Nhân vật nữ trong tiểu thuyết mẫu thượng ngàn của nguyễn xuân khánh - Pdf 32


LỜI CẢM ƠN

Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả các thầy, cô giáo
trong khoa Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã giúp đỡ và tạo
mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa luận.
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS. Phùng Gia Thế, người
trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình giúp tôi hoàn thành khóa luận này.
Khóa luận được hoàn thành song không tránh khỏi những hạn chế,
thiếu sót. Tôi rất mong nhận được những đóng góp ý kiến từ phía thầy cô và
các bạn để đề tài nghiên cứu của chúng tôi tiếp tục được hoàn thiện.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2013
Người thực hiện

Nguyễn Thị Phương Lan


LỜI CAM ĐOAN

Khóa luận được hoàn thành bằng sự cố gắng của bản thân dưới sự
hướng dẫn trực tiếp của TS. Phùng Gia Thế. Tôi xin cam đoan:
- Khóa luận này là kết quả nghiên cứu, tìm tòi của riêng tôi.
- Những tư liệu được trích dẫn trong khóa luận là trung thực.
- Kết quả nghiên cứu này không hề trùng khít với bất kì công trình
nghiên cứu nào từng được công bố.
Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.

Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2013
Người thực hiện

tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh ...............................................................16


2.2. Đặc điểm nhân vật nữ trong tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn của
Nguyễn Xuân Khánh .......................................................................................22
2.2.1. Những người phụ nữ xinh đẹp, đầy sức sống ........................................22
2.2.2. Những người phụ nữ tái sinh sự sống, tâm hồn bằng tính thiện
và tình thương yêu ...........................................................................................33
2.2.3. Những người phụ nữ có số phận bất hạnh .............................................38
2.2.4. Những người phụ nữ gìn giữ văn hóa ....................................................41
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ THỦ PHÁP NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG
NHÂN VẬT NỮ TRONG TIỂU THUYẾT MẪU THƯỢNG NGÀN
CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH ...................................................................47
3.1. Độc thoại nội tâm ......................................................................................47
3.2. Sử dụng yếu tố huyền ảo...........................................................................52
3.3. Sử dụng ngôn ngữ thân thể .......................................................................54
KẾT LUẬN .....................................................................................................59
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................62

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài


1.1. “Tất cả mọi sự bí ẩn của thế giới này đều không thể sánh nổi với sự
bí ẩn của người phụ nữ” (Vladimir Lobanok). Người phụ nữ - một nửa của
nhân loại, là biểu tượng cho đạo đức và vẻ đẹp bền vững của nghệ thuật và
cuộc sống. Tìm hiểu về người phụ nữ chính là khám phá vẻ đẹp của nghệ thuật
và sự sống của nhân loại. Từ xưa đến nay, nhiều nhà thơ, nhà văn đã viết về
người phụ nữ với tất cả tấm lòng yêu thương rộng mở và người phụ nữ được
xem như là thước đo của những giá trị mĩ học nhân văn. Họ đi từ cuộc sống



Ngàn của Nguyễn Xuân Khánh. Từ đó thấy được phong cách sáng tác của nhà
văn.
1.3. Bên cạnh đó, việc lựa chọn đề tài này còn xuất phát từ niềm yêu
thích riêng của tác giả đối với việc tìm hiểu nền văn hóa và người phụ nữ
Việt Nam với những nét đẹp riêng được thể hiện trong văn học. Theo chúng
tôi, việc tiếp cận từ góc độ văn hóa, lịch sử chính là một con đường khá mới
mẻ nhưng độc đáo và hấp dẫn để tìm hiểu về hình tượng nhân vật này. Bởi
lẽ, nếu đi theo hướng này thì người đọc các thế hệ sau có thể tiếp nhận nền
văn hóa Việt và cảm nhận nó từ chính số phận con người, từ những câu
chuyện trong đời sống thường ngày của người dân đã được chắt lọc, chọn
lựa trong thể loại tiểu thuyết. Từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài
“Nhân vật nữ trong tiểu thuyết Mẫu Thương Ngàn của Nguyễn Xuân
Khánh” để nghiên cứu.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ngay sau khi xuất hiện, Mẫu Thượng Ngàn của Nguyễn Xuân Khánh
đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, phân tích, đánh giá. Trên nhiều tờ
báo đã xuất hiện những nhận xét về việc nhà văn thể hiện vẻ đẹp của nền
văn hóa Việt, và về đặc điểm nhân vật nữ và nghệ thuật xây dựng nhân vật
nữ trong tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn.
Nhà văn Châu Diên trong bài “Nguyễn Xuân Khánh và cuộc giành lại
bản sắc” trên báo Tuổi trẻ online ra ngày 16/7/2006 cho rằng đây là cuốn tiểu
tuyết mang tầm khái quát văn hóa, nhân vật không còn là những nhận vật riêng
lẻ mà là cả một cộng đồng. Cuốn tiểu thuyết này đông đúc nhất đẹp nhất, hay
nhất, đậm nhất, mê nhất là những nhân vật nữ từ bà Tổ Cô bí ẩn, bà Ba Váy
đa tình... cho đến cô đồng Mùi, cô mõ Hoa khốn khổ, cô trinh nữ Nhụ tinh
khiết. Hàng chục nhân vật nữ hết sức gần gũi, hiện thực, mơn mởn, sần sùi,
dào dạt, trữ tình, thừa mứa, khát khao cho và nhận, nhận và cho đến cả bà
Đà của ông Đùng huyền thoại... tất cả tràn trề sinh lực, đầm đìa phồn thực.

thầm có lẽ từ thuở mới hình thành của dân tộc, đạo Mẫu rất Việt, rất phương
Nam, rất dồi dào, bất tận, bất tử như Đất, như Mẹ, như người Đàn bà.
Bài viết có nhan đề “Nguyên lý tính Mẫu trong truyền thống văn học
Việt Nam” của Dương Thị Huyền được đăng tải trên trang web
http://www.vanhoahoc.vn ngày 12/7/2006 có nhận xét về nhân vật nữ trong
Mẫu Thượng Ngàn của Nguyễn Xuân Khánh: Từ việc thể hiện bản năng
mạnh mẽ của người phụ nữ, nhà văn lại một lần nữa phát triển thêm cho
hình tượng người phụ nữ trong văn học Việt Nam. Trong tác phẩm này,
người phụ nữ được “tôn giáo hóa” (nhìn nhận người phụ nữ dưới góc độ văn
hóa tâm linh mà cụ thể là dưới ánh sáng của tín ngưỡng thờ Mẫu - một tín
ngưỡng bản địa của người Việt Nam). Có thể nói, đây không chỉ là sự sáng
tạo độc đáo của nhà văn mà hơn thế nhà văn còn thể hiện một hướng đi mới
cho tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. Người phụ nữ trong Mẫu Thượng Ngàn
được nhìn từ góc độ tâm linh. Họ vừa mạnh mẽ, vừa dịu dàng, có thể chiến
thắng tất cả nhưng lại vẫn cần sự chở che nâng đỡ từ những người đàn ông,
từ sức mạnh vô hình nhưng đầy uy lực của Cổ Mẫu.
Ngày 15/10/2012, Viện Văn học tổ chức cuộc hội thảo Lịch sử và văn
hóa qua tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh, với sự tham gia của


nhiều nhà văn, nhà phê bình, nghiên cứu văn học như Lại Nguyên Ân,
Nguyễn Đăng Điệp, Phạm Toàn, Hoàng Quốc Hải, Bùi Việt Thắng, Phạm
Xuân Nguyên... Theo nhà phê bình Nguyễn Đăng Điệp: “Ai đọc tiểu thuyết
của Nguyễn Xuân Khánh cũng nhận thấy trong diễn ngôn nghệ thuật của
ông những suy tư bất tận về lịch sử và văn hóa, những chiêm nghiệm sâu sắc
về lẽ hưng phế của các triều đại, những biến động của cuộc đời làm xô lệch
biết bao số phận cùng cảm thức hướng thiện đã lay thức ở người đọc những
đồng cảm sâu sắc”. Tại hội thảo, 25 bản tham luận đã góp phần luận giải,
phân tích sự thành công trong tư duy nghệ thuật, cấu trúc tư tưởng và diễn
ngôn lịch sử trong tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh.

của Nguyễn Xuân Khánh do Nxb. Phụ nữ ấn hành năm 2006.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, tác giả khóa luận sử dụng chủ yếu những
phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích đối tượng theo quan điểm hệ thống.
- Phương pháp phân tích tác phẩm và phân tích nhân vật.
- Phương pháp thống kê, so sánh.
6. Đóng góp của khóa luận
Từ lí thuyết về nhân vật, vận dụng để tìm hiểu đặc điểm thế giới nhân
vật nữ trong tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn của Nguyễn Xuân Khánh. Từ đó
góp phần hoàn thiện hơn bức tranh người phụ nữ Việt Nam trong văn học.
7. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần Nội
dung của khóa luận được triển khai thành ba chương. Cụ thể bao gồm:
Chương 1: Khái quát về nhân vật nữ và một số đặc điểm của nhân vật
nữ trong văn xuôi Việt Nam đương đại.
Chương 2: Đặc điểm nhân vật nữ trong tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn
của Nguyễn Xuân Khánh.
Chương 3: Một số thủ pháp nghệ thuật xây dựng nhân vật nữ trong
tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn của Nguyễn Xuân Khánh.

NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ NHÂN VẬT NỮ VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM
CỦA NHÂN VẬT NỮ TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI
1.1. Khái quát về nhân vật nữ và đặc điểm của nhân vật nữ trong văn
học Việt Nam truyền thống và hiện đại
1.1.1. Khái niệm về nhân vật nữ



thẩm mĩ của nhân dân hiện lên trong các câu chuyện cổ tích thường có số
phận bi thảm nhưng luôn tỏa sáng những nét đẹp: hiền lành, chăm chỉ, giàu
đức hi sinh, giàu lòng nhân ái và cuối cùng chắc chắn sẽ được hưởng hạnh
phúc. Người phụ nữ trong ca dao lại mang vẻ đẹp đằm thắm ý nhị, dịu dàng
và kín đáo nhưng đồng thời cũng là hiện thân cho những bi kịch, phải gánh
chịu số phận bất hạnh, không có quyền tự quyết định cho cuộc đời mình.
Đến văn học trung đại đã có biết bao tiếng nói xót xa, thương cảm cho
thân phận người phụ nữ bị chà đạp, vùi dập trong xã hội phong kiến. Trong
Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ là hình ảnh những người phụ nữ đức
hạnh, đẹp người, tốt nết luôn khát khao một cuộc sống bình yên, hạnh phúc
nhưng bị những thế lực cường quyền và cả thế lực phong kiến khắc nghiệt
xô đẩy đến những cảnh ngộ éo le, ngang trái bất hạnh. Cung oán ngâm của
Nguyễn Gia Thiều là tiếng than dài, là sự đau đớn tấm tức và tâm trạng bế
tắc của nàng cung nữ. Còn Truyện Kiều của Nguyễn Du lại là tiếng kêu
thương đến đứt ruột, tiếng kêu xé lòng cho thân phận chìm nổi lênh đênh
trong kiếp đoạn trường của nàng Kiều và cho “phận đàn bà” nói chung.
Tiếng nói mạnh bạo, dám bày tỏ khát khao được yêu và sống hạnh phúc còn
vang lên đầy mạnh mẽ và đó còn là sự kịch liệt phản đối chế độ năm thê bảy
thiếp trong xã hội phong kiến “chém cha cái kiếp lấy chồng chung” của Bà
Chúa Thơ Nôm Hồ Xuân Hương. Giai đoạn văn học thế kỉ XVIII đầu thế kỉ
XIX là thời kì rất đặc biệt bởi sự xuất hiện của các nữ sĩ như: Hồ Xuân
Hương, Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện Thanh Quan, Ngọc Hân Công Chúa…
trong sáng tác văn chương, nhân vật nữ là trung tâm, là nơi gửi gắm bày tỏ
những tư tưởng thẩm mĩ của nhà văn. Không có thời kì nào trong lịch sử văn


học Việt Nam lại rực rỡ như thời kì này với sự biểu hiện nghệ thuật trong sự
khám phá đời sống nội tâm nhiều cung bậc của người phụ nữ.
Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 tiếp tục khai thác đề tài về
người phụ nữ. Sáng tác của Tự Lực Văn Đoàn, đặc biệt là của Nhất Linh đã

tục khai thác vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ nhưng chú ý nhiều hơn đến
đời sống nội tâm của họ như Quỳnh trong Người đàn bà trên chuyến tàu tốc
hành, Thai trong Cỏ lau; Nguyễn Huy Thiệp khai thác về thiên tính nữ qua một
loạt những truyện ngắn: Chảy đi sông ơi, Con gái thủy thần,…
Khi đất nước bước vào thời kì đổi mới, đời sống kinh tế - xã hội và tư
tưởng của con người cũng thay đổi tận gốc rễ. Bởi vậy, trong cách nhìn về
cuộc sống, con người và quan niệm nghệ thuật của các nhà văn cũng tất yếu
biến đổi. Trong bối cảnh xã hội mới, vai trò, vị trí của người phụ nữ ngày
càng được đề cao và khẳng định. Họ tham gia ngày một đông đảo vào tất cả
các lĩnh vực như kinh tế, chính trị, y tế, thương mại… trong đó có sáng tác
văn chương. Trên diễn đàn văn học, sự xuất hiện đầy ấn tượng của các cây
bút nữ với những tập thơ, truyện ngắn hay tiểu thuyết của họ đã thổi một
“luồng gió mới” và góp phần tô điểm cho diện mạo nền văn học đương đại,
lấy lại thế cân bằng trong sáng tác giữa nam và nữ.
Nếu như ở các giai đoạn trước 1930 - 1945 hay 1945 - 1975 ưu thế
thuộc về các nhà văn nam như Nam Cao, Thạch Lam, Nguyên Hồng,
Nguyễn Khải, Nguyễn Thi, Nguyễn Minh Châu… thì văn học đương đại
phần đông gắn với tên tuổi các nhà văn nữ như: Phạm Thị Hoài, Phan Thị
Vàng Anh, Võ Thị Hảo, Dạ Ngân, Lê Minh Khuê, Y Ban, Võ Thị Xuân Hà,
Đoàn Lê, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Hoàng Diệu… Những trang viết của họ thể
hiện sự quan tâm đến số phận, hạnh phúc và quyền sống của giới mình. Và


có lẽ theo quy luật đồng thanh tương ứng, lúc đầu là một vài cây bút nữ viết
rồi những cây bút khác qua tác phẩm của những người đi trước tìm thấy ở đó
một sự đồng cảm và họ cũng viết để giãi bày làm thành cả một dòng chảy. Ở
dòng chảy đó, họ như được tự do phơi mở “cái tôi” của chính mình với một
giọng điệu riêng, một cách thức riêng. Họ thẳng thắn đối thoại với những
quan niệm cũ về những mẫu hình nữ giới trước đây luôn bị đóng khung
trong những đặc điểm dịu dàng, thùy mị, chỉ viết về những chuyện nhỏ nhặt,

tình cảm thương yêu trân trọng: nhẫn nại, đa cảm, thua thiệt và chủ động, đó
dường như là nét tiêu biểu của nhân vật nữ trong văn học Việt Nam ở mọi
thời. Với tư cách là một nhà văn hóa, Nguyễn Xuân Khánh đã khám phá vẻ
đẹp của người phụ nữ trên những phương diện lịch sử, văn hóa, văn học.
Trở lên là những giới thuyết vắn tắt về nhân vật và nhân vật nữ trong
văn xuôi Việt Nam đương đại. Đây sẽ là những tiền đề - lí luận - lịch sử để
chúng tôi tìm hiểu đặc điểm nhân vật nữ trong tiểu thuyết Mẫu Thượng
Ngàn của Nguyễn Xuân Khánh.

CHƯƠNG 2
ĐẶC ĐIỂM NHÂN VẬT NỮ TRONG TIỂU THUYẾT


MẪU THƯỢNG NGÀN CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH
2.1. Quan niệm nghệ thuật về con người và về người phụ nữ trong tiểu
thuyết của Nguyễn Xuân Khánh
2.1.1. Quan niệm nghệ thuật mới về con người trong tiểu thuyết Việt
Nam sau năm 1975
Trong văn chương, con người là đối tượng nhận thức trung tâm, là thước đo
cho sự tiến bộ nghệ thuật từ xưa đến nay, là cái đích để văn học hướng tới. Khi
đánh giá thành tựu của một nền văn học hay một xu hướng, một tác giả, một
giai đoạn văn học chúng ta không thể không quan tâm đến quan niệm nghệ
thuật về con người của nền văn học ấy. “Quan niệm nghệ thuật về con người là
sự lý giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy con người đã được hóa thân thành các nguyên
tắc, phương tiện, biện pháp hình thức thể hiện con người trong văn học, tạo nên
giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ cho các hình tượng nhân vật đó” [32, tr.55]. Quan
niệm nghệ thuật về con người tất nhiên cũng mang dấu ấn sáng tạo của cá tính
nghệ sĩ, gắn liền với cái nhìn độc đáo đầy tính phát hiện của nghệ sĩ.
Trong văn học Việt Nam, Nguyễn Du được đánh giá cao, trước hết là
sự ghi nhận chủ nghĩa nhân đạo trong quan niệm nghệ thuật về con người của

hướng lãng mạn đã tạo nên những con người đẹp đẽ và hoàn hảo. Trên thực
tế, chúng ta không thể phủ nhận sự trưởng thành của văn học từ chống Pháp
đến chống Mĩ. Đó là sự thể hiện con người ngày càng trưởng thành, sâu sắc
và đầy đặn hơn. Nhưng do chiến tranh kéo dài, nhiều nguyên tắc nhất thời
trở thành quy phạm, hạn chế không nhỏ khả năng sáng tạo của văn học,
trong đó có quan niệm nghệ thuật về con người.
Chiến thắng 30 – 4 – 1975 đánh dấu một bước ngoặt lớn trong lịch sử
dân tộc Việt Nam. Bước qua cuộc chiến tranh, dân tộc ta phải đối mặt với biết
bao khó khăn của cuộc sống thời hậu chiến. Thực tế ấy đã làm thay đổi nếp


nghĩ và những quan niệm trước kia được coi là chuẩn mực, những vấn đề mà
người ta có thể gạt ra phía sau để ưu tiên cho cái lớn lao, cao cả của dân tộc
thì giờ đây nó thúc ép, đe dọa con người buộc mỗi người phải lưu tâm giải
quyết. Những chuẩn mực và quan niệm về giá trị con người cũng được nhìn
nhận và đánh giá lại trong bối cảnh cuộc sống đời thường. Nhà văn không thể
nhìn nhận con người bằng cảm hứng lãng mạn cách mạng và cảm hứng anh
hùng ca như thời kì chiến tranh. Lúc này trong văn chương không thể nhìn
nhận con người như “thần thánh nói chuyện với nhau” mà nhà văn phải có
quan niệm đầy đủ hơn về hiện thực và con người. Con người được khám phá
như một cá thể phức tạp, có số phận riêng, với cả thế giới tinh thần phong
phú, đặt trong quan hệ con người với con người, con người với tự nhiên, con
người với xã hội.
Theo thời gian, hình ảnh con người công dân, con người cộng đồng
trong văn học kháng chiến dần nhường chỗ cho những con người bình
thường trong cuộc sống. Đây đồng thời cũng là thời kì đột phá của văn xuôi,
trong đó tiểu thuyết là một thể loại nghệ thuật giữ vai trò quan trọng trong
nền văn học bởi sức mạnh nghệ thuật và tầm bao quát về bề rộng cũng như
chiều sâu trong phản ánh hiện thực của nó. Do vậy, trước yêu cầu đổi mới
văn học, nhiều cuốn tiểu thuyết ra đời. Những cây bút tiêu biểu cho văn học

ông.
Tiểu thuyết viết về đề tài lịch sử vấp phải vấn đề muôn thuở, đó là cần
phải giải quyết mâu thuẫn giữa sự thực và hư cấu, lịch sử yêu cầu tính chân
thực trong khi văn học cho phép hư cấu. Giải pháp tốt nhất có thể thực hiện
để nhà văn giải quyết mối mâu thuẫn giữa sự thật và hư cấu là sự thật của
con người, độc giả có quyền không tin nhà văn nhưng sự thật về con người
theo logic khách quan thì không thể phủ nhận. Khám phá con người trong


lịch sử vốn không phải là chuyện mới, bởi “văn học là nhân học”, tuy nhiên,
khi nhà văn tiếp cận lịch sử có thể bị hút vào các sự kiện biến cố mà làm mờ
nhạt đi khả năng khám phá con người. Tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh lấy
con người làm tâm điểm chứ không lấy việc tái hiện lịch sử hoặc minh họa
lịch sử làm mục đích phản ánh. Nhà văn muốn khám phá sự phản chiếu của
thời đại lịch sử vào tâm lí, tình cảm, số phận cụ thể của con người, đồng thời
qua đó ông đặt lại một số vấn đề cần nhận thức với tinh thần hoài nghi cái
lịch sử “tại ngoại” mà số đông chúng ta vẫn coi là tất yếu.
Mối quan hệ giữa cá nhân và lịch sử chính là một phương diện giúp
chúng ta tìm ra dấu ấn lịch sử trong con người. Con người làm ra lịch sử
nhưng cũng là nạn nhân của lịch sử. Bằng những hành động của mình, con
người tạo ra biến cố nhưng trong guồng quay của bánh xe lịch sử nó cũng bị
lịch sử quy định. Tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh bao gồm một hệ thống
nhân vật đông đảo từ những nhân vật có thật trong lịch sử tới những nhân
vật hư cấu, từ tầng lớp dân thường vô danh tới nhân vật can dự trực tiếp vào
lịch sử, họ đều bị mắc kẹt trong lịch sử và thực sự mang trên mình những ý
nghĩa lịch sử. Nhân vật Hồ Quý Ly là kiểu cá nhân “bị” lịch sử chọn. Trong
Hồ Quý Ly hội tụ đầy đủ phẩm chất của người có thể thực hiện nhiệm vụ
lịch sử, là người tạo ra lịch sử với cá tính mạnh mẽ, quyết liệt, khả năng nắm
bắt tình thế, biết nhìn người, dùng người tài năng, sắp đặt điều khiển mưu đồ
chính trị… Là người đương đầu với giông bão của thời cuộc, ban đầu Hồ

già Lê Hiển Tông với những dùng dằng của lịch sử: đổi mới để tiến bộ và
chấp nhận rủi ro hay thủ cựu với lề lối của tổ tông dù tình trạng đất nước đã
trở nên mục ruỗng. Hay như trong Mẫu Thượng Ngàn, quá trình xâm lược
và công cuộc khai hóa thuộc địa của thực dân Pháp có thể được hình dung
qua chuyện đời, chuyện tình của anh em nhà Messmer. Những thăng trầm


trong quá trình làm giàu ở thuộc địa, các cấp độ của sự chiếm đoạt tình yêu,
và kết thúc nhiều nghiệt ngã (cái chết của Philippe, chứng hoang tưởng của
Julien, đứa bé ra đời từ đêm hội) cho thấy tương lai phá sản của chủ nghĩa
thực dân ở Việt Nam.
Từ tư duy lịch sử trên, ta có thể thấy quan niệm nghệ thuật về con
người của Nguyễn Xuân Khánh. Con người trong tiểu thuyết của ông không
chỉ khoác bộ áo chính trị mà còn là con người của cuộc đời thực, con người
của cuộc sống đời thường. Nguyễn Xuân Khánh quan niệm con người là
sinh thể phức tạp, đa diện. Từ việc chọn thời điểm lịch sử không phải là quá
khứ hào hùng hay thái bình thịnh trị mà là một giai đoạn rất phức tạp dẫn
đến hệ quả là các nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh hầu như
đều ở thế lưỡng cực, đa trị. Với vai trò của nhà thực dân, Philippe là kẻ đi
chinh phục chỉ tin vào sức mạnh nhưng không hoàn toàn như vậy, cuộc hôn
nhân với người đàn bà bản xứ chứng tỏ anh ta nhận ra giới hạn của sức
mạnh, những lúc đắm say với “đóa hồng phương Đông” biến anh ta trở
thành con người hòa ái. Trần Khát Chân không chỉ là vị tướng tài ba, mưu
lược, có tâm hồn nghệ sĩ và tấm lòng nhân hậu và nhân vật này cũng có thể
tàn bạo và thủ đoạn, không ngần ngại đề nghị Sử Văn Hoa viết sách bôi nhọ
Hồ Quý Ly với nguyên tắc “để tiêu diệt kẻ thù thì ta có quyền làm tất cả,
ngay cả dựng nên sự việc”. Với Nguyễn Xuân Khánh, con người luôn tự
nhận thức về chính mình cũng như về thế giới xung quanh. Nhà văn đặt con
người vào những biến động lịch sử và bắt nó phải gánh trên vai gánh nặng tư
tưởng. Ở Hồ Nguyên Trừng có nỗi khắc khoải khôn nguôi của con người

ma mị dù cho họ sống trong nghèo khổ, rách rưới có khi là kẻ ăn mày. Theo
Nguyễn Xuân Khánh, những người đàn bà Việt Nam vốn đã đẹp sẵn rồi, đẹp
từ trong gian khổ, đói nghèo. Tất nhiên, cảm nhận này xuất phát từ thực tế


cuộc sống của nhà văn. Từ nhỏ, ông sống chủ yếu bên cạnh những người
đàn bà, họ là mẹ, là bác, là dì, là chị em họ của ông. Những con người cần
cù, nhẫn nhịn, chịu thương chịu khó, những con người có cuộc sống không
mấy suôn sẻ đã cho ông có cái nhìn sinh động, đầy đủ và rõ nét về tính nữ,
chất âm tính mà ông miêu tả trong các tiểu thuyết của mình. Vì thế, trong tác
phẩm, ông luôn dành cho những người đàn bà, các cô gái cái nhìn đầy thiện
cảm. Những người phụ nữ ấy luôn toát lên vẻ đẹp mộc mạc, tròn đầy và tinh
khiết. Họ hôm nay có thể đói lả, bị chồng bỏ, không nhà cửa nhưng hôm sau
đã có thể là người đàn bà đầy nhục cảm, với thân thể ấm nóng và ánh nhìn ướt
át, bàn tay mềm ấm (Khoai trong tiểu thuyết Đội gạo lên chùa). Họ hôm nay
có thể là đứa con gái đang trong cơn hoảng loạn vì cha mẹ bị giặc giết, nhưng
hôm sau là nàng thiếu nữ xinh đẹp, nết na, dịu dàng, cổ trắng như ngó cần ai
thấy cũng muốn đặt một nụ hôn lên đấy, mái tóc đen dài mượt; mà để che mắt
thiên hạ trong thời loạn lạc bằng cách ăn mặc rách rưới, áo bạc thếch, mặt mũi
phải bôi cho thành nhọ nhem (Nguyệt trong Đội gạo lên chùa). Rêu trong Đội
gạo chùa mang một vẻ đẹp tinh khôi. Đó là một đứa con gái gầy gò, bé nhỏ
nhưng da trắng, môi hồng, tóc đen như mun, mắt đen láy long lanh ấm áp, đôi
mắt ấy nhìn vào ai, dù đang lúc tức giận, cũng bỗng nhiên như được xoa dịu.
Mẹ Rêu, bà Thêu cũng là một người đàn bà rất đẹp: tóc đen nhánh, da trắng,
mắt bồ câu long lanh, người cân đối thon thả, bà mặc áo cánh nâu vừa khít.
Hay như Mùi (Mẫu Thượng Ngàn), người đàn bà có tới ba đời chồng cũng là
người đàn bà khiến cho đàn ông khó có thể cầm lòng bởi đôi vú nở nang, eo
thon nhỏ, đôi mông nẩy đều chắc nịch, gương mặt tròn vạnh, mày ngài đen
nhánh như mực nho, đôi mắt đen trắng phân minh nhưng chính thế trở nên bất
hạnh khi mới 18 tuổi xuân sắc và người chồng đầu tiên chết bởi “chân khí suy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status