gia
đình chia rẽ (A House divided), xuất bản trong khoảng thời gian 1931 –
Là một trong số tác giả có sách đƣợc dịch nhiều nhất ở Việt Nam, Pearl
S. Buck đến với độc giả Việt Nam bắt đầu từ 1945 với tiểu thuyết Gió Đông
3 gió Tây (East Wind, West Wind, 1930) qua bản dịch của Huyền Kiêu. Bên
cạnh Huyền Kiêu, dịch giả Nguyễn Sĩ Nguyên, Nguyễn Thế Vinh… cũng
góp phần giới thiệu một cách đầy đặn hơn gƣơng mặt văn chƣơng của nhà
văn này đến độc giả Việt Nam.
Có thể nói, Nguyễn Sỹ Nguyên với tƣ cách một dịch giả đã bắc những
nhịp cầu quý giá đƣa tác phẩm của Pearl Buck đến với ngƣời yêu văn chƣơng
Việt Nam, đồng thời ông cũng có những sự đánh giá khá sâu sắc về phong
cách Pearl Buck trong những lời giới thiệu hay những cuộc phỏng vấn với
báo chí mỗi khi bản dịch tác phẩm của nữ văn sĩ này đƣợc ra mắt công
chúng. Những đánh giá ấy mang tính chất gợi mở, định hƣớng cho bạn đọc
trong quá trình thƣởng thức tác phẩm.
Theo Nguyễn Sỹ Nguyên, “Pearl Buck yêu đất nước Trung Hoa và bà
viết nhiều nhất là về thân phận những người phụ nữ” [43]. Pearl Buck luôn
miêu tả những ngƣời phụ nữ trong truyện của bà thành hạt nhân của gia đình,
bất chấp mọi thứ lễ giáo phong kiến phủ lên hình ảnh ngƣời đàn ông. Pearl
Buck đã đem đến cho nhân vật phụ nữ trong các sáng tác của bà vẻ đẹp cao
quý đáng ngƣỡng mộ, cho dù họ phải chịu bao cay đắng. Tất cả họ đều giữ
trong lòng một ngọn lửa yêu thƣơng mãnh liệt, một sự hi sinh vô bờ dành cho
những ngƣời đàn ông của mình.
Pearl Buck đã góp thêm vào dòng văn học về Trung Hoa nói riêng và Á
Đông nói chung một cách nhìn mới mẻ đầy cảm thông dành cho nữ giới đi
kèm với sự trân trọng tuyệt đối chân thành – điều mà thậm chí nhiều tác
phẩm bản ngữ cũng không thể sâu bằng.
Lê Trí Viễn đã có lần nhận xét: “Những tác phẩm của Pearl Buck mang đậm
báu cho đề tài nghiên cứu của chúng tôi. Nhƣng phải thừa nhận một thực tế
rằng, việc nghiên cứu Pearl Buck ở Việt Nam không nhiều. Và vấn đề nhân
vật nữ trong bộ ba tiểu thuyết Ngôi nhà đất, là nội dung quan trọng mới chỉ
đƣợc điểm qua chứ chƣa đƣợc nghiên cứu công phu.
5 2.2. Tiếng Anh
Trên các tạp chí nổi tiếng của Mỹ và phƣơng Tây xuất hiện rất nhiều
những bài viết đánh giá về Pearl Buck và các tác phẩm khác của bà. Trong
quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã thu thập đƣợc một số tài liệu về Pearl
Buck. Một trong số đó là bài viết trên tạp chí The English Journal: Nghệ
thuật của Pearl S. Buck (The art of Pearl S. Buck) của Phyllis Bentley. Có
thể nói, đây là bài viết đánh giá công phu, tỉ mỉ về phong cách nghệ thuật văn
chƣơng và tiểu thuyết Ngôi nhà đất của Pearl Buck đặt trong mối quan hệ với
toàn bộ sự nghiệp và tiểu thuyết của bà. Ngay Lời nói đầu của bài viết,
Phyllis Bentley nhận xét: “Pearl Buck là “tiểu thuyết gia của Trung Quốc”,
tác giả của những cuốn sách về Trung Quốc”. Bên cạnh đó, tác giả bài viết
còn đánh giá tổng quan về sáng tác của Buck xuất bản trong năm 1935:
“Nhưng chúng tôi có thể nói ít nhất là vì lợi ích của các tài liệu mình đã
chọn, bà Buck là một trong những nhà văn xuất sắc. Qua tiểu thuyết của bà
người đọc không chỉ đơn thuần là biết thêm kiến thức về Trung Quốc mà còn
học được cách đối nhân xử thế” [35]. Bối cảnh đƣợc Buck lựa chọn và cũng
là một phần trong ý định làm rõ của chúng tôi chính là đất nƣớc Trung Hoa
hiện đại. Có rất nhiều nơi trong đất nƣớc rộng lớn đó Trung Hoa hiện đại
song song với Trung Hoa cổ đại, có nhiều nơi mà sự thay đổi về mặt niên đại
cũng chính là sự chuyển biến xã hội một cách sâu sắc. Hai đất nƣớc Trung
Hoa, một mới, một cũ đã hình thành chất liệu cho những tác phẩm của Buck.
Bộ ba tiểu thuyết Ngôi nhà đất xây dựng một nền văn minh mới với sự kết
tƣởng tƣợng phong phú của mình trong quá trình sáng tác, vì vậy, tác phẩm của
bà vừa có tính hiện thực vừa mang chất trữ tình.
Năm 1983, nhà xuất bản New Century đã giới thiệu quyển Pearl Buck –
Woman in Conflict (Pearl Buck – Ngƣời phụ nữ trong xung đột), của Nora
Stirling. Tác giả trình bày khá chi tiết về những năm tháng Pearl Buck sinh
sống ở Trung Quốc, Mĩ, những dấu ấn quan trọng trong cuộc đời nhà văn.
Ngoài ra, Nora Stirling nhận xét các sáng tác của Pearl Buck đã đƣợc các nhà
phê bình chú ý và đánh giá cao [37].
7 Năm 2010, Anchee Min, nhà văn ngƣời Mĩ gốc Hoa đã công bố tác
phẩm Pearl in China – A Novel (Pearl ở Trung Hoa – Một cuốn tiểu thuyết ).
Anchee Min cho biết “Pearl Buck đã dành tình yêu thương của mình cho
người dân Trung Hoa”. Chính vì vậy, cuốn Đất lành của Pearl Buck đã thể
hiện rất xúc động, chân thực cuộc sống của ngƣời dân Trung Hoa. “Tác phẩm
trên tạo nên nhiều tình cảm tích cực cho những độc giả ngƣời Mĩ, họ cảm
thấy thân thiện, gần gũi với ngƣời dân ở một đất nƣớc rất xa xôi và còn nhiều
xa lạ với mình. Điều ấy đã cho thấy tiểu thuyết Đất lành có vai trò, ý nghĩa
nhƣ một nhịp cầu, nối liền hai nền văn hoá phƣơng Đông và phƣơng Tây”
[33, 8].
Những bài viết trên đã thể hiện sự quan tâm, chú ý của độc giả cũng nhƣ
các nhà nghiên cứu về Pearl Buck và các sáng tác của bà. Tuy nhiên, chúng
tôi nhận thấy vấn đề mà họ quan tâm đến, phần lớn chỉ là cuộc sống của Pearl
Buck và giá trị nội dung tƣ tƣởng, nghệ thuật xây dựng tiểu thuyết độc đáo
của nhà văn nhiều hơn là cái nhìn toàn diện về nhân vật nữ – đối tƣợng mà
nhà văn quan tâm nhất trong các tác phẩm của mình. Dẫu vậy, đó là những ý
kiến vô cùng quý báu để chúng tôi tiếp thu và đối thoại trong quá trình triển
khai luận văn.
Luận văn khảo sát và phân tích kỹ lƣỡng nhân vật nữ trong Ngôi nhà đất
của Pearl Buck để từ đó làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn, thân phận ngƣời phụ nữ
phƣơng Đông qua cái nhìn của nhà văn nữ đến từ phƣơng Tây.
6. CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Tƣơng ứng với nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn của chúng tôi, ngoài phần
Mở đầu và Kết luận, đƣợc chia làm 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Pearl Buck – tính nữ của văn hóa Đông-Tây
Chƣơng 2: Thân phận và vẻ đẹp tâm hồn nữ nhân vật của Pearl Buck
Chƣơng 3: Biểu tƣợng đất và O-Lan
Sau cùng là Tài liệu tham khảo 9 CHƢƠNG 1
PEARL BUCK – TÍNH NỮ CỦA VĂN HÓA ĐÔNG-TÂY
Pearl Buck, nữ nhà văn Mỹ, đƣợc tặng giải thƣởng Nobel văn học năm
1938 vì các tác phẩm mô tả cuộc sống đa diện mang tính sử thi của ngƣời dân
Trung Quốc trong những biến động dữ dội đầu thế kỉ XX và vì những kiệt tác
tự truyện. Bà là nhà hoạt động xã hội tích cực, đƣợc coi là một chiếc cầu nối
văn hóa Đông-Tây. Chƣơng này chúng tôi khảo sát nền tảng văn hóa trong
tác phẩm Pearl Buck, đồng thời xem xét những khía cạnh văn hóa tác động
đến cái nhìn của Pearl Buck. Qua đó, luận văn khẳng định dấu ấn Đông-Tây
trong thế giới nhân vật nữ của bà.
1.1. Từ tác giả Pearl Buck – nhà văn nữ phƣơng Tây…
Pearl S. Buck (1892 - 1973) là một nhà nhân văn lớn. Bà sống và gắn bó
với đất nƣớc Trung Hoa nói riêng và phƣơng Đông nói chung gần nhƣ suốt
cuộc đời. Với trí tuệ sắc sảo và trái tim nhạy cảm, bà đã miêu tả xã hội Trung
Hoa trƣớc khi biết nói tiếng Anh, đã chơi đùa với trẻ em Trung Hoa, đƣợc bà
giữ trẻ kể cho nghe các câu chuyện về đạo Lão và đạo Phật. Cha và mẹ của
Pearl Buck không muốn sinh sống trong khu vực dành riêng cho ngƣời
phƣơng Tây mà thích hòa mình với ngƣời dân địa phƣơng, cảm nhận thế giới
tâm hồn phong phú của họ. Khi Pearl Buck còn thơ ấu, có giai đoạn gia đình
bà cùng với ngƣời dân đã phải chạy khỏi thành phố Thƣợng Hải do cuộc nổi
loạn Thái Bình Thiên Quốc.
Chính vì vậy, từ tuổi ấu thơ Pearl Buck có cơ hội tiếp xúc, gần gũi với
những ngƣời dân Trung Hoa, bà hiểu đƣợc đời sống sinh hoạt, tinh thần,
niềm vui và nỗi buồn trong cuộc đời của họ. Vào cuối thế kỷ XIX, Trung Hoa
còn là một quốc gia có nền văn hóa và lịch sử hoàn toàn xa lạ với ngƣời
phƣơng Tây. Pearl Buck đã đƣợc một gia sƣ Trung Hoa giảng dạy về văn
hóa, lịch sử đất nƣớc này.
Văn hóa chính là cái gốc, làm nên giá trị, bản sắc của mỗi con ngƣời,
mỗi dân tộc. Khi khoảng cách giữa hai bờ Đông-Tây còn quá rộng, Pearl
11 Buck đã dùng những trang tiểu thuyết đầy tâm huyết của mình để kéo hai nền
văn hóa xích lại gần nhau, khi ấy con ngƣời có thể hi vọng về một thế giới
hoà bình, hữu nghị. Ý nguyện gắn kết hai nền văn hoá đã đƣợc Pearl Buck
thể hiện rõ trong nhiều tác phẩm nghệ thuật, ví dụ khi tác giả nói đến sự chào
đời của đứa bé có cha là ngƣời Trung Hoa, mẹ là ngƣời Mĩ, “Đứa trẻ ra đời
với biết bao niềm vui của sự kết hợp. Nó đã kết chặt hai trái tim của cha mẹ
nó làm một! Hai trái tim hoàn toàn khác nhau về dòng dõi và giáo dục! Sự
kết hợp đẹp đẽ biết chừng nào” [20, 254]. Chính nhờ sự giao lƣu văn hóa
Đông-Tây mà ngƣời dân mới có cơ hội tiếp xúc với nền văn minh tiến tiến
của Tây phƣơng và từ đó dần dần từ bỏ những hủ tục lạc hậu, phong kiến kìm
hãm sự phát triển xã hội cũng nhƣ con ngƣời nói chung.
tính nhu, uyển chuyển, của người phụ nữ” [40]. Vì vậy các nhà văn nữ
thƣờng có thế mạnh trong việc quan sát tỉ mỉ, tinh tế các hiện tƣợng, sự việc
của đời sống. Pearl Buck cũng không nằm ngoài quy luật đó, nhiều trang văn
miêu tả thiên nhiên phƣơng Đông của bà đẹp nhƣ những bức tranh thủy mặc:
“Bây giờ chị ngước mắt ngắm những cành liễu lá xanh rờn và óng ánh,
những bông hoa lê trắng muốt tỏa hương thoang thoảng trong gió, và ở chỗ
kia, màu đỏ thẫm của những trái lựu nổi bật lên trên nền cỏ xanh non. Gió
ấm áp thổi từng cơn rồi đột nhiên dừng lại làm cho mùi đất từ những luống
cày xông lên trộn lẫn mùi thơm hoa cỏ…” [22, 111]. Có khi Buck đƣa ngƣời
đọc đến tâm hồn của những ngƣời nông dân chất phác với những rung động
tinh tế trƣớc cảnh sắc thiên nhiên đêm trăng: “Hồi đó vào gần giữa tháng,
trăng tỏ và gần tròn. Cả hai cùng ngắm cảnh trăng sáng nơi đồng ruộng.
Cảnh vật êm ả, phẳng lặng, một sự yên tĩnh làm chàng không chịu nổi.
Chàng nghĩ lúc này cần phải nói một điều gì đó với người thiếu nữ” [28,
487]. “Trăng tròn lơ lửng trên không trung. Gió đêm đã thổi và ngang trời
từng đám mây trắng bay nhanh như những đàn chim bạch tuyết, lúc thì che
lấp mặt trăng mông lung, lúc thì để lộ ra ánh sáng trong kì diệu. Hơi mưa
phảng phất trong không gian” [20, 136].
13 Ngoài ra, với tố chất nghệ sĩ – tính nữ, Pearl Buck có một văn phong
trong sáng, nhẹ nhàng trong các sáng tác nghệ thuật. Qua những bức tranh
của thiên nhiên. Theo tuyên dƣơng của Viện Hàn lâm Thụy Điển: Pearl Buck
có lần kể bằng cách nào bà đã nhận ra sứ mệnh của mình là diễn dịch thiên
nhiên và bản tính Trung Hoa cho thế giới Phƣơng Tây. Bà không coi điều đó
nhƣ một công việc đặc thù văn học; nó đến với bà một cách tự nhiên. “Chính
con ngƣời đã luôn mang lại cho tôi niềm vui lớn nhất”; “và bởi tôi sống với
người Trung Quốc, con người ở đây là người Trung Quốc. Khi được hỏi
Ý nguyện của Pearl Buck về việc tạo một đƣờng kênh chia sẻ văn hóa
Đông-Tây không chỉ biểu hiện trên những trang văn mà còn thể hiện trong
phần lớn cuộc đời tác giả. Bà tích cực tham gia các hoạt động từ thiện, xã hội
nhƣ: sáng lập ra tổ chức phi lợi nhuận Hiệp hội Đông Tây (The East and
West Association, 1941). Pear Buck cùng với Richard J. Walsh lập nên tổ
chức Welcome Home (Căn nhà tình nghĩa, 1949) với mục đích giúp trẻ mồ
côi. Đây là tổ chức quốc tế đầu tiên nhận trẻ em về chăm sóc, nuôi dƣỡng từ
các nƣớc trên thế giới. Năm 1963, bà đã lập ra Quỹ Pearl S. Buck nhằm giải
quyết các vấn đề đói nghèo và phân biệt đối xử đối với trẻ em ở các nƣớc
châu Á, bà đã tặng cho quỹ này bảy triệu đô la để tổ chức và duy trì hoạt
động. Pearl Buck đã dùng cuộc đời mình hƣớng về những số phận nhỏ bé, bất
hạnh, bà nuôi dƣỡng và phát huy những phẩm chất tốt đẹp ẩn chứa trong tâm
hồn của họ. Pearl Buck đã hoàn thành sứ mệnh cao cả của một nhà văn chân
chính trong văn chƣơng lẫn trong cuộc sống đời thƣờng.
1.2. …đến nhân vật nữ trong bộ tiểu thuyết Ngôi nhà đất
Sáng tác trong khoảng 40 năm, Pearl Buck đã để lại hơn ba mƣơi tiểu
thuyết, ba quyển tự truyện, bên cạnh còn có những bài tiểu luận, kịch và
truyện viết cho trẻ em. Ngoài ra, Pearl Buck còn viết truyện phim, đó là tác
phẩm Quỷ sa tăng không bao giờ ngủ (Satan Never Sleeps, 1962). Pearl Buck
là tác giả của nhiều tiểu thuyết giá trị, nhƣng giới nghiên cứu văn học đánh
giá chính bộ ba tiểu thuyết Ngôi nhà đất đã làm tên tuổi Buck tỏa sáng. Bởi
những sáng tác ấy đã thể hiện sâu sắc quan niệm về nhân sinh của nhà văn.
15 Bộ ba tiểu thuyết Ngôi nhà đất Pearl Buck viết về đề tài cuộc sống ngƣời
dân Trung Quốc nửa sau thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX. Trong đó, tác giả tập
trung thể hiện mối quan hệ giữa con ngƣời với đất đai, với những phong tục,
tập quán, truyền thống văn hoá lâu đời của dân tộc. Đồng thời, Pearl Buck
1926, tổ chức nhiều cuộc đình công chống đế quốc tại nhiều tỉnh. Sau khi
Tôn Dật Tiên qua đời vào năm 1925, Tƣởng Giới Thạch đã khởi sự một
chiến dịch tiêu diệt ngƣời Cộng Sản và vào tháng 3 – 1927, quân đội Quốc
Dân Đảng tiến vào thành phố Nam Kinh. Lúc bấy giờ, vợ chồng Pearl Buck
cùng ngƣời cha và cô con gái phải bỏ tất cả gia sản, chạy về thành phố
Thƣợng Hải [11, 15].
Những thăng trầm, các biến cố lớn lao diễn ra trên đất Trung Hoa đã tác
động mạnh mẽ đến đời sống của bản thân Pearl Buck và gia đình. Đồng thời,
các sự kiện ấy đã tạo nên ấn tƣợng khó phai mờ, là “những vết khắc trong
tim” (từ dùng của K. Paustovski) Pearl Buck. Đó là những dữ kiện, chất liệu
quan trọng, là vốn sống phong phú tạo nên giá trị to lớn trong những sáng tác
nghệ thuật của nhà văn sau này. Văn hào Sinclair Lewis (1885 – 1951), ngƣời
Mỹ đầu tiên đoạt Giải Thƣởng Nobel về văn chƣơng vào 1930, đã khen ngợi
Pearl Buck vì đã sáng tác nên những công trình mang lại “một hình ảnh mới
về con ngƣời của Phƣơng Đông”. Xa cách Trung Hoa từ năm 1934, nhƣng
những năm tháng cuối đời, mảnh đất ấy vẫn sống mãi trong lòng Pearl Buck
“Tôi cũng như tổ tiên của tôi là người Mĩ, nhưng trong tâm hồn, tôi cảm thấy
mình là người Trung Hoa” (By birth and ancestry I am American but by
sympathy I feelling I am Chinese – Pearl Buck) [36, 251]. Chính vì vậy, viết
tiểu thuyết về Trung Hoa, Pearl Buck không chỉ phản ảnh về đất nƣớc ấy, mà
dƣờng nhƣ đây là cơ hội để bà sống lại một phần cuộc đời mình, hồi tƣởng lại
những khoảnh khắc không thể nào quên.
Xã hội Trung Hoa cũng phức tạp nhƣ nền chính trị và khi nhà Thanh bị
lật đổ, các tỉnh thành của nƣớc Trung Hoa nằm trong tay nhiều quân phiệt,
nhiều nhóm đạo tặc chẳng hạn nhƣ tƣớng Ngô Bội Phu đã kiểm soát năm tỉnh
Miền Bắc và Miền Trung với hàng trăm triệu dân dƣới quyền. Tại Mãn Châu,
17 Ái Lan… thế hệ thứ ba của gia tộc Vƣơng Long trong Ngôi nhà đất, hay nhân
vật Quế Lan, ngƣời con gái đƣợc dạy dỗ theo kiểu truyền thống dân tộc trong
Gió Đông, gió Tây (East Wind, West Wind)… thì ngƣời phụ nữ trong văn
Pearl Buck đều là hiện thân của những con ngƣời thuần nét Á Đông, chăm
chỉ, đảm đang, hi sinh vì chồng con.
Pearl Buck quan niệm: “Toàn bộ công việc của nhà văn là lựa chọn cái
dòng sự sống chảy qua con người mình trải muôn đời mảnh vỡ thời gian,
không gian và sự kiện, để từ trong đó khám phá cái trật tự, cái nhịp điệu và
cái hình thù cơ bản, cố hữu” [12, 267].
Điều đó đƣợc Buck thể hiện qua những nhân vật nữ trong Ngôi nhà đất
và toàn cảnh tiểu thuyết của bà. Chúng tôi nhận thấy trong tác phẩm này nhà
văn đã tập trung thể hiện những vấn đề bà thƣờng quan tâm: mối quan hệ
giữa ngƣời nông dân với đất đai, giao thoa văn hoá Đông-Tây, hậu quả nặng
nề từ chiến tranh.
Có thể nhận thấy Pearl Buck là một ngoại lệ khi vƣợt qua đƣợc những
hạn chế của các cây bút nữ khi mà đa phần: “Các sáng tác của các cây bút nữ
thường tập trung ở một số tính chất và phạm vi nhất định, bởi vì diện sống
của họ nói chung không được rộng” [17, 259]. Nhƣng Pearl Buck có khả
năng tái hiện bức tranh cuộc sống trong một bối cảnh rộng lớn và cách thể
hiện, phản ánh của bà cũng rất sinh động, cụ thể, rõ nét. Khảo sát những sáng
tác nổi tiếng của Pearl Buck, chúng tôi nhận thấy phạm vi phản ánh của nhà
văn hết sức đa dạng, có khi đó là căn nhà nhỏ của một ngƣời nông dân, có khi
là nơi ở của một điền chủ, hoặc là dinh thự của một gia tộc lâu đời. Đặc biệt,
có lúc Pearl Buck còn dẫn dắt ngƣời đọc đi vào tận Tử Cấm Thành. Không
gian trong tiểu thuyết của nhà văn trải dài từ phƣơng Đông (Trung Hoa, Nhật
Bản, Ấn Độ) sang đến phƣơng Tây (Mĩ, Pháp). Điều đó đã khẳng định tài
năng của Pearl Buck, cũng nhƣ sự nỗ lực không ngừng của nhà văn trong
hành trình sáng tạo nghệ thuật.
vƣợt ra ngoài lời, âm thầm và lớn lao vô cùng. Chính vì vậy mà ngƣời phụ nữ
trở thành nguồn cảm hứng sáng tạo, nguồn đề tài vô tận đối với các nhà văn.
20 Nhân vật phụ nữ trong văn học cũng gợi niềm say mê, hứng thú với nhiều
nhà nghiên cứu văn học. Và Pearl Buck cũng không nằm ngoài quy luật ấy,
bà viết về ngƣời phụ nữ bằng chính tiếng nói của ngƣời trong cuộc.
Per Hallström, thƣ ký thƣờng trực Viện hàn lâm Thụy Điển trong lễ
Tuyên dƣơng Nobel, đã khái quát: “Vị trí người phụ nữ Trung Quốc là vấn đề
quan trọng và ảm đạm nhất trong những vấn đề của tiểu thuyết này. Ngay từ
đầu, chính ở điểm này cảm xúc của tác giả phơi bày mạnh mẽ nhất; cảm xúc
đó vẫn không ngừng nổi bật giữa sự êm đềm của tác phẩm sử thi. Một đoạn
ngay đầu tác phẩm đã thể hiện một cách chua xót vị trí thực của người phụ
nữ Trung Quốc từ ngàn xưa. Điều đó được lột tả với một sự nhấn mạnh đầy
ấn tượng, đồng thời với một chút hài hước hiếm thấy trong tác phẩm” [44].
Khi Khổng giáo ra đời, việc bắt phụ nữ phải phục tòng nam giới đã đƣợc
qui định, ngƣời ta gọi đó là lễ giáo, điều này đã đƣợc ghi nhận trong “Lễ Kí”.
Về phía ngƣời phụ nữ, do sự phụ thuộc về kinh tế, và bản chất phần lớn là
hiền lành, hiếu thuận nên họ thƣờng làm theo đúng tập tục xã hội, chấp nhận
tuân theo những lời giáo huấn đó. Xã hội Trung Quốc cũng qui định trong gia
đình, ngƣời con trai gánh vác việc thờ phụng tổ tiên, có lẽ vì con trai làm
ruộng và chiến đấu với kẻ thù giỏi hơn. Dòng dõi muốn đƣợc mạnh thì ngƣời
chồng phải có con trai làm nên sự nghiệp vẻ vang và thờ phụng tổ tiên khi
mình qua đời. Vì vậy, vai trò của ngƣời con trai rất quí. Sự ra đời của bé trai
mang lại niềm vui lớn cho gia đình, dòng họ. Chính vì vậy mà khi O-Lan sinh
con, điều mà Vƣơng Long mong mỏi nhiều nhất là O-Lan sẽ sinh con trai
“Con trai phải không? Ít nhất cũng nói cho tôi biết có phải con trai không?”
[25, 38]. Vốn là ngƣời rất tiết kiệm trong chi tiêu, Vƣơng Long không thích
đình chồng. Thậm chí, nếu gia đình nào sinh nhiều con gái quá mà gặp lúc
nghèo đói quá thì ngƣời ta có thể đem bỏ ở ngoài đồng cho đứa bé chết lạnh,
đứa trẻ có thể bị heo ăn thịt, hoặc gia đình có quyền đem bán đứa bé đi để lấy
tiền. Nhƣ trƣờng hợp O-Lan: “Chính tôi hồi nhỏ cũng bị đem bán. Tôi bị đem
bán cho một nhà giàu để cha mẹ tôi có thể trở về quê hương” [26, 105]. Tất
nhiên, đây không phải là hiện tƣợng cá biệt. Một ngƣời đàn ông ở Giang Tô
22 đã tâm sự với Vƣơng Long về gia đình mình, vào mùa đông trƣớc, họ đã đem
bán hai đứa con gái, nhờ vậy mới thoát nạn đói và “Mùa đông tới, nếu vợ tôi
tiếp tục đẻ con gái nữa, chúng tôi cũng lại đem bán” [26, 106]. Ông còn cho
biết thêm, có những ngƣời khi sinh ra con gái, họ thản nhiên “giết chúng
ngay khi chúng mới lọt lòng” [26, 106].
Có thể thấy, ở đất nƣớc này, sinh ra là ngƣời con gái rõ ràng là điều
không may mắn, vì số phận của họ thật quá mong manh, phải cam chịu nhiều
bất hạnh, thiệt thòi. Trong gia đình, mọi sự quan tâm thƣờng đƣợc tập trung
vào ngƣời con trai, còn ngƣời con gái không đƣợc đoái hoài hỏi han đến.
Ngƣời mẹ của Ái Lan đã tâm sự với Vƣơng Nguyên: “Đã nhiều lần, mẹ
tìm cớ này cớ khác, sai em con đến. Em con nom cũng đĩnh đạc, hóm hỉnh
lắm, mẹ đinh ninh thế nào cha con cũng phải để ý. Cha con lạ quá, rất vô
tình. Dưới con mắt cha con, em Lan chỉ là một người đàn bà. Cha con mặc
nhiên không đoái hoài đến hai mẹ con” [28, 87]. Thất vọng trƣớc sự hờ hững
của chồng, bà lấy cớ tìm nơi cho Ái Lan học hành, cố gắng dìu dắt, trông
nom con để đỡ tủi thẹn vì sinh ra phận má đào. Vƣơng hổ tƣớng có gửi tiền
lên nhƣng không tìm hiểu hai mẹ con ở đâu, còn sống hay chết.
Nhƣ vậy, dù ngƣời phụ nữ có năng lực, trí tuệ, họ có nhiều khả năng
đóng góp cho gia đình, xã hội nhƣng những quan điểm truyền thống Trung
Quốc đã không cho họ một vị thế xứng đáng. Điều đáng tiếc là tƣ tƣởng này
“phái tính”.
Sự phân biệt phái tính cũng đƣợc thể hiện rất rõ trong ngôn ngữ phƣơng
Đông. Nền văn hóa Âm – Dƣơng này coi những gì thuộc Dƣơng là đàn ông,
còn những gì thuộc Âm là phụ nữ. Những cặp từ phái sinh tƣơng ứng nhƣ
mặt trời – mặt trăng, ngày – đêm, nóng – lạnh, lửa – nƣớc, chủ động – bị
động,… cũng chính là kết quả của lối tƣ duy thống trị bởi nam giới.
Pearl Buck thấu hiểu nỗi thống khổ mà lễ giáo phong kiến quy chụp lên
ngƣời phụ nữ. Vì vậy Buck dành sự quan tâm ngƣời phụ nữ Trung Hoa qua
những trang viết của mình: Khi viết về O-Lan với niềm cảm thƣơng sâu sắc:
“từng làm nô tỳ một nơi giàu sang, lắm công nhiều việc, đầu tắt mặt tối, quần
24 quật suốt ngày” [26, 39]. “Mặt nàng mồ hôi, ướt nhoẹt, đất cát bụi bậm lấm
be bét khắp người, nom nâu nâu như mầu đất” [26, 40]. Thu vén, cất nhắc,
trông nom mọi việc trong nhà đâu vào đấy và đặc biệt là đức tính kiệm lời,
O-Lan gắn với từ láy chỉ thái độ nhận nhịn, cam chịu: “Lặng lẽ”.
Nhƣng con ngƣời ấy không chỉ đáng thƣơng mà còn đáng đƣợc yêu mến,
trân trọng. Mỗi trang viết của bà là tiếng nói tố cáo xã hội, bênh vực những
con ngƣời nhỏ bé bất hạnh. Ngƣời phụ nữ sinh ra trong xã hội ổn định, bình
thƣờng vẫn là ngƣời chịu nhiều thiệt thòi huống hồ họ phải sống trong xã hội
thực dân nửa phong kiến một cổ chịu bao tròng áp bức: xã hội phong kiến,
ngƣời đàn ông, thực dân.
1.2.2. Vấn đề nữ quyền trong Ngôi nhà đất
Theo Bách khoa toàn thƣ mở Wikipedia: “Nữ quyền là quyền và quyền
lợi của phụ nữ được công nhận bởi nhiều quốc gia trên thế giới.
Các vấn đề thường liên quan với khái niệm quyền của phụ nữ bao gồm,
nhưng không giới hạn: cơ thể toàn vẹn và tự chủ; quyền được giáo dục và
làm việc; được trả lương như nhau; quyền sở hữu tài sản; tham gia vào các
năm 1930 bà quan tâm và chia sẻ qua các tác phẩm của mình. Những năm
gần đây, nữ quyền luôn là vấn đề nóng hổi của văn đàn Trung Quốc. Có thể
nói, ở một đất nƣớc mà Khổng giáo thống trị hàng nghìn năm, ngƣời phụ nữ
luôn bị o ép bởi “tam tòng tứ đức”, bởi khuôn giáo có lúc nghiệt ngã, thì đến
thế kỷ XX, XXI này, tiếng nói của họ bắt đầu cất lên mạnh mẽ. Nhân vật nữ
không chỉ là trung tâm trong các tác phẩm của các nhà văn nữ nhƣ Thiết
Ngƣng, Sơn Táp, Miên Miên, Vệ Tuệ, Xuân Thụ… mà trong nhiều tác phẩm
của nhà văn Mạc Ngôn – ngƣời vừa đƣợc giải Nobel 2012 – phụ nữ cũng
thƣờng xuyên là nhân vật chính của câu chuyện.
Ngƣời phụ nữ trong văn của Mạc Ngôn hoang dã, nổi loạn và mãnh liệt.
Họ là đại diện cho khúc ca bi thƣơng về số phận con ngƣời và cho những
thăng trầm lịch sử Trung Hoa. Nhân vật nữ trong văn Buck là những con
ngƣời lặng lẽ, cam chịu để rồi trỗi dậy: Từ O-Lan câm lặng đến Ái Lan dám
chống lại lễ giáo phong kiến đè nén hàng nghìn năm. Trong mỗi trang sách,