Nhân vật và người kể chuyện trong tiểu thuyết Lê Lựu ( Luận văn ThS. Văn học ) - Pdf 28


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VŨ XUÂN THOẢ

NHÂN VẬT VÀ NGƢỜI KỂ CHUYỆN
TRONG TIỂU THUYẾT LÊ LỰU
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành : Lý luận Văn học HÀ NỘI 2014

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN VŨ XUÂN THOẢ NHÂN VẬT VÀ NGƢỜI KỂ CHUYỆN
TRONG TIỂU THUYẾT LÊ LỰU

Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2014
Tác giả luận văn
Vũ Xuân Thỏa
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài……………………………………………………….
2. Lịch sử vấn đề………………………………………………………….
3. Mục đích, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu…………………………
4. Phƣơng pháp nghiên cứu ………………………………………
5. Cấu trúc luận văn……………………………………………………
NỘI DUNG
Chƣơng 1: TIỂU THUYẾT LÊ LỰU TRONG DÒNG CHẢY TIỂU
THUYẾT ĐƢƠNG ĐẠI
1.1. Bức tranh chung của văn học Việt Nam thời kỳ Đổi mới
1.1.1. Cơ sở của công cuộc đổi mới văn học …………………………….
1.1.2. Tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ Đổi mới …………………………….
1.2. Quá trình sáng tác và vị trí của tiểu thuyết Lê Lựu trong văn học
Việt Nam thời kỳ Đổi mới.
1.2.1. Quan điểm nghệ thuật……………………………………………
1.2.2. Sự nghiệp sáng tác của Lê Lựu……………………………………
1.2.3. Vị trí của tiểu thuyết Lê Lựu trong văn học Việt Nam thời kỳ

26
28

29
34
43
50 2.2.5. Nhân vật với bi kịch của lối sống thực dụng, ích kỷ, biến chất
2.3. Nghệ thuật xây dựng nhân vật ………………………………
2.3.1. Nghệ thuật tạo tình huống…………………………………………
2.3.2. Nghệ thuật biểu hiện nội tâm……………………………………….
2.3.3. Nghệ thuật tổ chức xung đột…………………………………………
Chƣơng 3: NGƢỜI KỂ CHUYỆN TRONG TIỂU THUYẾT LÊ LỰU
3.1. Khái lƣợc về ngƣời kể chuyện trong loại hình tự sự
3.1.1. Khái niệm người kể chuyện…………………………………………
3.1.2. Các hình thức xuất hiện của chủ thể kể chuyện…………………
3.2. Ngôi kể và điểm nhìn
3.2.1. Ngôi kể…………………………………………………………………
3.2.2. Điểm nhìn …………………………………………………………….
3.3. Phƣơng thức kể chuyện
3.3.1. Trần thuật khách quan hóa trong tiểu thuyết Lê Lựu……………
3.3.1.1. Trần thuật hòa mình với nhân vật…………………………………
3.3.1.2. Trần thuật “ủy thác” cho nhân vật………………………………
3.3.1.3. Người trần thuật có giọng nói riêng……………………………….
3.3.2. Trần thuật theo hướng chủ quan hóa trong tiểu thuyết Lê Lựu…
3.4.Giọng điệu trần thuật trong tiểu thuyết Lê Lựu
3.4.1. Giọng điệu trần thuật………………………………………………
3.4.2. Giọng điệu trần thuật trong tiểu thuyết Lê Lựu

145
149
156

1

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đã mở ra một kỉ nguyên
mới cho dân tộc ta - kỉ nguyên của độc lập, tự do. Sự kiện đó được coi là
“cuộc tái sinh màu nhiệm” của dân tộc Việt Nam, thì mốc lịch sử sau ngày
30/04/1975 có thể được coi là sự đổi thay kì diệu của hiện thực đời sống
chính trị, xã hội và văn hóa. Đất nước ta khép lại trang sử chiến tranh, bước
sang một trang mới: xây dựng và tái thiết đất nước trong bối cảnh hòa bình.
Cuộc sống trở lại với quy luật bình thường, con người trở về đối diện với
muôn mặt phức tạp, xô bồ của cuộc sống. Văn học cũng có sự thay đổi, các
nhà văn có sự mẫn cảm với cuộc sống đã nhìn thẳng vào hiện thực cuộc sống
và họ đã phát hiện ra nhiều vấn đề có ý nghĩa. Từ thể tài lịch sử dân tộc vốn
được coi là thể tài chủ đạo, văn học đã chuyển sự quan tâm chủ yếu sang thể
tài thế sự. Nhiều tác phẩm văn học ngày càng đi tới một quan niệm toàn vẹn,
sâu sắc về con người mà hạt nhân cơ bản là tư tưởng nhân văn, nhân bản. Con
người trong văn học hôm nay được nhìn ở nhiều vị thế, trong tính đa chiều
của các mối quan hệ: con người xã hội, con người với cuộc sống, con người
trong các mối quan hệ với gia đình, dòng họ, với phong tục tập quán và với
chính mình. Con người cũng được văn học khám phá ở nhiều tầng bậc: ý thức
và vô thức, tư tưởng, tình cảm và đời sống tự nhiên, con người với bản năng,
khát vọng cao cả và dục vọng tầm thường, con người cụ thể, cá biệt và con
người trong tính nhân loại, phổ quát. Đây là những vấn đề cần được nghiên
cứu một cách sâu sắc và toàn diện.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đã “cởi trói” những quan niệm

Dòng chảy của tiểu thuyết thời kì Đổi mới có những chuyển biến phong
phú, đa dạng, làm nóng lại không khí có phần lặng lẽ của tiểu thuyết giai đoạn
trước. Đọc tiểu thuyết hôm nay, độc giả dễ có cảm giác nó đã áp sát đời sống,

3

xông thẳng vào các “mắt bão” của cuộc đời và nói được nhiều vấn đề bức
thiết của cuộc sống thông qua những số phận có tính bi kịch. Con đường đổi
mới này dẫu còn nhiều thử thách, dẫu chưa thật hoàn thiện nhưng chúng ta
thấy cũng đã phần nào định hình. Trên con đường ấy, có thể nói, Lê Lựu là
một trong những tác giả đặt những bước chân đầu tiên để lại dấu ấn sâu đậm
trong lòng người đọc, nhiều tác phẩm của ông đã tập trung phản ánh số phận,
bi kịch của con người trước thực tại. Độc giả đã biết đến Lê Lựu với những
truyện ngắn làm rung động lòng người như: Trong làng nhỏ, Người cầm
súng, Chuyện kể từ đêm trước, Người về đồng cói, Quê hương người
lính…Nhưng phải đến Thời xa vắng thì Lê Lựu mới thật sự trở thành một
hiện tượng, tác phẩm đã gây được tiếng vang, thu hút sự chú ý của nhiều nhà
nghiên cứu văn học về việc đổi mới tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết.
Người ta thấy khắp nơi diễn đàn về Thời xa vắng. Anh chàng nhà quê Giang
Minh Sài của nhà văn đi vào tận các ngõ ngách của cuộc sống, hắn vượt cả
biên giới, ra khỏi địa phận nước Việt. Có thể nói Lê Lựu đã thành công vang
dội. Sau thành công ấy, ông vẫn miệt mài lao động và những đứa con tinh
thần của ông lại lần lượt ra đời như: Đại tá không biết đùa (1989), Chuyện
làng Cuội (1991), Sóng ở đáy sông (1995), Hai nhà (2000) Trong từng tác
phẩm, ông đã thể hiện sự đổi mới của mình ở nhiều góc độ trên con đường
tìm tòi, sáng tạo hướng đi mới cho tiểu thuyết. Chính sự đổi mới ấy đã góp
phần đem đến cho văn học những hình tượng mới lạ về người lính trong chiến
tranh, người lính trong đời thường và những hiện tượng nóng bỏng đang được
quan tâm trong xã hội. Thành quả của quá trình lao động không mệt mỏi đã
được đền đáp xứng đáng, Lê Lựu đã khẳng định mình ở nhiều thể loại như:

trong quá trình đổi mới tiểu thuyết từ góc độ thi pháp đồng thời góp phần
khảng định vị trí của nhà văn trong văn học Việt Nam đương đại.
2. Lịch sử vấn đề

5

Theo tìm hiểu của chúng tôi, đã có một số công trình nghiên cứu liên
quan đến Lê Lựu và sự nghiệp sáng tác của ông. Qua những tác phẩm của Lê
Lựu, độc giả không chỉ hình dung được bộ mặt xã hội Việt Nam lúc bấy giờ
mà còn cảm nhận một cách sâu sắc những biến chuyển tinh tế nhất của đời
sống tư tưởng con người thời đại. Vì vậy, tác phẩm của nhà văn không rơi vào
khoảng không im lặng mà có thể nhận thấy, cùng với các cây bút văn xuôi lúc
bấy giờ như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh Lê Lựu đã
làm cho đời sống văn học nước ta thêm phần sôi động.
Lịch sử văn học cho thấy, những nhà văn nào được giới nghiên cứu, phê
bình quan tâm thì càng được bạn đọc chú ý. Và dù khen hay chê cũng đều
khiến tác phẩm thêm nổi tiếng, người đọc tìm đến nó nhiều hơn. Lê Lựu là
một trường hợp như vậy. Nhà phê bình Ngô Thảo trong một bài viết Về
truyện ngắn Lê Lựu đã nhận định: “Lê Lựu là một người đang tìm tòi. Truyện
nào của anh cũng tìm được những nét tính cách mới, những hướng khai thác
vấn đề mới”. Bàn về truyện ngắn Người cầm súng, nhà nghiên cứu Bích Thu
đã khẳng định: “Có thể nói Người cầm súng như là cái mốc đánh dấu một
chặng đi mới của Lê Lựu trên con đường vào nghề, nó đã khơi mở được
nguồn mạch sáng tác của anh”. Mãi đến 1986, cuốn tiểu thuyết Thời xa vắng
“trình làng” mới thực sự gây xôn xao trong dư luận và được đánh giá là “một
cọc tiêu tiền trạm” của công cuộc đổi mới văn học. Tác phẩm này nhanh
chóng thu hút được sự chú ý của nhiều cây bút phê bình như Nguyễn Văn
Lưu, Nguyễn Hòa, Phong Lê, Vương Trí Nhàn, Bích Thu… Có thể nói rằng
Lê Lựu đã dám nhìn thẳng vào sự thật khắc nghiệt, những góc khuất của hiện
thực cuộc sống để “nhận thức lại thực tại”.

văn xuôi Việt Nam”.
Nhà thơ Trần Đăng Khoa - người đồng hương và cũng là người vô cùng
quý mến Lê Lựu đã có những nhận xét xác đáng về cuốn tiểu thuyết này: “Lê

7

Lựu đã dựng lên một loạt bức tranh nông thôn đặc sắc. Có nhiều trang đạt
chuẩn Nam Cao. Có thể nói tắt từ Nam Cao qua một chút Kim Lân đến
Nguyễn Khắc Trường và Lê Lựu, chúng ta mới lại có nhà văn nông thôn thứ
thiệt”. Nhắc đến Lê Lựu, người ta hay nói đến Thời xa vắng, tác phẩm đưa
ông trở thành “sỹ quan” trong làng văn. Không phải đơn giản cuốn tiểu thuyết
này lại nhận được nhiều lời khen chê, bởi lẽ tác phẩm đã khơi gợi sứ mệnh
thiêng liêng mà mọi nền văn học chân chính xưa nay muốn đảm nhiệm. Theo
nghĩa này, Vương Trí Nhàn đã khẳng định: “Thời xa vắng nên được xem là
cuốn sách biết làm đúng nhiệm vụ của một tác phẩm văn học cần làm”.
Bích Thu trong bài viết: Những nỗ lực sáng tạo của tiểu thuyết Việt Nam
từ sau Đổi mới, in trong cuốn Những vấn đề lý luận và lịch sử văn học (Viện
Văn học 1999) đã nhận xét: “Đọc tiểu thuyết Lê Lựu, người đọc nhớ câu
chuyện, nhớ nhân vật của một thời đã qua mà ai cũng thấy thấp thoáng chút ít
mình trong đó”.
Ngoài ra, đã có hàng loạt bài nghiên cứu về tác phẩm của Lê Lựu như:
Tiểu thuyết đầu tiên của một cây bút viết truyện ngắn của Phong Vũ; Thời xa
vắng - Một tâm sự nóng bỏng của Lê Thành Nghị; Chuyện phiếm với anh Sài
của Hồng Vân; Nghĩ về một Thời xa vắng của Thiếu Mai; Đọc Thời xa vắng
của Lê Lựu của Hoàng Ngọc Hiến, Suy tư từ một Thời xa vắng của Nguyễn
Hoà; Một đóng góp vào việc nhận diện con người hôm nay của Vương Trí
Nhàn; Khuynh hướng triết lý trong tiểu thuyết - Những tìm tòi và thể nghiệm
của Nguyễn Ngọc Thiện; Một giờ với nhà văn Lê Lựu của Nguyễn Hữu Sơn;
Hình tượng người nông dân và nhà văn đô thị của Nguyễn Thu Hằng; Lê Lựu
- Thời xa vắng của Đinh Quang Tốn; và tất cả những bài viết này được

3. Mục đích, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu

9

Nhằm cung cấp một khía cạnh nghiên cứu mới về tiểu thuyết Lê Lựu từ
góc nhìn về nhân vật và người kể chuyện. Đề xuất hướng nghiên cứu đa chiều
mới về nhân vật và người kể chuyện trong tiểu thuyết Lê Lựu dựa trên bối
cảnh lịch sử, các kiểu nhân vật, nghệ thuật xây dựng nhân vật; ngôi kể, điểm
nhìn, phương thức trần thuật, ngôn ngữ trần thuật
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Tìm hiểu về Lê Lựu và sự nghiệp sáng tác của ông đã có rất nhiều ý kiến
bàn luận nhưng chưa đi sâu tìm hiểu nghệ thuật lựa chọn và kiến tạo về nhân
vật và người kể chuyện. Trong luận văn này, từ việc lấy những đặc điểm tiểu
thuyết đương đại làm cơ sở, từ đó chúng tôi hướng đến tìm hiểu những đặc
điểm tiểu thuyết của Lê Lựu. Dựa vào thể loại, và tác phẩm chúng tôi cố gắng
chỉ ra những đặc điểm, những ưu thế riêng biệt, những chuyển biến về quan
niệm con người, về người kể chuyện, những trăn trở tìm tòi cũng như cách
thức biểu hiện chúng…để góp phần làm sáng tỏ những đóng góp và sáng tạo
mới của Lê Lựu trong lĩnh vực tiểu thuyết.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Sự nghiệp sáng tác của Lê Lựu diễn ra trong gần nửa thế kỉ với số lượng
tác phẩm khá phong phú: 9 tập truyện, 2 tập kí và 8 cuốn tiểu thuyết, tạp
văn Trong phạm vi luận văn, do hạn chế về mặt thời gian chúng tôi không
thể tiến hành khảo sát về nhân vật và người kể chuyện ở trong tất cả tác phẩm
của Lê Lựu mà chủ yếu khảo sát qua một số tác phẩm của ông trong thời kì
Đổi mới (từ 1986).
- Thời xa vắng (1986), Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội
- Chuyện làng Cuội (1991) Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội
- Sóng ở đáy sông (1995), Nxb Hải Phòng

vật cũng như nghệ thuật kể chuyện của nhà văn trên từng trang viết.

11

4.4. Phương pháp hệ thống
Số lượng tác phẩm của Lê Lựu rất nhiều, nên chúng tôi sử dụng phương
pháp hệ thống. Hơn nữa, khi sử dụng phương pháp này, chúng tôi muốn khái
quát các hình thức chủ thể nhân vật và người kể chuyện thành một mô hình,
trong đó có sự thống nhất hữu cơ giữa các yếu tố. Từ đó, giúp người đọc nhận
thức về phương diện nhân vật và người kể chuyện một cách đầy đủ, toàn diện.
Vận dụng phương pháp này, giúp ta xác định được các kiểu nhân vật, ngôi kể
điểm nhìn, phương thức trần thuật, giọng điệu trần thuật qua một số tác phẩm:
Thời xa vắng, Chuyện làng cuội, Sóng ở đáy sông, Hai nhà trong sáng tác
của Lê Lựu giúp ta có được cái nhìn mang tính bao quát về tiểu thuyết Lê Lựu
thời kì Đổi mới và trong dòng chảy của tiểu thuyết Việt Nam đương đại.

5. Cấu trúc luận văn
Ngoài hai phần mở đầu và kết luận, luận văn có ba chương:
- Chương 1: Tiểu thuyết Lê Lựu trong dòng chảy tiểu thuyết đương đại
- Chương 2: Nhân vật trong tiểu thuyết Lê Lựu
- Chương 3: Người kể chuyện trong tiểu thuyết Lê Lựu

hiện chủ trương đổi mới của Đảng trong hoàn cảnh cách mạng khoa học kỹ
thuật đang diễn ra với quy mô và tốc độ chưa từng có trên thế giới và việc

13

giao lưu giữa các nước và các nền văn hoá ngày càng mở rộng…văn nghệ
nước ta cũng phải đổi mới, đổi mới tư duy, đổi mới cách nghĩ, cách làm”.
"Phát huy khả năng sáng tạo, đưa văn học nghệ thuật phát triển lên một bước
mới" [19 tr. 35]. Như vậy, đổi mới trở thành một quy luật tất yếu. Từ việc đổi
mới kinh tế sẽ kéo theo việc đổi mới cuộc sống trên tất cả các lĩnh vực. Đổi
mới toàn diện trước hết là đổi mới tư duy, trong đó văn học nghệ thuật là một
hoạt động tư duy sắc bén. Vì vậy, văn học đã được đặt lên hàng đầu ở công
cuộc đổi mới này.
Từ yêu cầu thực tiễn, Đảng xác định sứ mệnh của văn học nghệ thuật giờ
đây không phải là cổ vũ, động viên, ca ngợi mà xây dựng tình cảm lành mạnh,
tác động sâu sắc vào việc đổi mới nếp nghĩ, nếp sống con người với "Tư
tưởng tôn trọng sự thật, nhìn thẳng vào sự thật. Bởi vì sự thật luôn luôn là linh
hồn của nghệ thuật chân chính" [123, tr.88] được thể hiện đậm nét trên nhiều
trang viết. Đảng yêu cầu tác phẩm văn học phải: "Phản ánh các nhân tố mới
trong xã hội, cổ vũ cái tốt, cái đẹp trong quan hệ giữa con người với con
người, giữa con người với xã hội, với thiên nhiên, phê phán cái sai, lên án cái
xấu, cái ác, hướng tới chân, thiện, mỹ " [170, tr.112]. Với chủ trương mới ấy,
văn học nghệ thuật đã được trả lại bản chất vốn có trong việc khám phá và thể
hiện cuộc sống. Để có sự đổi mới thực sự, Đảng khuyến khích giới văn nghệ
sỹ hãy tìm tòi sáng tạo và có những thể nghiệm mạnh bạo, rộng rãi trong sáng
tạo nghệ thuật, trong việc phát triển các loại hình nghệ thuật, các hình thức
biểu hiện. Bởi vì tìm tòi, sáng tạo của người nghệ sỹ là một trong những yếu
tố quan trọng quyết định sự đổi mới diện mạo văn học. Hơn nữa, tự do sáng
tác là điều kiện sống còn để tạo nên giá trị đích thực trong văn hoá, nghệ
thuật. Như vậy, các Nghị quyết và chỉ thị trong Đại hội lần thứ VI (1986) đã

năm, Hoàng Ngọc Hiến trong bài Chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa nhân đạo
cho rằng: "Trong sáng tác văn học, cái nhìn mâu thuẫn trong hiện thực đời

15

sống hết sức quan trọng. Những biến đổi sâu sắc trong văn xuôi của ta khoảng
mười lăm năm nay bắt nguồn từ sự thay đổi trong cách nhìn những mâu thuẫn
trong đời sống xã hội" [66, tr.239].
Lê Ngọc Trà trong một loạt bài nghiên cứu của mình đã tập trung đề cấp
đến vấn đề bản chất văn học: "Tác phẩm văn học là tiếng nói của những ấn
tượng, những suy nghĩ vừa như xác định vừa như chưa xác định, vừa như trọn
vẹn lại vừa như chưa trọn vẹn, vừa như có ý giới hạn lại vừa như miên man,
vô bờ bến. Đó là những cảm giác mang tính hình tượng Văn học chính là
nỗi buồn về cái đẹp, về lý tưởng, là nỗi đau giằng xé về số phận con người, là
sự cắn rứt lương tri không yên, là cuộc đấu tranh nội
tâm " [95, tr160].
Trong bài viết Văn học trên con đường đổi mới, Nguyễn Văn Hạnh đã
khẳng định: "Tư tưởng quan trọng bậc nhất mà Đại hội Đảng lần thứ VI đã
trang bị cho nhận thức xã hội trong thời kỳ đổi mới, cũng là tư tưởng đã tạo
nên bước ngoặt thật sự trong tư duy nghệ thuật mấy năm qua, chính là tư
tưởng tôn trọng sự thật, nhìn thẳng vào sự thật. Bởi sự thật luôn luôn là linh
hồn của nghệ thuật chân chính, nghệ thuật tiến bộ" [59, tr 65].
Có thể nói, những đánh giá trên được nhìn nhận khá chính xác và chúng
tôi tâm đắc với ý kiến: "Những nhà văn nhạy cảm với cuộc sống, thiết tha với
công cuộc đổi mới do Đảng đề ra đã nhìn thấy phải bắt đầu quá trình đổi mới
văn học đúng ngay từ chỗ phải bắt đầu nói sự thật. Mà người đọc từng trải,
thông minh chân tình của chúng ta cũng hiểu như vậy. Họ chú ý đến tác phẩm
mới, hoan nghênh nhà văn trước hết ở sự trung thực, ở lời nói thật. Cái nhìn
mới mẻ, trước hết bắt nguồn từ thái độ trung thực và tinh thần trách nhiệm đối
với cuộc sống, từ niềm tin vào chính nghĩa và sức mạnh của cách mạng, do đó

chính trị. Yêu cầu mới đòi hỏi văn học phải trả lời được những câu hỏi như:

17

Mối quan hệ giữa văn học và cuộc sống. Nghệ sĩ anh là ai? Bản chất của văn
học là gì?
Văn học nghệ thuật trong thời đại mới trở về với thiên chức vốn có của
mình là "món ăn tinh thần" đặc sắc nhất mà không một ngành nghệ thuật nào
có thể thay thế được. Văn học mang sứ mệnh to lớn như vậy nên người nghệ
sỹ cũng xác định nhiệm vụ của mình trong nghệ thuật là phải sáng tạo, phải
thể nghiệm mình. Điều này từng được Nam Cao khẳng định qua lời nhân vật
Hộ: "Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay làm theo một vài
kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết
tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có". Điều
này một lần nữa được Thạch Lam khẳng định trong tác phẩm của mình: " là
một thứ khí giới thanh cao và đắc lực làm cho lòng người trong sạch và
phong phú".
Sau chiến tranh, khi tư duy nghệ thuật thay đổi, văn học không chỉ nhìn
lại quá khứ bằng việc miêu tả hiện thực đời sống chiến tranh hay trở lại những
vấn đề lịch sử dưới một cái nhìn mới mà quan trọng hơn là đi sâu vào số phận
mỗi cá nhân, mỗi gia đình, mỗi làng quê. Cuộc sống được phản ánh vào tác
phẩm không chỉ là phần anh hùng, cao cả mà còn thấm thía nỗi buồn của con
người thời hậu chiến. Đấy là cuộc sống đời thường vừa nhân hậu ấm áp, vừa
bận rộn nhưng cũng không kém phần sôi động, quyết liệt. Đặc biệt “con
người” trở thành một đối tượng thực sự trong văn học- một thế giới đầy bí ẩn
đồng cũng là đối tượng khám phá không cùng của văn học. Con người với
đầy đủ các “phẩm chất” và “thuộc tính”, “bản năng” và “ý thức”, “thấp hèn”
và “cao thượng”, “phần con” và “phần người”… Từ con người tập thể sang
con người đời thường với tất cả tính chất mâu thuẫn phức tạp, con người anh
hùng và con người bi kịch.…Một quan niệm mới về con người được hình


19

Tìm hiểu những trang tiểu thuyết hôm nay, người đọc bắt gặp những số
phận riêng với những bi kịch rất đời thường của con người trong xã hội mới.
Thực ra, đây không phải là điều mới mẻ gì, không phải là lần đầu tiên xuất
hiện, bởi xu thế này đã có trên những trang văn xuôi giai đoạn 1930 - 1945.
Tuy nhiên, với thời gian của cuộc chiến tranh kéo dài 30 năm buộc văn học
phải quan tâm đến cái chung còn những vấn đề cá nhân đời thường, số phận
riêng mỗi con người phải tạm gác sang một bên. Giờ đây, khi chiến tranh kết
thúc, cảm hứng đời tư thế sự với những trăn trở, tìm tòi được thể hiện đậm nét
trên những trang tiểu thuyết như Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn
Kháng, Sao đổi ngôi của Chu Văn, Chim én bay của Nguyễn Trí Huân Và
không chỉ có tiểu thuyết mà trong những truyện ngắn, cảm hứng thế sự cũng
được khai thác mạnh mẽ. Cỏ lau, Phiên chợ Giát của Nguyễn Minh Châu, Bi
kịch nhỏ của Lê Minh Khuê, các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị
Hoài đều là những khám phá mới mẻ về cuộc đời con người.
Dưới ngòi bút chính luận Nguyễn Khải, con người hiện lên sắc sảo với
cách ứng xử thấu đáo và những suy nghĩ sâu sắc. Trong thế giới nghệ thuật
Ma Văn Kháng, con người được soi chiếu cả ở phần thể chất lẫn tâm hồn nên
vừa nồng nàn trong niềm khát khao được giao cảm lại vừa bận rộn với những
tính toán trong cuộc mưu sinh. Ngòi bút nhà văn dường như luồn thật sâu vào
mọi ngõ ngách trong tâm hồn con người để lần tìm những rung động dù rất
nhỏ. Cuộc sống thường nhật cũng như đời sống tâm hồn được miêu tả chân
thực hơn. Ở đấy không chỉ có hạnh phúc, chiến thắng mà còn có đau đớn, tủi
nhục, bất hạnh. Cuộc sống con người hiện lên trên trang viết hôm nay thật
phong phú đa dạng. Các nhà văn đã tiếp cận con người từ nhiều chiều và thể
hiện những cảm nhận về con người bằng nhiều cách khác nhau. Chiến tranh
đã kết thúc nhưng những dư âm của cuộc chiến vẫn còn. Giờ đây, chiến tranh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status