Nhân vật nữ trong tiểu thuyết Lê Lựu - Pdf 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
–––––––––––––––––––– KIỀU THỊ NHUNG
NHÂN VẬT NỮ
TRONG TIỂU THUYẾT LÊ LỰU

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60. 22. 01. 21

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC


đến cô Tôn Thảo Miên (Viện Văn học).
Có được luận văn này, em cũng xin gửi tới những người thân, bạn bè,
đồng nghiệp gần xa lòng biết ơn vô hạn vì đã luôn động viên, giúp đỡ, tạo điều
kiện và thắp lên ngọn lửa nhiệt tình để em có thể hoàn thành được luận văn.
Để hoàn thành luận văn này, em cũng xin gửi tới các thầy giáo, cô giáo
khoa Ngữ văn trường Đại học sư phạm Thái Nguyên cũng như Ban giám hiệu,
Ban chủ nhiệm khoa, phòng quản lí khoa sau đại học của trường lòng biết ơn
chân thành vì luôn tạo điều kiện để em có được kết quả như ngày hôm nay.

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2014
Tác giả luận văn
Kiều Thị Nhung

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

MỤC LỤC

Lời cam đoan .i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Mục đích, đối tượng, phạm vi 6
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 6
5. Phương pháp nghiên cứu 7
6. Đóng góp của luận văn 8

NHÂN VẬT NỮ TRONG TIỂU THUYẾT LÊ LỰU.
3.1. Nghệ thuật tổ chức tình huống…………………………………………… 71
3.2. Nghệ thuật khắc hoạ nhân vật…………………………………………… 74
3.2.1. Nghệ thuật miêu tả ngoại hình………………………………………… 74
3.2.2. Nghệ thuật miêu tả hành động………………………………………… 78
3.2.3. Nghệ thuật biểu hiện độc thoại tâm…………………………………… . 81
3.3. Ngôn ngữ nhân vật……………………………………………………… . 83
3.4. Giọng điệu miêu tả nhân vật………………………………………… 86
3.4.1. Giọng điệu châm biếm, hài hước……………………………………… 86
3.4.2. Giọng điệu xót thương, day dứt ……………………………88
KẾT LUẬN………………………………………………………………… . 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………… 94

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài:
Nói đến văn học đương đại là nói đến văn học Việt Nam giai đoạn 1975
đến nay. Đây là mốc quan trọng đánh dấu sự cách tân sáng tạo về cả nội dung
và hình thức ở nhiều thể loại, đặc biệt là tiểu thuyết. Chiến thắng vĩ đại 1975 đã
ghi mốc quan trọng không chỉ trong lịch sử đất nước mà còn là mốc quan trọng
đánh dấu sự chuyển mình của văn học. Nếu như trước kia, văn học phục vụ
kháng chiến và phản ánh công cuộc đấu tranh vĩ đại của dân tộc thì giờ đây văn
học đã có sự thay đổi cả về cảm hứng và đề tài sáng tác để phù hợp với tình
hình mới. Văn học giai đoạn này, đòi hỏi các nhà nghệ sĩ phải đi sâu khám phá
đời sống của con người đời thường nhân bản với tất cả những cái hay cái dở
vốn có trong đời sống hiện thực. Vì thế, các nhà nghệ sĩ phải tiếp cận đời sống
bằng cái nhìn mới, cách tiếp cận mới. Trong số những nhà văn có sự đổi mới
sáng tạo ấy, ta không thể không kể đến nhà văn Lê Lựu với một số tiểu thuyết
đặc sắc. Với sự miệt mài, nhiệt huyết, Lê Lựu đã sáng tác được một khối lượng

Nhu cầu nhận thức lại thực tại Thời xa vắng của Nguyễn văn Lưu, Đọc Thời
xa vắng của Lê Lựu của Hoàng Ngọc Hiến, Suy tư một thời xa vắng của
Nguyễn Hoà, Hình tượng nguời nông dân và nhà văn đô thị của Nguyễn Thu
Hằng, Tâm sự phim Sóng ở đáy sông của Hồng Thái, Quan niệm nghệ thuật về
con người trong tiểu thuyết Lê Lựu thời kỳ đổi mới của Đoàn Thị Thuỷ, Vấn đề
con người và thời gian trong tiểu thuyết hậu chiến Việt Nam qua Thời xa vắng
của Lê Lựu và Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh trong luận văn thạc sĩ của
Đinh Thi Huyền, Lê Lựu – chân dung văn học của Trần Đăng Khoa, Lê Lựu-
Thời xa vắng của Đinh Quang Tốn, Nhà văn Lê Lựu đi đến tận cùng tính cách
nhân vật của Lê Hồng Lâm, Những đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết của Lê Lựu
trong chuyện làng cuội - Vũ Xuân Triệu, Nghĩ về một thời xa vắng của Thiếu
Mai…Trong những bài nghiên cứu này, có nhiều bài được chính Lê Lựu tập
hợp trong cuốn tạp văn của mình. Qua những bài viết, bài nghiên cứu đó, người
đọc không chỉ hình dung ra bức tranh xã hội muôn màu của đời sống hiện thực
mà còn cảm nhận được sự chuyển biến sâu sắc, tinh tế trong đời sống tư tưởng,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

tình cảm con người thời đại. Từ đó, ta thấy được những đóng góp to lớn của Lê
Lựu cho đời sống văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới, làm cho đời sống văn học
nước nhà thêm sôi động. Đúng như nhà văn Đinh Quang Tốn nhận xét: “Lê
Lựu lớn lên giữa lúc dân có ruộng dập dìu hợp tác. Tất cả những niềm vui và
nỗi buồn của làng quê thời kỳ ấy anh đều chứng kiến. Bản chất là anh nông
dân mặc áo lính, anh luôn nghĩ về quê hương, chú ý đến những người nông dân
và nông thôn. Nông thôn và nông dân là cội nguồn, là quê hương văn học của
anh từ tác phẩm đầu tiên đến tác phẩm anh viết gần đây nhất, dẫu cả đời anh
gắn bó với quân đội, ăn lương quân đội và làm việc cho quân đội’’[35, tr. 656].
Từ đó, ông cũng khẳng định vị trí của Lê Lựu trong nền văn học Việt Nam thời
kỳ đổi mới: “Nếu trong tổng số sáu trăm hội viên hội nhà văn Việt Nam, cứ
mười người chọn lấy một người tiêu biểu thì Lê Lựu là một trong tổng số sáu
mươi nhà văn ấy. Nếu về văn xuôi Việt Nam hiện đại, chọn lấy ba mươi tác

Nam thêm sôi động.
Ở một số bài viết như: Thời xa vắng – Một tâm sự nóng bỏng của Lê
Thành Nghị, Nghĩ về một thời xa vắng của Thiếu Mai, Nhận thức lại thực tại
qua một thời xa vắng của Nguyễn Văn Lưu, Suy tư từ một thời xa vắng của
Nguyễn Hoà Ở những bài viết này, các tác giả đã đề cập đến những suy nghĩ
mới mẻ của Lê Lựu. Đó là những vấn đề nhận thức lại một thời xa vắng - Một
thời sống hộ, yêu hộ. Cũng đánh giá về vấn đề này, có bài viết Hình tượng
người nông dân và nhà văn đô thị của Nguyễn Thu Hằng. Tác giả đã nhận xét:
“Có thể họ chưa có tủ lạnh, nhưng họ đã có xe chở đá về, quán nào ở quê mà
chả đọc thấy Giải khát có đá! Còn xe máy à, có đấy nhưng họ khác dân thành
phố, anh thành phố thì cưỡi nghênh ngang cho oai. Anh nhà quê họ thực tế
hơn, họ đi Sim sơn, đi Minxcơ, hợp với đường quê, lại thồ được gà, được lợn.
Cái xe của họ thồ được bốn người, họ tính toán kỹ lắm chứ” [15, tr.652]. Cùng
những bài viết ấy, có bài viết Đọc Thời xa vắng của Lê Lựu của Hoàng Ngọc
Hiến, bài Nhà văn Lựụ đi đến tận cùng tính cách nhân vật của Lê Hồng Lâm. Ở
bài viết này, ông nhận định, đánh giá về vị trí của Lê Lựu: “Ông Lê Lựu từ khi
được bạn đọc chú ý, hễ cứ viết ra cuốn nào là gây dư luận cuốn đó. Có cuốn
nổi tiếng bởi bản thân nội dung đặc sắc, nó đi vào mạch ngầm trong tâm tư,
tình cảm nhân vật như Thời xa vắng, có cuốn nổi tiếng bởi tai tiếng như
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

Chuyện làng cuội, lại có cuốn mãi vài năm sau khi lên phim mới nổi đình nổi
đám kéo theo đó là tai bay vạ gió như Sóng ở đáy sông’’ [22, tr. 708].
Cũng có bài viết lại đi sâu về sự nghiệp và hoàn cảnh sáng tác của Lê
Lựu như bài Lê Lựu –Thời xa vắng của Đinh Quang Tốn. Trong bài Lê Lựu –
Chân dung văn học, Trần Đăng Khoa lại nhấn mạnh đến nghệ thuật trong Thời
xa vắng.
Đến với bài viết Tiểu thuyết Lê Lựu thời kỳ đổi mới của Đỗ Hải Ninh, tác
giả lại nêu ra những nét khái quát nhất về tiểu thuyết của Lê Lựu thời kỳ sau
1975, tuy nhiên tác giả không đi sâu vào phân tích cụ thể. Tiểu thuyết Lê Lựu

vật nữ trong tiểu thuyết Lê Lựu trên phương diện nội dung và hình thức nghệ
thuật với mục đích tìm kiếm, phát hiện những nét khác biệt và sự đổi mới trong
cách nhìn và cách thể hiện hình ảnh người phụ nữ của nhà văn. Qua đó, khẳng
định đóng góp, vị trí của nhà văn trong dòng chảy của tiểu thuyết Việt Nam
thời kỳ đổi mới.
Đối tượng nghiên cứu là nhân vật nữ trong một số tiểu thuyết Lê Lựu
thời kỳ đổi mới: Thời xa vắng (1986); Chuyện làng cuội (1993); Sóng ở đáy
sông (1994); Hai nhà (2000);Thời loạn (2010). Từ đó, khái quát về bức chân
dung người phụ nữ trong tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới.
Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi chủ yếu đi sâu tìm hiểu để chỉ
ra các kiểu nhân vật nữ, quan niệm nghệ thuật, cảm hứng sáng tạo, nghệ thuật
xây dựng nhân vật qua một số tiểu thuyết tiêu biểu của nhà văn.

4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Qua việc tìm hiểu, nghiên cứu đề tài Nhân vật nữ trong tiểu thuyết Lê
Lựu, luận văn làm rõ những vấn đề sau:
Xác định vị trí các tiểu thuyết: Thời xa vắng, Chuyện làng Cuội, Sóng ở
đáy sông, Hai nhà, Thời loạn trong sự nghiệp sáng tác của Lê Lựu và trong
tiến trình tiểu thuyết Việt Nam hiện đại.
Phân tích những đặc điểm nổi bật của các kiểu nhân vật nữ trong các tiểu
thuyết Lê Lựu và những nét đặc sắc về nghệ thuật xây dựng nhân vật như nghệ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

thuật tạo tình huống, nghệ thuật khắc họa nhân vật, ngôn ngữ, giọng điệu nhân
vật Từ đó, khẳng định sự chuyển đổi trong cảm hứng sáng tác về đề tài người
phụ nữ của Lê Lựu.

5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Với đề tài này, chúng tôi lựa chọn một số phương pháp nghiên cứu chủ
yếu sau:


7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội
dung của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Tiểu thuyết Lê Lựu trong dòng chảy tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ
đổi mới.
Chương 2: Thế giới nhân vật nữ trong tiểu thuyết Lê Lựu.
Chương 3: Một số phương diện nghệ thuật thể hiện nhân vật nữ trong
tiểu thuyết Lê Lựu. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
TIỂU THUYẾT LÊ LỰU TRONG DÒNG CHẢYTIỂU THUYẾT VIỆT
NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI

1.1.Khái quát tiểu thuyết Việt Nam đƣơng đại
1.1.1. Đặc điểm tiểu thuyết Việt Nam đương đại
Văn xuôi Việt Nam từ 1975 đến nay có sự đổi mới rõ nét trên mọi bình

biểu như: Thời xa vắng, Hai nhà ( Lê Lựu), Mảnh đất lắm người nhiều ma
(Nguyễn Khắc Trường), Đám cưới không có giấy giá thú (Ma Văn Kháng),
Luật đời và cha con (Nguyễn Bắc Sơn) Tiểu thuyết thời kỳ này đã khẳng định
được vị trí của mình. Bởi thế, không phải ngẫu nhiên mà người ta đã cảm nhận
thời bây giờ là “ thời của tiểu thuyết” ( Nguyễn Huy Thiệp ), thời của dân chủ
hoá trong sáng tạo và tiếp nhận. Những nhà văn lão thành như Nguyễn Xuân
Khánh đã từng thành công với tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn – Cuốn tiểu
thuyết vừa ráo mực đã được nhận giải thưởng cao nhất của Hội nhà văn Hà Nội
với số phiếu tuyệt đối; Nguyễn Khải với Thượng đế thì cười dường như muốn
khép lại một hành trình hơn nửa thế kỷ cầm bút để lại nhiều tiếng vang trong sự
nghiệp tác giả. Dù đã thuộc vào hàng cây cao bóng cả, Mạc Can vẫn không thôi
làm người đọc ngạc nhiên và cảm động với tiểu thuyết đầu tay Tấm ván phóng
dao. Qua nhiều năm tích luỹ kinh nghiêm và nếm trải, Bùi Ngọc Tấn làm nóng
dư luận với Chuyện kể năm 2000. Và không thể không nhắc đến một Ma văn
Kháng vẫn dồi dào bút lực trong Ngược dòng nước lũ. Cùng đồng hành với
những nhà văn lớp trước là hàng loạt các cây bút của các thế hệ kế tiếp luôn ý
thức về sự đổi mới sáng tạo, sẵn sàng thể nghiệm, cách tân, sáng tạo và chấp
nhận thử thách. Người đọc đã dần quen và nhớ tên hàng loạt tiểu thuyết Thoạt
kỳ thuỷ, Ngồi ( Nguyễn Bình Phương); Cõi người rung chuông tận thế ( Hồ
Anh Thái); Thiên thần sám hối (Tạ Duy Anh) Trong bối cảnh giao lưu và hội
nhập văn hoá quốc tế, sáng tác của các cây bút hải ngoại đã xuất hiện ở Việt
Nam và được giới thiệu tới bạn đọc ở trong nước: Sông Côn mùa lũ (Nguyễn
Mộng Giác), Thiên sứ (Phạm Thị Hoài), Và khi tro bụi (Đoàn Minh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

Phượng) Những tác phẩm của các cây bút ấy đã góp phần làm cho diện mạo
tiểu thuyết hậu hiện đại phong phú và đa dạng hơn.
Như vậy, tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới đã thực hiện khá thành
công nhu cầu đổi mới tư duy tiểu thuyết. Nhìn từ góc độ thể loại, ở thời kỳ này
tiểu thuyết có sự tìm tòi, cách tân trên nhiều phương diện: Đề tài, cốt truyện,

Ninh Ở các tiểu thuyết Chim én bay, Ăn mày dĩ vãng tác giả đã sử dụng cấu
trúc đồng hiện trong tác phẩm. Ở đó, quá khứ và hiện tại được đan xen trong
cốt truyện. Tiểu thuyết được viết một cách tự nhiên, không bị ràng buộc bởi thi
pháp truyền thống. Có nhiều tiểu thuyết giai đoạn này được tạo dựng từ các
mảnh cốt truyện, các mảnh tâm trạng không theo trình tự thời gian mà theo ý
đồ sáng tạo của tác giả.
Làm nên tác phẩm không thể thiếu nhân vật. Nhân vật văn học thể hiện
quan niệm của nhà văn về con người. Tiểu thuyết ngoài khả năng tái hiện bức
tranh toàn cảnh xã hội còn đi sâu khám phá số phận con người. Nếu như văn
học giai đoạn 1945 -1975 nhìn con người dưới góc độ cộng đồng dám xả thân
vì nghĩa lớn, tìm thấy ý nghĩa cuộc đời trong sự gắn bó với cộng đồng. Đến văn
học thời kỳ đổi mới lại là giai đoạn chuyển biến từ tư duy sử thi sang tư duy
tiểu thuyết, từ cảm hứng lịch sử dân tộc sang cảm hứng thế sự đời tư. Vì thế,
tiểu thuyết quan tâm đến số phận con người trước những va đập của chiến
tranh. Nhiều cuốn tiểu thuyết đã hướng tới miêu tả số phận những con người
bình thường với những bi kịch của đời họ. Trong văn học đổi mới vấn đề con
người cá nhân được các nhà văn quan tâm hàng đầu. Đó không phải là con
người của chủ nghĩa cá nhân, của cái tôi cực đoan, không chịu sự tác động của
xã hội như trước kia. Mà ở đây, số phận cá nhân được giải quyết một cách thoả
đáng trong mối liên hệ mật thiết với cộng đồng, xã hội. Đằng sau mỗi cá thể là
những vấn đề mang ý nghĩa của thời đại. Tiểu thuyết thời kỳ này, đề cập đến
khát vọng sống, về hạnh phúc cá nhân, về tình yêu đôi lứa. Các tác giả đã khai
thác con người tự nhiên trước nhu cầu của hạnh phúc đời thường, của cuộc
sống riêng tư. Khi con người trở về với cuộc sống đời thường, trong hàng loạt
tác phẩm của Lê Lựu, Chu Lai, Ma Văn Kháng, Dương Hướng, Nguyễn Khắc
Trường các nhà văn đã thể hiện được sự gắn bó giữa sự nghiệp chung với
hạnh phúc riêng, giữa con người cá nhân và con người xã hội. Các cây bút tiểu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

thuyết ấy đã đi sâu khám phá thế giới nội tâm của con người. Ở đó, các tác giả


dụ, huyền thoại. Đây là bút pháp nghệ thuật được rất nhiều nhà tiểu thuyết thời
kỳ này sử dụng. Sự có mặt của bút pháp này vừa giúp nhà văn đi sâu hơn vào
thế giới hiện thực vừa tạo ra sự lạ hoá để thu hút người đọc đem đến cho họ
nhiều cảm xúc mới mẻ về một hiện thực đầy nghiệt ngã và phức tạp qua những
huyền thoại giàu chất tưởng tượng. Từ đó, người đọc có cái nhìn đa dạng, nhiều
chiều về đời sống hiện thực.
Nhìn từ góc độ khác, tiểu thuyết thời kỳ này đã tiếp cận vấn đề đạo đức
một cách tối đa. Từ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, đời sống xã hội
biến đổi nhanh chóng, vấn đề đạo đức của con người đang bị xuống cấp. Với
thiên chức của mình – là ngọn nguồn nuôi dưỡng, là phương tiện giáo dục con
người, văn chương đã góp phần thức tỉnh lương tri, nâng đỡ tâm hồn, hướng
con người tới Chân – Thiện – Mỹ. Và lẽ dĩ nhiên, không thể dửng dưng đứng
ngoài cuộc, tiểu thuyết sau 1975 thâm nhập vào cuộc sống con người. Trên
hành trình tìm kiếm đạo đức, nhân cách mới cho con người hôm nay và mai sau
thì việc đặt con người trong các mối quan hệ đạo đức xã hội là điều cần thiết.
Tiểu thuyết hôm nay đã hướng vào việc phản ánh mặt trái của những con người
phi nhân tính, đánh mất đạo lý Thấp thoáng ở đó, người đọc tìm thấy những
mảnh đời, những số phận được tái tạo mang chiều sâu triết lý nhân sinh cụ thể
mà phổ quát. Tiểu thuyết thời kỳ đổi mới hoà nhập để phản ánh chân thực, gần
gũi những vấn đề mà các nhà văn trăn trở. Ở đó, các tác giả đặt ra nhu cầu về ý
thức, trách nhiệm lương tri trước những biến động ghê gớm của các chuẩn mực
giá trị đạo đức, góp phần làm cuộc sống hoàn thiện, tốt đẹp hơn. Hàng loạt các
tác phẩm như: Thời xa vắng, Chuyện làng cuội, Hai nhà, Thời loạn của (Lê
Lựu); Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng); Mảnh đất lắm người nhiều
ma (Nguyễn Khắc Trường) Cùng với đó là sự góp mặt của truyện ngắn
Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Huy Thiệp Từ đó, giúp
người đọc nhận thấy đời sống xã hội không còn là một chiều, giản đơn, dễ hiểu
mà chúng luôn biến chuyển phức tạp, nhiều chiều. Bằng trách nhiệm của người
cầm bút, các nhà văn đã đưa ngòi bút của mình len lỏi tới những ngõ ngách của

khám phá nghệ thuật của nhà văn. Hoà mình vào dòng chảy văn học thời kỳ
này, các nhà tiểu thuyết đương đại ra sức sáng tạo để khẳng định mình. Điều đó
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

đã tạo nên một đội ngũ tiểu thuyết đông đảo có tên tuổi trong nền văn học Việt
Nam hiện đại. Có thể kể đến các cây bút như: Ma Văn Kháng, Tạ Duy Anh,
Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Khắc Trường, Lê Lựu, Chu Lai, Dương Hướng,
Nguyễn Thị Thu Huệ… Họ quan tâm đến nhiều vấn đề của đời sống hiện thực.
Các nhà tiểu thuyết đã nhìn sâu hơn vào những mảnh vỡ, những bi kịch của con
người ở trong đời thường cũng như trong gia đình như: gia đình ông Bằng
(Mùa lá rụng trong vườn – Ma Văn Kháng), gia đình ông đồ Khang (Thời xa
vắng – Lê Lựu), gia đình lão Khổ (Lão khổ - Tạ Duy Anh), gia đình ông Phúc
(Mảnh đất lắm người nhiều ma – Nguyễn Khắc Trường), gia đình bà cả
Thuần (Dòng sông mía - Đào Thắng)…
Bằng trách nhiệm của người cầm bút, các nhà văn đã hoà nhập cùng với
sự phát triển mau lẹ của đời sống hiện thực. Từ đó, họ đưa ngòi bút của mình đi
sâu vào đời sống hiện thực xã hội với nhiều mặt vừa tích cực vừa tiêu cực. Từ
đó, họ nhận ra được những mảnh đời đầy éo le, những tấn bi kịch của đời sống
con người. Cũng xuất phát từ nhu cầu đổi mới văn học thời kỳ này mà các nhà
tiểu thuyết đương đại đã đổi mới tư duy nghệ thuật và quan niệm về con người,
thể loại. Vì thế mà kiểu nhân vật được mở rộng, đa dạng hoá sự đổi mới trong
nghệ thuật về con người nhằm tạo ra những đột phá trong văn học đương thời.
Chính điều đó đã khẳng định được bước tiến của tiểu thuyết cũng như các cây
bút tiểu thuyết thời kỳ này. Hoà chung vào không khí văn học giai đoạn này,
đội ngũ tiểu thuyết cũng vận hành trong cơ chế vận động và đổi mới của văn
xuôi đương đại. Những người cầm bút hoà mình vào cuộc sống hiện thực để cho ra
đời những tác phẩm có giá trị, thể hiện sự sáng tạo, những nỗ lực đổi mới của họ.
Đến với nhà văn của đồng bào các dân tộc miền núi - Ma Văn Kháng,
người đọc thấy được sự sáng tạo không nhỏ trong sự nghiệp của nhà văn. Ma
Văn Kháng được mọi người biết đến không chỉ bởi tác phẩm, nhân vật của

xấu, cái ác và bóng tối đã làm nên sự thành công của ông qua một số tác phẩm
như: Thiên thần sám hối, Giã biệt bóng tối, truyện ngắn Lãng du. Cũng trong
quãng thời gian cầm bút, Tạ Duy Anh vẫn luôn trăn trở tìm cách đổi mới tư
duy, quan niệm nghệ thuật, làm mới tác phẩm từ nội dung đến hình thức, từ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

ngôn ngữ tới cấu trúc. Điều đó làm cho sự nghiệp và tên tuổi của ông được
đông đảo bạn đọc trong và ngoài nước biết đến.
Góp mặt trong đội ngũ các nhà tiểu thuyết đương đại, chúng ta cũng phải
kể đến sự đóng góp của Nguyễn Bình Phương. Mặc dù nhìn bề ngoài giản dị,
hiền hoà, nhân hậu, ít nói nhưng con người bên trong của ông lại vô cùng mạnh
mẽ, sắc sảo, thẳng thắn. Ông luôn nhìn vào sự thật để viết. Vốn là một nhà văn
quân đội, nhờ thời gian trong quân ngũ “rèn luyện cho tôi nhiều về tính cách
biết kìm nén hơn. Tôi có nhiều thời gian dong duổi lang thang cuộc chiến bảo
vệ bờ cõi của các vùng đất ấy. Quân ngũ cho tôi cái cảm quan về tình đồng đội,
về sự sống chất giữa những người bạn lính với nhau. Quan trọng nhất là nó rèn
luyện bản lĩnh đơn phương độc mã cho tôi”. Vì thế mà ông không ngừng sáng
tạo và đổi mới trong sự nghiệp sáng tác để khẳng định chỗ đứng của mình trong
tiến trình văn học Việt Nam hiện đại. Ông là nhà văn đã mang đến cho bạn đọc
những cảm quan mới mẻ và phong phú. Ông luôn ý thức tiếp thu cái mới và
khai thác đề tài ở những vùng đất mới với những cách tân độc đáo cả về nội
dung và hình thức thể hiện. Đó là những đóng góp đáng ghi nhận của một nhà
văn luôn nỗ lực sáng tạo làm mới tiểu thuyết Việt Nam.
* * *
Như vậy có thể thấy, với những nỗ lực đổi mới, sáng tạo, các nhà tiểu thuyết
đương đại đã khẳng định được vị trí của mình trong nền văn học Việt Nam hiện đại.
Cũng nhờ đó mà đội ngũ tiểu thuyết đương đại ngày càng đông đảo, đa dạng.

1.1.3. Nhân vật nữ trong tiểu thuyết đương đại.
Đề tài người phụ nữ là mạch nguồn bất tận trong văn học từ xưa đến nay.

đại cũng nằm trong mạch nguồn sáng tạo ấy. Họ đã đi sâu khám phá cuộc sống hiện
thực của con người thời kỳ này
. Vì thế, hình ảnh người phụ nữ trong tiểu thuyết
đương đại hiện lên với những gì như nó vốn có. Họ không điển hình cho mô típ
người được định trước mà hiện lên với cả mặt tốt và mặt xấu trong cuộc sống đời
thường. Từ cái nhìn đầy rẫy những chấn thương nên thế giới nhân vật trong
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

tiểu thuyết thời kỳ này là những con người nạn nhân của những chấn động xã
hội. Trước cuộc sống hiện thực luôn xô bồ, khắc nghiệt; trước sự cám dỗ của
lối sống thực dụng đang hoành, con người trở nên chao đảo mất phương hướng
dẫn đến tình trạng tha hoá hoặc bị chìm vào những bi kịch không lối thoát. Đến
với Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng, người đọc bắt gặp hình ảnh
cô Lý vừa ý nhị kín đáo vừa vô cùng tàn nhẫn. Lý là nhân vật được tác giả khắc
hoạ rất đậm nét. Cô là người vừa có cá tính vừa có đời sống nội tâm phong phú.
Có lúc cô chăm sóc gia đình chu đáo, khéo léo trong nội trợ, điều đó khiến cô
thật dễ thương. Nhưng cũng có lúc cô nanh nọc như một kẻ thất học lắm điều
với những thói đố kị ganh ghét. Lý vừa là đoá hoa bừng nở, ngào ngạt khoe
hương sắc vừa là kẻ cô độc lầm lũi như cái bóng “xam xám cái áo nhuộm pin
đèn, sùm sụp cái nón, xách cái cặp lồng cơm, lặng lẽ đi làm”. Lý chính là sản
phẩm của thời đại mới dễ thích ứng nhưng cũng dễ thay đổi trước những biến
động của môi trường. Mặc dù, cô mồ côi bố mẹ từ lúc nhỏ. Tuổi thơ không
được sống trong mái ấm gia đình, lớn lên không được cắp sách đến trường như
bao đứa trẻ khác nhưng cô lại sớm bị tiêm nhiễm lối sống xô bồ nơi thành thị.
Vì vậy, khi Đông xuất hiện trong bộ quân phục sĩ quan, sao vàng lấp lánh trên
mũ là Lý cảm mến và chẳng bao lâu đã yêu tha thiết anh đại uý quân đội nhân
dân Việt Nam nọ. Thế nhưng sau khi gắn cuộc đời mình với Đông, Lý không
bằng lòng với cuộc sống đơn giản, buồn tẻ, điều đó làm cho Lý hoàn toàn vỡ
mộng. Trong khi đó, bên cạnh chị không thiếu những kẻ cơ hội muốn lợi dụng
chị, luôn khen chị quá mức “ cô là con người năng động nhất” hay “chị ấy là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status