LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo
Nguyễn Thị Vân Anh - người trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình giúp tôi
hoàn thành khóa luận này.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới tất cả các thầy cô giáo trong khoa Ngữ
văn, đặc biệt là thầy cô trong tổ Lý luận văn học và các bạn sinh viên đã giúp
đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa luận.
Hà Nội, ngày 16 tháng 5 năm 2013
Người thực hiện
Phùng Thị Sứ
LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận này hoàn thành dưới sự hướng dẫn trực tiếp của cô giáo
Nguyễn Thị Vân Anh. Tôi xin cam đoan rằng:
- Khóa luận là kết quả nghiên cứu, tìm tòi của riêng tôi.
- Những tư liệu được trích dẫn trong khóa luận là trung thực.
- Kết quả nghiên cứu này không hề trùng khít với bất kì công trình nghiên
cứu nào từng công bố.
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 16 tháng 5 năm 2013
Người thực hiện
Phùng Thị Sứ
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài........................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................ 3
3.1. Nghệ thuật miêu tả ngoại hình nhân vật ..................................................... 41
3.2. Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật ............................................................ 44
3.3. Bút pháp tương phản, đối lập ..................................................................... 52
3.4. Ngôn ngữ nhân vật .................................................................................... 55
3.4.1. Ngôn ngữ mực thước, khuôn phép .......................................................... 55
3.4.2. Ngôn ngữ giang hồ ................................................................................. 57
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................. 61
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Bàn về nhân vật nữ trong văn học là vấn đề được nhiều nhà nghiên
cứu quan tâm, đây là vấn đề vừa có ý nghĩa lí luận, vừa có giá trị thực tiễn trong
nghiên cứu văn học. Thật vậy, người phụ nữ là một nửa của thế giới, là những
con người mang vẻ đẹp thuần khiết, dịu dàng, nhà văn Vichtor Huygo từng ví vẻ
đẹp của người phụ nữ với những vì sao “Bên cạnh ánh sáng lung linh của các vì
sao còn có ánh sáng êm dịu và huyền bí của người phụ nữ”. Hình tượng người
phụ nữ không chỉ hiện hữu trong thực tế đời sống mà đã từ rất lâu, hình ảnh này
đi vào trong sáng tác chương như một sự vận động tất yếu của văn học và thời
đại. Nói đến nhân vật nữ trong văn học, các nhà tiểu thuyết phương Tây đặc biệt
chú trọng đến hình tượng này. Ta có thể kể đến hình tượng người phụ nữ trong
các tác phẩm như Ana Karênina của L.Tônxtôi, Những người khốn khổ và Nhà
thờ đức bà Pari của nhà văn Vichtor Huygo, hay Margaret Mitchell với Cuốn
theo chiều gió... Trong văn học Việt Nam, sự phản ánh hình tượng này thưa thớt
hơn song cũng đạt được nhiều thành tựu. Có thể điểm danh một số nhân vật như:
Thúy Kiều - người con gái tài sắc nhưng lại có cuộc đời bất hạnh trong Truyện
Kiều của Nguyễn Du, người chinh phụ mòn mỏi chờ chồng đi chinh chiến trong
Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn và không thể không nhắc đến người phụ nữ
với những khát khao về một tình yêu tuyệt đích như trong thơ Hồ Xuân Hương.
thích viết đề tài đó, quả thực mình thấy mình cảm động trước đề tài đó. Hơn nữa
mình đoán thấy đề tài đó có nhiều cái hay” [20, Tr.46]. Và gắn liền với đề tài “có
nhiều cái hay” đó chính là các nhân vật “chàng” và “nàng”, đặc biệt là nhân vật
nữ được Nhất Linh nhắc đến nhiều hơn cả. Trong xã hội phong kiến đang trên đà
“Âu hóa”, cùng với đó cũng sinh ra lớp người phụ nữ mang tư tưởng Tây Âu
tiến bộ, họ có quan niệm sống, lối sống trái ngược hẳn với tư tưởng phong kiến
đương thời. Trong hoàn cảnh sự Âu hóa còn quá mới mẻ mà tư tưởng phong
kiến lại trở thành thâm căn cố đế trong xã hội như vậy, những người phụ nữ
mang trong mình hơi thở của Tây phương trở thành những người “nổi loạn” và
nếu không “nổi loạn” chống lại chế độ thì họ trở thành những con người bi kịch.
Đó là những thực tế đã được Nhất Linh phản ánh trong rất nhiều tiểu thuyết của
mình.
2
Xuất phát từ những lí do kể trên, chúng tôi lựa chọn đề tài Nhân vật nữ
trong tiểu thuyết Nhất Linh để thấy được mối quan hệ giữa hiện thực đời sống và
sáng tác văn học và thấy được thực trạng cuộc sống của một thế hệ những người
phụ nữ đã từng tồn tại trong xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỉ XX.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đã có một thời gian văn chương Tự lực văn đoàn nói chung và tiểu thuyết
của Nhất Linh nói riêng không thực sự được hoan nghênh đón nhận. Văn chương
Tự lực văn đoàn được đánh giá là “độc hại và tiêu cực”, bởi đó là những tác
phẩm văn chương lãng mạn, nó dễ làm cho con người sống trong ảo mộng, phi
thực tế . Mặc dù vậy, trải qua sự chắt lọc khắt khe của thời gian và dư luận, các
tác phẩm của Tự lực văn đoàn đã được độc giả đón nhận. Các nhà nghiên cứu đã
đi vào tìm hiểu các tác phẩm của Tự lực văn đoàn cũng như của Nhất Linh, và
cùng với đó là rất nhiều các công trình nghiên cứu ra đời.
Nhận xét về hình tượng người phụ nữ trong tiểu thuyết của Nhất Linh, tác
tâm lí không ai chối cãi được. Ông Nhất Linh đã dùng một cách quan sát rất tinh
vi để tả những trạng thái phiền phức trong tâm hồn riêng của nhân vật trong
truyện để đi sâu vào đời riêng tư của họ” [3, Tr.18]. Với Lạnh lùng ông tiếp tục
khẳng định: “không thể lọt qua trí quan sát của ông, những tư tưởng ta giấu kín
tận đáy lòng như những con vật xấu xa. Người trong truyện vì thế mà linh động”
[3, Tr.27].
Như vậy, qua việc khảo sát những công trình nghiên cứu kể trên chúng tôi
nhận thấy vấn đề nhân vật nữ trong tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn nói chung và
tiểu thuyết của Nhất Linh nói riêng đã được các nhà nghiên cứu bàn đến ở những
mức độ khác nhau. Tuy nhiên các bài viết và các công trình nghiên cứu này mới
chỉ đưa ra những nhận xét khái quát về nhân vật nữ và mới chỉ dừng lại ở việc
bàn tản mạn một vài phương diện nào đó về nhân vật nữ trong sáng tác của Nhất
Linh. Xuất phát từ thực tiễn vừa nêu, đề tài nghiên cứu của chúng tôi sẽ tìm hiểu
một cách tập trung và có hệ thống về nhân vật nữ trong tiểu thuyết của Nhất
Linh. Chúng tôi hi vọng kết quả nghiên cứu thu được sẽ mang lại những đóng
góp nhất định đối với công tác giảng dạy và nghiên cứu các tác phẩm của nhà
văn này.
4
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Với đề tài đã chọn, chúng tôi tập trung tìm hiểu về nhân vật nữ trong tiểu
thuyết Nhất Linh. Trong quá trình nghiên cứu, người viết có sự liên hệ, so sánh
với một số tác phẩm văn xuôi hiện đại khác nhằm làm sáng tỏ nét độc đáo trong
sáng tạo của nhà văn.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận khảo sát các dạng nhân vật nữ và nghệ thuật xây dựng các kiểu
nhân vật này trong ba tiểu thuyết tiêu biểu của Nhất Linh, đó là: Đoạn tuyệt
ra được sự tác động chi phối là trực tiếp hay gián tiếp giữa các yếu tố trong cùng
một hệ thống.
6.2. Phương pháp so sánh
Phương pháp này giúp ta nhận thức đúng hơn về bản chất vấn đề. Qua so
sánh để thấy được sự giống nhau, khác nhau của các yếu tố trong cùng một hệ
thống. Từ đó phát hiện ra cái riêng, cái độc đáo trong mỗi hệ thống.
6.3. Phương pháp xác định lịch sử phát sinh
Theo cách gọi của M.B. Khrapchenco thì đây là phương pháp nghiên cứu
phát sinh lịch sử. Phương pháp này chủ trương nghiên cứu văn học cũng như các
trường phái, nhà văn, tác phẩm, phương pháp sáng tác từ nguồn gốc trong đời
sống xã hội. Nó cũng chủ trương giải thích sự phát triển của văn học, sự đấu
tranh giữa các trào lưu, sự thay thế hiện tượng văn học này với hiện tượng văn
học khác, sự tương tác, mâu thuẫn hoặc kế thừa có đổi mới của từng hiện tượng,
từng giai đoạn văn học.
Từ quan hệ văn học và đời sống, việc lí giải các hiện tượng văn học trên
cơ sở lịch sử xã hội là quan điểm đúng đắn mang lại nhiều sự lí giải thuyết phục,
khắc phục được những hạn chế của những khuynh hướng nghiên cứu nội quan.
7. Đóng góp của khóa luận
- Thấy được một số kiểu nhân vật nữ tiêu biểu trong tiểu thuyết của Nhất
Linh, đây cũng là đại diện cho một lớp người phụ nữ trong xã hội xưa.
- Đề tài giúp tìm ra sự sáng tạo mới mẻ trong ngòi bút của Nhất Linh khi
thể hiện nhân vật nữ trong tác phẩm, góp phần khẳng định tài năng và tên tuổi
của nhà văn.
6
8. Cấu trúc của khóa luận
Khóa luận được cấu trúc thành ba phần: mở đầu, nội dung, kết luận và
phần tài liệu tham khảo, phần nội dung được chúng tôi triển khai thành các
nhân vật trong truyện cổ tích, đồng thoại, thần thoại, bao gồm cả quái vật lẫn
thần linh ma quỷ, những con vật mang thần linh và ý nghĩa con người...”
Khái niệm nhân vật văn học có khi được sử dụng như một ẩn dụ, không
chỉ là con người cụ thể nào đó mà còn để chỉ một hình tượng nổi bật trong tác
phẩm. Do vậy, khái niệm nhân vật trong tác phẩm văn học không chỉ dừng lại ở
con người mà còn ở cả những hình tượng liên quan đến con người.
Nhân vật vừa là yếu tố thuộc về nội dung, vừa là yếu tố thuộc hình thức,
bởi vậy nó đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với tác phẩm và đối với bản thân
8
văn học. Nhân vật là phương tiện để khái quát hiện thực, là phương tiện để khái
quát tư tưởng của tác phẩm và quyết định hình thức của tác phẩm. Nhân vật sẽ
xâu chuỗi các sự kiện tình tiết của tác phẩm, là nơi chủ yếu để nhà văn thể hiện
quan niệm nghệ thuật và lí tưởng thẩm mĩ về con người đồng thời góp phần tạo
nên giá trị, sức hấp dẫn và sự thành công của tác phẩm.
1.1.2. Vai trò của nhân vật trong tác phẩm
Nhân vật đóng vai trò là tâm điểm của sự thể hiện đời sống trong tác phẩm
văn học. Nó không chỉ là “tiêu điểm để bộc lộ chủ đề” mà còn là nơi “ tập trung
giá trị tư tưởng, nghệ thuật của tác phẩm”.
Trong cuốn Văn chương dẫn luận G.N. Pospelov nhấn mạnh: “nhân vật là
phương diện có tính thứ nhất trong hình thức tác phẩm. Nó quyết định phần lớn
vừa cốt truyện, vừa lựa chọn chi tiết, vừa ngôn ngữ, vừa kết cấu” [25, Tr.43].
Nhân vật vừa là yếu tố nội dung, vừa thuộc về hình thức tác phẩm. Nhân vật là
điều kiện thiết yếu để khám phá, đánh giá, lí giải và sự miêu tả mang tính nghệ
thuật của tác giả về đời sống đạt đến tính toàn vẹn, có chiều sâu và có sức hấp
dẫn riêng với độc giả.
Ta biết rằng nhân vật là hình tượng con người, khi tính cách nhân vật
được nhà văn xây dựng ở mức độ nào đó, nhân vật sẽ trở thành hình tượng về
có sự hòa lẫn, pha trộn nhờ cái nhìn riêng của mỗi nhà văn.
Nhân vật nữ đã xuất hiện trong văn học Việt Nam từ rất sớm, có thể kể tới
vài tác giả tâm đắc với đề tài này như Nguyễn Du, Đặng Trần Côn, Hồ Xuân
Hương và Nguyễn Dữ... Tuy nhiên, hình tượng nhân vật nữ xuất hiện nhiều nhất,
thể hiện được đầy đủ những đặc điểm tính cách, lối sống, quan niệm sống tiến bộ
có lẽ chỉ đến văn học Việt Nam hiện đại mới làm được điều đó. Và hình tượng
đó được khắc họa rõ nét nhất trong tiểu thuyết – đây vốn là một thể loại văn học
còn khá mới mẻ ở giai đoạn đầu khi bước qua thời kì văn học trung đại. Tuy vậy,
ở mỗi thời điểm khác nhau thì hình tượng nhân vật nữ hiện lên cũng khác nhau.
1.2.1. Đặc điểm nhân vật nữ trong tiểu thuyết Việt Nam hiện đại giai
đoạn trước năm 1945
Ngay từ những năm đầu thế kỉ XX, xã hội Việt Nam đã chịu tác động của
các chương trình khai thác thuộc địa, chính sách văn hóa giáo dục của Pháp...
Điều này làm xã hội thay đổi, vấn đề về vị trí, vai trò của người phụ nữ cũng
10
thay đổi theo. Sự thay đổi này cũng ảnh hưởng trực tiếp tới hình tượng nhân vât
nữ trong tiểu thuyết bấy giờ, các nhà văn đã đặc biệt quan tâm đến người phụ nữ.
Trong tiểu thuyết lãng mạn mà tiêu biểu nhất là tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn,
hình tượng người phụ nữ hiện lên không còn mang sự cổ hủ, lạc hậu vốn có nữa
mà họ đã trở thành những người làm chủ cuộc đời của họ. Đặc biệt những người
phụ nữ đều có khao khát phá tan những ràng buộc của lễ giáo phong kiến để họ
được sống thật là chính mình. Ta có thể kể đến các nhân vật như Mai trong Nửa
chừng xuân, Trâm trong Nắng thu (trong tiểu thuyết của Nhất Linh). Trong Nửa
chừng xuân, nhà văn xây dựng nhân vật Mai đương diện đấu tranh với lễ giáo
phong kiến hà khắc, những lễ giáo đã chà đạp lên hạnh phúc của cô.
Trong trào lưu văn học hiện thực phê phán, đặc biệt là trong tiểu thuyết
của Vũ Trọng Phụng thì hình tượng nhân vật nữ hiện lên mang đầy đủ những đặc
những năm trước cách mạng mà Ngô Tất Tố đã xây dựng lại trong tiểu thuyết
của mình.
1.2.2. Đặc điểm nhân vật nữ trong tiểu thuyết Việt Nam hiện đại giai
đoạn sau năm 1945
Trong những năm đất nước ta trải qua hai cuộc kháng chiến chống pháp
và chống Mĩ gian khổ mà oanh liệt thì hình tượng nhân vật người phụ nữ lại hiện
lên với vẻ đẹp anh dũng, hiên ngang. Đó là hình tượng chị Út Tịch (trong Người
mẹ cầm súng của Nguyễn Thi), đó là hình ảnh của chị Sứ trong Hòn đất của Anh
Đức. Trong Người mẹ cầm súng hiện lên hình ảnh người mẹ, người anh hùng
Nguyễn Thị Út với một ngoại hình bắt mắt: dáng người nhỏ gọn, khuôn mặt tròn
và đôi mắt to sáng và một phát biểu hùng hồn “còn cái lai quần cũng đánh”. Và
quả thực chị đã làm đúng như vậy, chị dũng cảm đấu tranh, dũng cảm giết giặc
và chị trở thành người anh hùng của thời đại. Ngay từ khi còn là một con bé con
gầy ốm tong teo, mặc quần cụt chị đã xin đi đánh tây: “đánh Tây sướng bằng
tiên chứ cực gì... nó đánh mình, mình đánh lại nó mới sướng chớ”. Dũng cảm
trong chiến đấu là vậy nhưng khi có gia đình chị vẫn không quên mình là một
người mẹ, một người vợ: chị lo xay bột cho con, lo sửa lại cái mái nhà dột, bện
lại dây võng cho con nằm, khi chồng chạy trốn khỏi bọn giặc thì đi tìm chồng
suốt đêm... Phải nói chị Út Tịch là người phụ nữ tiêu biểu cho hình tượng người
phụ nữ Việt nam những năm khánh chiến chống Mĩ. Trong Hòn đất thì ta cũng
12
gặp hình tượng chị Sứ mang đầy đủ nét đẹp truyền thống của người con gái Nam
Bộ nói riêng và người phụ nữ Việt Nam nói chung: một mái tóc dài mượt thoang
thoảng mùi hoa bưởi, một đôi tay làm lụng vén khéo... nhưng Sứ đẹp hơn nữa
bởi sự thủy chung son sắt với chồng, bởi sự anh hùng, dũng cảm của mình. Sứ
lấy chồng bảy năm là bảy năm xa cách đằng đẵng cùng nỗi nhớ nhưng chị không
bao giờ đánh mất mình, cả đến khi bị giặc bắt, lúc bị nhốt vào “hang cọp”, lúc bị
Không giống như các nhà văn khác cùng thời, Nhất Linh có một cái nhìn
rất mới mẻ về người phụ nữ. Với ông, người phụ nữ không còn là những người
phát thanh cho những tư tưởng của Khổng giáo nữa mà họ đã biết sống cho bản
thân và đặc biệt biết đấu tranh để sống thực với mình. Người phụ nữ dưới cái
nhìn của Nhất Linh là những người tiến bộ, chịu ảnh hưởng trực tiếp của tư
tưởng phương Tây, họ có quyền được đi học trong trường Pháp văn và có quyền
tự lựa chọn hạnh phúc cho mình. Đó là do Nhất Linh ý thức sâu sắc về sự thoát li
của con người, về tính ngắn hạn của hạnh phúc, về sức mạnh của tình yêu đôi
lứa... Những yếu tố ấy bao trùm toàn bộ những sáng tác của Nhất Linh, và nhân
vật thể hiện rõ nhất những tư tưởng ấy chính là hình tượng người phụ nữ. Tất cả
những người phụ nữ trong tiểu thuyết của nhà văn đều mang trong mình hơi thở
của cái mới, của sự đổi mới so với quan niệm phong kiến lạc hậu vẫn còn nặng
nề đương thời. Từ nhân vật Loan trong Nắng thu, đến Loan trong Đoạn tuyệt, rồi
Nhung trong Lạnh lùng, Thu trong Bướm trắng, tất cả họ đều là những người
mạnh mẽ, dám yêu, dám đấu tranh để bảo vệ tình yêu, hạnh phúc của mình. Họ
không phải là những người nhu nhược chỉ biết nghe theo sự sắp đặt của gia đình,
họ càng không phải là những con người khụy lụy răm rắp làm theo những quy
tắc lỗi thời do xã hội đặt ra mà họ đã đứng lên thực hiện một cuộc cách mạng để
giải thoát cho bản thân và những người phụ nữ khác. Viết về người phụ nữ, nhà
văn đã thể hiện sự cảm thông sâu sắc với với số phận bất hạnh của họ và thổi vào
họ một sức sống mới tiềm tàng, mạnh mẽ để chống lại với tất cả sự hủ bại trong
xã hội. Đây là một cái nhìn rất mới mẻ và mang đậm tính nhân văn của Nhất
Linh.
14
2.2. Các kiểu nhân vật nữ trong tiểu thuyết của Nhất Linh
Nhân vật là đứa con tinh thần của nhà văn. Vì thế, mỗi nhà văn khi sáng
tác đều xây dựng nhân vật tùy theo ý định và cá tính của người viết. Tiếp cận tác
chồng cũng đều do bà sắp đặt. Bởi thế, bà Hai một mực bắt Loan phải lấy Thân,
trong suy nghĩ của bà thì cha mẹ đặt đâu con phải ngồi đấy. Khi gia đình nhà bà
Phán - mẹ Thân đem đồ lễ đến để hỏi cưới Loan, bà Hai không cần hỏi ý kiến
Loan, bà cũng không cần biết là Loan có đồng ý hay không mà cứ nhận đồ cưới
như một lẽ tự nhiên bởi bà nghĩ bà đã nhận thì con cũng phải nhận. Khi Loan
biết chuyện, nàng không đồng ý và có lời trách móc mẹ thì bà khóc và cho rằng
con hỗn, những lời nói của bà Hai đầy sự bảo thủ, áp đặt: “Việc ấy thầy me đã
định rồi và sẽ lo liệu thu xếp cho cô, cô không phải bàn. Cái thói ở đâu hễ mẹ nói
một câu gì là cứ mồm một mồm hai cãi lại xa xả. Văn minh vừa vừa chứ người
ta mới chịu nổi!”. Và cuối cùng trước sự ép buộc của bố mẹ, Loan đành ngậm
ngùi lấy Thân mặc dù người nàng yêu là Dũng. Ngay cả khi Loan lấy chồng, bị
nhà chồng hành hạ, bà Hai vẫn coi đó là lẽ tự nhiên vì theo bà con dâu phải có
bổn phận hầu hạ nhà chồng. Đến khi Loan vùng dậy chống đối lại gia đình
chồng và giết chết chồng, bà Hai vẫn không hiểu được nỗi lòng của con gái, bà
trách Loan, bà cho đó là một sự sỉ nhục ghê gớm đối với gia đình bà: “Nó làm
khổ tôi. Nó làm dơ diếu cả nhà tôi. Hai bác tính, tôi hiếm hoi có một đứa con,
cũng tưởng gây dựng cho nó nên người tử tế, có ngờ đâu bây giờ tôi hóa ra mẹ
của một đứa con giết chồng. Nhục nhã chưa?” [18, Tr.130]. Bà Hai không hiểu
được rằng chính sự áp đặt và những suy nghĩ có phần cổ hủ của bà mới là
nguyên nhân đẩy con gái bà vào tấn bi kịch của cuộc đời. Có thể những suy nghĩ,
việc làm của bà là đều có thiện chí, bởi bà cũng muốn con gái được làm dâu gia
đình giàu có, bà cũng muốn được mở mày mở mặt với thiên hạ, tuy nhiên sai
lầm lớn nhất của bà chính là sự bảo thủ, áp đặt, bà luôn bắt con phải làm theo ý
mình, luôn bảo vệ suy nghĩ của mình dù cho suy nghĩ đó là lệch lạc,là thiển cận.
Những suy nghĩ, hành động của bà Hai cũng là tình trạng chung của các bà mẹ
trong xã hội bấy giờ, bởi họ là những người sống theo khuôn phép, chuẩn mực của
lễ giáo phong kiến, họ cho rằng cha mẹ sinh con ra thì có mọi quyền hành đối với
con mình, và họ không chấp nhận những gì đi ngược lại với quan niệm đó.
16
đích nghệ thuật nhất định của nhà văn. Hình tượng các bà mẹ sống theo những
17
quy tắc bất di bất dịch của quan niệm phong kiến đã tạo ra sự đối sánh ngầm với
các nhân vật nữ chính - những người chịu ảnh hưởng rất lớn của phong trào Âu
hóa đương thời. Từ đó cho thấy sự trái ngược giữa quan niệm cũ và quan niệm
mới, giữa lớp người cũ và lớp người mới, nó góp phần làm nổi bật hình tượng
những người phụ nữ sống “nổi loạn”, sống trái ngược hẳn với những quan niệm
đương thời. Sự đối lập này cũng giúp ta giải thích nguyên nhân dẫn tới bi kịch
của lớp người phụ nữ mới, lớp người phụ nữ tân thời dám chống lại xã hội
phong kiến.
2.2.2. Kiểu nhân vật “nổi loạn”
Nhân vật nữ trong tiểu thuyết của Nhất Linh chỉ có một số ít là mẫu người
phụ nữ cam chịu, sống tuân theo mọi luật lệ của xã hội, còn phần lớn là những
người phụ nữ chịu ảnh hưởng của tư tưởng tiến bộ Tây Âu, họ mang trong mình
ý thức đấu tranh mạnh mẽ. Những tư tưởng tiến bộ trong tình yêu, trong hôn
nhân, gia đình, trong lối sống, quan niệm sống và ý thức đấu tranh để thực hiện
những tư tưởng ấy đã biến những người phụ nữ thành những người “nổi loạn”.
Nhân vật “nổi loạn” ở đây không giống như quan niệm của các nhà nghiên cứu
cho rằng nhân vật đi lệch với tư tưởng, ý định mà nhà văn vạch sẵn, ở đây “nổi
loạn” là nói đến cách sống không tuân theo bất cứ một khuân mẫu, một chuẩn
mực nào của xã hội, thậm chí là đi ngược lại với tất cả những quy tắc đạo đức đã
trở thành thâm căn cố đế trong đời sống xưa.
Sự “nổi loạn” đó thể hiện rõ nhất ở nhân vật Tuyết trong Đời mưa gió.
Tuyết sống buông thả, ăn chơi trác táng, sống với sở thích riêng, lí tưởng riêng
và không cần biết đến ngày mai. Đặc biệt quan niệm về tình yêu của Tuyết rất
phóng khoáng: tình yêu chỉ là nhục dục tầm thường và vì thế không nhất thiết
phải yêu một người mà có thể yêu nhiều người cùng một lúc.
Tuyết vẫn không thay đổi. Hành động của cô ở cuối tác phẩm đã thể hiện điều
này. Ngày cô trở về với Chương trong thân hình tiều tụy, những tưởng đây sẽ là
lần cô chọn bến đỗ cuối cùng để cô vĩnh biệt cuộc đời mưa gió, nhưng không,
lần này cũng chỉ là lần thức tỉnh tạm thời. Tuyết vẫn chọn sự ra đi như một sự
kết thúc cuối cùng của một cô gái giang hồ. Nhân vật này đã có sự dằn vặt bản
thân, nhưng mọi thứ không đủ mạnh để có thể thay đổi quan niệm sống đã ăn sâu
vào máu thịt của cô. Cuối cùng, Tuyết vẫn là một con chim tự do tung cánh giữa
19
cuộc đời, dù yên lặng hay sóng gió thì nó vẫn tìm kiếm lạc thú và say sưa trong
ái tình mộng mị.
Tuyết thực sự là sự “nổi loạn” trong quan niệm sống, quan niệm sống đó
đã đi ngược lại với những quan niệm hà khắc của xã hội phong kiến về tiết hạnh
và nhân phẩm của người phụ nữ.
Không chỉ ‘nổi loạn” trong quan niệm sống mà Tuyết còn “nổi loạn’ trong
cả lối sống. Lối sống chính là cách sống của mỗi người, thể hiện cách ứng sử,
giao tiếp của con người trong mọi hoạt động của cuộc sống hàng ngày. Lối sống
của mỗi người không giống nhau vì nó phụ thuộc vào quan niệm, suy nghĩ về
cuộc sống của mỗi cá nhân. Sẽ có một lối sống tốt nếu như người ta có những
quan niệm sống đúng đắn.
Ở Tuyết, sự “nổi loạn” trong quan niệm sống là tiền đề tất yếu dẫn đến sự
“nổi loạn” trong lối sống của con người này. Theo lễ giáo phong kiến về ứng xử
của người phụ nữ khi đi lấy chồng thì “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử
tòng tử”. Thế nhưng Tuyết lại đi ngược lại với những chuẩn mực đó. Khi phải
lấy một người chồng mà mình không yêu, Tuyết đã không “an phận thủ thường”
như đa số phụ nữ thời đó vẫn làm mà cô đã “nổi loạn” để thoát khỏi cuộc sống
đó. Tuyết đã bỏ gia đình và đứa con nhỏ để chạy theo nhân tình, sống một cuộc
sống buông thả từ đó. Lối sống mà Tuyết chọn cho mình là lối sống cực đoan,
Tuyết lại đắm mình trong những cuộc phiêu lưu tình ái, một thứ tình ái xác thịt.
Đó là niềm vui sống mà Tuyết tạo ra cho mình, cuộc sống sẽ chẳng có ý nghĩa gì
nếu cô không được bước đi trên con đường đầy gió bụi mà cô đã chọn. Tuyết
thấy việc cô bỏ Chương đi theo người khác cũng dễ dàng như cô bỏ người khác
đến với Chương, cô không hề cảm thấy áy náy hay ân hận gì. Lần cuối cùng
Tuyết trở về bên Chương là vào một ngày Tết với một thân hình tàn tạ, nhưng
rồi cô vẫn chọn cách giải thoát cho mình là sự ra đi, bởi “một cô gái giang hồ có
thể nào tránh được cái đời vô định”.
Tuyết tiêu biểu cho một quan niệm sống và một lối sống cực đoan. Đặt
trong hoàn cảnh xã hội đương thời, đây thực sự là một sự “nổi loạn” ghê gớm và
không thể chấp nhận được. Đã từng có ý kiến kết án Nhất Linh khi xây dựng
nhân vật Tuyết chính là việc “thi vị hóa nghề làm đĩ”, ý kiến này xét từ góc độ
nào đó cũng chính là xuất phát từ quan niệm và lối sống buông thả, dễ dãi của
21