Lun vn thc s vn hc Nguyn Th Kiu Thỳy
- 1 -
Ngi k chuyn trong tiu thuyt Nguyn Khi thi k i mi
mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Tự sự là một bộ môn nghiên cứu liên ngành giàu tiềm năng. Nó đã xuất hiện
từ rất lâu nh Roland Barthes nói: Đã có bản thân lịch sử loài ngời thì đã có tự
sự. Trong các hình thức tự sự, tự sự văn học là phức tạp nhất. Nó đáng nghiên cứu
nhất và là đối tợng chủ yếu của tự sự học. Theo GS.TS Trần Đình Sử : Lý thuyết tự
sự có thể coi nh một bộ phận không thể thiếu của hành trang nghiên cứu văn học
hôm nay, và nói theo ngôn ngữ của Thomas Kunh, thì đó là một bộ phận cấu thành
của hệ hình lý luận hiện đại. [81]. Nghiên cứu văn học từ phơng diên tự sự cũng
là một hớng tiếp cận cần thiết nhằm khám phá sâu hơn cấu trúc văn bản - đặc biệt
là cấu trúc tiểu thuyết với những dấu hiệu đặc thù của nghệ thuật trần thuật.
Thời điểm sau năm 1975, đất nớc Việt Nam bớc sang trang mới, lẽ đơng
nhiên nền văn học của chúng ta cũng bớc vào một chặng đờng mới. Đặc biệt, từ
sau đại hội Đảng VI, năm 1986, văn học đã thực sự đợc cởi trói. Văn học lúc
này đứng trớc một tình thế thuận lợi cho sự phát triển: cá tính sáng tạo đợc tôn
trọng và có điều kiện để bộc lộ tối đa, giao lu quốc tế đợc mở rộng, tinh thần, tình
cảm, trình độ văn hoá, sự hiểu biết của con ngời đợc nâng cao. Hiện thực tuy
ngổn ngang, bề bộn nhng phong phú là mảnh đất màu mỡ của văn chơng.
Trên thực tế, ở Việt Nam, thời kỳ đổi mới với dấu mốc 1986 đã đánh dấu sự
chuyển hớng của văn học. Sự đổi mới t duy nghệ thuật đã tạo tiền đề cho sự cách
tân thể loại, trong đó có tiểu thuyết. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về nghệ
thuật tiểu thuyết ở các giai đoạn khác nhau và của các tác giả khác nhau, nhng
khám phá tính hiện đại, sự mới mẻ của tiểu thuyết từ phơng diện trần thuật, đặc
biệt là phơng diện ngời kể chuyện vẫn là vấn đề còn để ngỏ.
Nền văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới đã có những chuyển biến đáng ghi
nhận ở hầu hết các thể loại, trong đó có tiểu thuyết. Trong sự vận động chung của
nền văn học, tiểu thuyết một loại hình tự sự cỡ lớn, cỗ máy cái của nền văn học
hiện đại đã và đang nỗ lực chuyển mình, đổi mới nhằm đáp ứng yêu cầu của thời
đánh dấu những bớc chuyển của xã hội. Với cuộc cách mạng này, những năm
tháng đấu tranh gian khổ này, tác phẩm của ông là một bằng chứng, một tài liệu
tham khảo thực sự. Và muốn hiểu con ngời thời đại với tất cả những cái hay, cái dở
của họ, đời sống tinh thần của họ phải đọc Nguyễn Khải [63]. Với ngòi bút hiện
Lun vn thc s vn hc Nguyn Th Kiu Thỳy
- 3 -
Ngi k chuyn trong tiu thuyt Nguyn Khi thi k i mi
thực đặc sắc, năng lực quan sát và óc phân tích sắc sảo, Nguyễn Khải đã đem đến
cho ngời đọc những trang văn mang hơi thở của cuộc sống đất nớc và con ngời
đơng thời. Trong hơn nửa thế kỷ cầm bút, ông để lại cho đời 9 tiểu thuyết. Sự kết
tinh của nghệ thuật và độ chín của văn nghiệp Nguyễn Khải đợc ghi nhận khá rõ
nét ở các tiểu thuyết ông viết ở thời kỳ đổi mới.
Việc chọn đề tài: Ngời kể chuyện trong tiểu thuyết Nguyễn Khải thời kỳ
đổi mới của chúng tôi là bắt nguồn từ tầm quan trọng của Tự sự học trong nghiên
cứu văn học những năm gần đây. Điều đó cũng giúp ngời viết nhận diện sâu sắc
hơn sự phát triển của nghệ thuật Tự sự, bớc chuyển mình của tiểu thuyết Việt Nam
nói chung, tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới nói riêng. Qua việc nghiên cứu đề
tài này, chúng tôi cũng muốn thấy đợc những thành tựu đổi mới của Nguyễn Khải,
khẳng định các giá trị sáng tác của nhà văn trong thời kỳ này, góp phần thiết thực
vào việc tìm hiểu phong cách nghệ thuật Nguyễn Khải, đồng thời góp phần xác lập
giá trị trong nghệ thuật tự sự mà Nguyễn Khải đã cống hiến cho văn học và cuộc
đời.
Nguyễn Khải là một trong số các nhà văn có tác phẩm đợc đa vào giảng
dạy trong nhà trờng phổ thông. Hớng nghiên cứu này, theo đây, sẽ góp một phần
không nhỏ giúp ngời giáo viên có thể khai thác sâu hơn chất lợng nghệ thuật của
tác phẩm, qua đó, cũng nâng cao chất lợng bài giảng của mình. Thực hiện đề tài kể
trên, chúng tôi mong muốn và hi vọng sẽ mang lại những đóng góp khoa học nhất
định đối với công tác nghiên cú và giảng dạy văn chơng.
Số lợng tác phẩm và chất lợng sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Khải trong
suốt nửa thế kỷ đã xếp ông vào vị trí xứng đáng của nền văn học nớc nhà. Từ
tuyển chọn và giới thiệu).
Tác giả Nguyễn Văn Hạnh trong bài Vài ý kiến về tác phẩm Nguyễn Khải đã
nhận ra cái nhìn đặc trng của nhà văn: Nhà văn có một cái nhìn nhạy bén, thấu suốt
vào một số những mặt chủ yếu, những vấn đề khá phức tạp của cuộc sống [21, tr.53].
Thống nhất với ý kiến của tác giả Nguyễn Văn Hạnh, tác giả Chu Nga trong
bài viết Đặc điểm ngòi bút hiện thực Nguyễn Khải đã khẳng định: Với con mắt
sắc sảo của mình, nhìn vào ngõ ngách của cuộc sống, Nguyễn Khải cũng có thể rất
nhanh nhạy phát hiện ra những vấn đề phức tạp [57, tr.65].
Để công và dồn khá nhiều tâm huyết nghiên cứu về con ngời và văn chơng
Nguyễn Khải là nhà nghiên cứu Vơng Trí Nhàn. Với bài viết Nguyễn Khải trong
Lun vn thc s vn hc Nguyn Th Kiu Thỳy
- 5 -
Ngi k chuyn trong tiu thuyt Nguyn Khi thi k i mi
sự vận động của văn học cách mạng từ sau năm 1975, nhà nghiên cứu đã giúp
ngời đọc nhận ra nét căn bản trong sáng tác của Nguyễn Khải thời kỳ đổi mới là:
Cái nhìn sắc sảo vốn có từ sớm và khao khát có mặt trong ngày hôm nay. Đối
thoại với chính mình và tự phát hiện trở lại một phong cách vừa dân dã vừa hiện
đại [64].
1.2. Lịch sử nghiên cứu nghệ thuật tự sự trong sáng tác của Nguyễn Khải
và tiểu thuyết của Nguyễn Khải.
Nguyễn Thị Bình trong bài viết Nguyễn Khải và t duy tiểu thuyết đã chỉ
ra một hình tợng ngời kể chuyện đặc biệt trong sáng tác của Nguyễn Khải: Có
một ngời kể chuyện đóng vai tác giả là nhà văn, nhà báo, là chú Khải cùng với
rất nhiều chi tiết tiểu sử nh biểu hiện nhu cầu nhà văn muốn nói về mình, muốn coi
mình là đối tợng của văn chơng ( ). Nhân vật này góp phần tạo ra giọng điệu tự
nhiên, chân thành mà vẫn phóng túng trên các trang văn Nguyễn Khải [15, tr.141].
Vơng Trí Nhàn cũng cho rằng:Trong những trờng hợp thành công nhất của
mình, Nguyễn Khải hiện ra nh một ngời kể chuyện thông minh, la cà khắp nơi
chia sẻ với mọi ngời mọi vui buồn khi quan sát việc đời [ 63, tr.120].
Tác giả Đào Thuỷ Nguyên trong cuốn Phơng pháp tiếp cận sáng tác của
đề cập đến một vài khía cạnh trong sáng tác Nguyễn Khải nh:
Cảm hứng nghệ thuật và thế giới nhân vật trong sáng tác Nguyễn
Khải Luận án tiến sĩ - Đào Thuỷ Nguyên
Triết luận trong truyện ngắn Nguyễn Khải Luận văn thạc sĩ Nguyễn
Thị Huấn
Chất triết lý trong văn xuôi Nguyễn Khải ( qua Xung đột, Mùa lạc, Hãy
đi xa hơn nữa và Ngời trở về ) Báo cáo Hội nghị sinh viên nghiên cứu khoa học-
2010- Phạm Trọng Đạt, Đỗ Thị Nhung.
Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Khải (sau 1975) Luận
văn thạc sĩ Kiều Thu Huyền - Đại học Khoa học xã hội và nhân văn.
Đổi mới về nghệ thuật trần thuật của Nguyễn Khải trong truyện ngắn
sau 1980 Lê Thị Ngọc Huyền NCS khoa Ngữ văn ĐHSPHN.
Đặc điểm tiểu thuyết Nguyễn Khải Luận án tiến sĩ - Trần Văn Phơng
- ĐHSPHN.
Lun vn thc s vn hc Nguyn Th Kiu Thỳy
- 7 -
Ngi k chuyn trong tiu thuyt Nguyn Khi thi k i mi
Trên cơ sở khảo sát các bài viết, các bài nghiên cứu về nhà văn Nguyễn Khải
và các sáng tác của ông thời kỳ đổi mới, chúng tôi có thể sơ bộ rút ra những nhận
xét sau:
1. Số lợng các bài viết, các ý kiến đánh giá về tác phẩm của ông rất phong
phú. Hầu hết các nhà nghiên cứu đều khẳng định Nguyễn Khải là một nhà văn sắc
sảo, xông xáo, nhạy bén, đề cập đến nhiều vấn đề của cuộc sống, có nhiều tìm tòi,
sáng tạo và đổi mới trong cách viết.
Các bài viết, các ý kiến đề cập đến tiểu thuyết Nguyễn Khải thời kỳ đổi mới
đều chỉ ra những điểm mới trong cách thể hiện của tác giả từ cách nhìn, giọng điệu
cho đến ngôn ngữ. Nhìn chung các bài viết đều khẳng định: Tiểu thuyết thời kỳ đổi
mới của Nguyễn Khải góp phần quan trọng trong việc đổi mới nền văn học nớc
nhà.
3.1.4. Những sáng tác của Nguyễn Khải thời kỳ đổi mới và một số sáng tác
của các nhà văn khác nhằm thấy rõ sự chuyển hớng trong nghệ thuật kể chuyện của
Nguyễn Khải.
4. Đối tợng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tợng nghiên cứu
Luận văn sẽ tập trung khai thác, tìm hiểu, khẳng định mối quan hệ thống nhất
hữu cơ giữa các yếu tố nổi trội:
4.1.1. Một số vấn đề lý luận chung về ngời kể chuyện
4.1.2. Ngời kể chuyện và điểm nhìn trần thuật trong tiểu thuyết Nguyễn
Khải thời kỳ đổi mới.
4.1.3. Ngôn ngữ và giọng điệu của ngời kể chuyện trong tiểu thuyết Nguyễn
Khải thời kỳ đổi mới.
Mỗi phần tơng ứng với một chơng của Luận văn.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Mốc thời gian của văn học thời kỳ đổi mới mà chúng tôi nhắc đến ở luận văn
mang tính ớc lệ tơng đối. Lâu nay, chúng ta vẫn tính thời gian bắt đầu cho thời kỳ
đổi mới là năm 1986, sau Đại hội Đảng lần thứ VI, nhng đối với văn hoc, sự đổi
mới có thể bắt đầu từ sớm hơn. Quá trình đổi mới của văn học đã manh nha từ
những năm đầu thập niên 80 với sự xuất hiện của một loạt tác phẩm của các tác giả
khác nhau nh: Thời xa vắng ( Lê Lựu), Cù lao Tràm (Nguyễn Mạnh Tuấn), Ma
mùa hạ (Ma Văn Kháng) Đối với Nguyễn Khải, dấu hiệu của sự đổi mới đợc tính
Lun vn thc s vn hc Nguyn Th Kiu Thỳy
- 9 -
Ngi k chuyn trong tiu thuyt Nguyn Khi thi k i mi
từ Gặp gỡ cuối năm (1982), Thời gian của ngời (1985). Do vậy, để làm rõ yêu
cầu đặt ra, luận văn tiến hành nghiên cứu và khảo sát các tiểu thuyết sau:
- Gặp gỡ cuối năm (1982)
- Thời gian của ngời (1985)
- Vòng sóng đến vô cùng (1987)
- Một cõi nhân gian bé tý (1989)
thuyết của các tác giả cùng thời.
Đồng thời, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi cũng tiến hành sử dụng
phơng pháp thống kê, khảo sát, phân loại cùng một vài thao tác của thi pháp học
nh một phơng pháp hỗ trợ.
6. Dự kiến đóng góp của luận văn
6.1. Góp phần quan trọng trong việc ứng dụng lý thuyết tự sự học vào việc
tìm hiểu các tác phẩm văn học, cụ thể là các tiểu thuyết Nguyễn khải thời kỳ đổi
mới.
6.2. Xác lập thêm tính vững chắc của khái niệm ngời kể chuyện, một
phơng diện trọng yếu của Tự sự học.
6.3. Góp phần làm sáng tỏ cá tính sáng tạo, phong cách nghệ thuật của
Nguyễn Khải trong việc cách tân tiểu thuyết trên bình diện nghệ thuật trần thuật. Từ
đó, khẳng định vị trí, vai trò của nhà văn trong sự vận động của tiểu thuyết Việt
Nam thời kỳ đổi mới. Lun vn thc s vn hc Nguyn Th Kiu Thỳy
- 11 -
Ngi k chuyn trong tiu thuyt Nguyn Khi thi k i mi
Nội dung
Chơng I
khái lợc chung về ngời kể chuyện
1.1. Giới thuyết về ngời kể chuyện trong tác phẩm tự sự
1.1.1. Khái niệm ngời kể chuyện
Văn học là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Mỗi tác phẩm văn
học chính là một hiện tợng, một lát cắt của đời sống con ngơì đợc thể hiện qua
khác mà kể chuyện. Nh vậy kết hợp đồng thời trong mình cả nhân vật và ngời kể,
nhật vật mà nhân danh nó cuốn sách đợc kể có một vị thế hoàn toàn đặc biệt [85,
tr.79]. Trong khi đó, W. Kayser viết về ngời kể chuyện nh một vai trò ớc định:
Trong nghệ thuật kể, ngời kể chuyện không bao giờ là tác giả đã hay cha từng
biết đến, mà là một vai trò đợc tác giả nghĩ ra và ớc định [ 85, tr.79]. Và với
ông, đó cũng là một khái niệm mang tính chất cực kỳ hình thức: Ngời trần thuật-
đó là một hình hài đợc sáng tạo ra, thuộc về toàn bộ chỉnh thể tác phẩm văn học .
ở nghệ thuật kể không bao giờ ngời trần thuật là vị tác giả đã hay cha nổi danh,
nhng là cái vai mà tác giả bịa ra và chấp nhận [ 85, tr.245].
Giáo s Trần Đình sử cho rằng: Mọi nội dung t tởng, ý đồ sáng tạo đều do
tác giả nghĩ ra, nhng anh ta không trực tiếp đứng ra trần thuật, mà sáng tạo ra một
ngời trần thuật để thay mình làm điều đó. Khi sang tác, nhà văn nh ngời chép hộ
lời lẽ của ngời trần thuật do mình tạo ra [81, tr.145]. Ông cũng khẳng định rằng:
văn bản trần thuật có thể có nhiều ngời trần thuật. Lúc đó xuất hiện tầng bậc trần
thuật. Ví dụ trong Nghìn lẻ một đêm, ngời kể chuyện kể chuyện Quốc vơng và
nàng Sêhêradat. Đến lợt mình, nàng Sêhêradat lại kể các chuyện cụ thể, các nhân
vật cụ thể khác nhau lại tự kể chuyện mình.
1.1.2. Các kiểu ngời kể chuyện
Trong tác phẩm tự sự, ngời kể chuyện đóng vai trò quyết định, là ngời sắp
đặt, môi giới, gợi mở giữa câu chuyện trong tác phẩm với ngời đọc. Ngời trần
thuật phải chọn cho mình một chỗ đứng thích hợp. Từ chỗ đứng, ngời trần thuật có
điểm nhìn, cách kể đối với câu chuyện sao cho lôi cuốn, hấp dẫn và theo ý đồ sáng
Lun vn thc s vn hc Nguyn Th Kiu Thỳy
- 13 -
Ngi k chuyn trong tiu thuyt Nguyn Khi thi k i mi
tạo của mình. Điều đó không chỉ đem lại vai trò mà còn làm nên một gơng mặt của
ngời kể chuyện.
Dựa theo các tiêu chí khác nhau ta có thể có những cách phân loại khác nhau
về loại hình ngời kể chuyện. Nếu dựa vào sự bộc lộ hay hàm ẩn của ngời kể
chuyện trong tác phẩm ta có thể phân thành ngời kể chuyện ngôi thứ nhất và ngời
cấu thích hợp với một quá trình khái quát nghệ thuật của ngời nghệ sĩ. Ngời kể
chuyện phải thay mặt nhà văn cố gắng tìm cho mình một kết cấu tối u để làm cho
câu chuyện hấp dẫn, lôi cuốn ngời đọc. Vai trò tổ chức kết cấu tác phẩm của ngời
kể chuyện đợc thể hiện trên những bình diện sau:
Trớc hết là tổ chức hệ thống hình tợng nhân vật. Ngời kể chuyện có thể tổ
chức các quan hệ của nhân vật theo hình thức đối lập, đối chiếu, tơng phản hoặc bổ
sung. Chẳng hạn trong Hồng lâu mộng của Tào Tuyết Cần, ngời kể chuyện đã lựa
chọn quan hệ đối chiếu, tơng phản để làm cho nhân vật hiện lên sắc nét hơn. Đó là
Giả Bảo Ngọc và Lâm Đại Ngọc: Cả hai đều sống theo tiếng gọi của con tim, đều có
t tởng tiến bộ nhng về cá tính thì họ lại dờng nh trái ngợc nhau. Giả Bảo
Ngọc xốc nổi, Lâm Đại Ngọc thâm trầm; Giả hồn nhiên, cởi mở, Lâm quanh co, kín
đáo; Giả tin ngời và rộng lợng còn Lâm đa nghi và có phần hẹp hòi. Đó là Phợng
Th và Thám Xuân: Cả hai đều sắc sảo, đáo để nhng chính Phợng Th đã nhận ra
Thám Xuân thận trọng hơn và có học thức hơn. Tình Văn và Tập Nhân cũng vậy: Cả
hai đều là những ngời hầu xinh đẹp, có tình cảm sâu sắc với cậu chủ nhng tính cách
của Tình Văn đáng yêu hơn, tình cảm của Tình Văn trong sáng hơn Quan hệ gữa
Đônkihôtê và Panxa (Xecvantex); giữa Anh béo và Anh gầy (Sêkhốp); giữa Thúy
Kiều và Thúy Vân (Nguyễn Du) đều đợc ngời kể chuyện tổ chức theo lối này.
Thứ hai là tổ chức hệ thống sự kiện, liên kết chúng lại để tạo thành truyện.
Truyện ngắn Anh hùng bĩ vận của Nguyễn Khải là một ví dụ tiêu biểu cho sự nối
kết khéo léo và tài hoa của ngời kể chuyện. Tác phẩm gồm nhiều câu chuyện khác
nhau, có vẻ nh không liên quan đến nhau. Đó là một câu chuyện đáng buồn của
một xã đã từng lừng lẫy tiếng tăm với đủ thứ luận chứng cờ thởng nay lâm vào
khủng hoảng, bị dồn vào ngõ cụt. Câu chuyện thứ hai kể về nghề viết văn trong thời
kinh tế thị trờng. Bản thảo đã bị trả lại, cuộc sống của ngời cầm bút trở nên lao
đao, mất ổn định. Câu chuyện thứ ba kể về gia đình ông Cậy chủ một gia đình
trớc đây đã từng làm ăn rất phát đạt, bây giờ sa sút, thua lỗ, con cái phải tha hơng
khắp nơi. Chính ngời kể chuyện với sự tài tình khéo léo của mình đã kết nối các sự
Lun vn thc s vn hc Nguyn Th Kiu Thỳy
- 15 -
và mùi bia rợu
Lun vn thc s vn hc Nguyn Th Kiu Thỳy
- 16 -
Ngi k chuyn trong tiu thuyt Nguyn Khi thi k i mi
Tóm lại, ngời kể chuyện có vai trò rất lớn trong việc tổ chức kết cấu tác
phẩm. Chính Timofev cũng khẳng định: Hình tợng này có tầm quan trọng hết sức
to lớn trong việc xây dựng tác phẩm bởi các quan niệm, các biến cố xảy ra, cách
đánh giá các nhân vật và các biến cố đều xuất phát từ cá nhân ngời kể chuyện
[46, tr.44].
1.2.2. Ngời kể chuyện với chức năng dẫn dắt ngời đọc tiếp cận thế giới
nghệ thuật của tác phẩm.
Gorki khẳng định: Trong tiểu thuyết, trong truyện ngắn, những con ngời
đợc tác giả thể hiện đều hành động với sự giúp đỡ của tác giả; tác giả luôn bên
cạnh họ, tác giả mách cho ngời đọc hiểu rõ cần phải hiểu nh thế nào, giải thích
cho ngời đọc hiểu những ý nghĩa thầm kín, những động cơ bí ẩn ở phía sau những
hành động của nhân vật đợc miêu tả [48, tr.117]. Tác giả mà Gorki nói đến ở
đây chính là ngời kể chuyện. Bởi tác giả là ngời sáng tạo ra tác phẩm nhng tác
giả không bao giờ xuất hiện trực tiếp trong tác phẩm mà lại h cấu ra ngời kể
chuyện để thay mặt mình dẫn dắt ngời đọc thâm nhập vào thế giới nghệ thuật.
Trớc hết, ngời kể là ngời môi giới, gợi mở, giúp ngời đọc tiếp cận với
nhân vật, hiểu đợc những động cơ thầm kín trong những hành động của nhân vật,
rút ngắn khoảng cách giữa nhân vật với mình. Trong Anna Karênina (Lep
Tônxtôi), ngời kể chuyện đã vừa kể, vừa tả, vừa giải thích, bình luận giúp ngời
đọc hiểu rõ hơn về nhân vật Anna. Mặc dù trong quan niệm của xã hội thợng lu
phong kiến Anna là một ngời phụ nữ sa đọa, đáng lên án nhng trong cái nhìn của
ngời kể chuyện nàng là một ngời phụ nữ đáng thơng chứ không đáng tội, một
phụ nữ đáng tôn trọng. Để ngời đọc hiểu thêm, yêu mến thêm nhân vật Anna,
ngời kể chuyện đã miêu tả nàng qua cái nhìn của nhiều nhân vật khác trong tác
phẩm. Đối với Lêvin thì Anna là ngời đàn bà tế nhị, cởi mở ngoài cái thông
minh, duyên dáng, nàng còn là ngời thẳng thắn nữa. Với nữ công tớc
Mờng, về sau lại lập trại sinh con ở đấy lại trở thành tổ phụ của ông Quách Ngọc
Minh. Trong truyện Phẩm tiết, ngời kể lại đa ra kết thúc khác về số phận của
Ngô Thị Vinh Hoa: ít lâu sau, ở vùng huyện lị Đà Bắc, ngời ta vớt đợc một xác
phụ nữ quý tộc nổi trên sông, trên tay có bế một đứa bé còn sống. Quan sở tại báo
cáo cáo về triều đình. Vua Gia Long cho ngời lên xem xét nhận ra ngời chết giống
hệt Ngô Thị Vinh Hoa Ngời kể chuyện đã đẩy ngời đọc vào những tình huống
Lun vn thc s vn hc Nguyn Th Kiu Thỳy
- 18 -
Ngi k chuyn trong tiu thuyt Nguyn Khi thi k i mi
hỗn độn buộc ngời đọc không thể tin cậy hoàn toàn vào những lời anh ta kể mà
phải tìm tòi để đa ra một cách kiến giải của riêng mình.
Ngời kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Khải là một ngời rất có ý thức
trong việc lôi kéo ngời đọc cùng tham gia vào câu chuyện, buộc họ phải phản ứng.
Ngôn ngữ của ngời kể chứa nhiều đối thoại ngầm. Trong Anh hùng bĩ vận, lời kể
nh là lời đối thoại của hai ý thức độc lập ngời kể chuyện xng tôi đã phân thân
để đối thoại với chính mình về nghề viết: Anh viết chính trị quá, cao siêu quá, bạn
đọc sẽ khó mua. Bạn đọc nào? Bạn đọc của tôi vẫn trung thành với tôi mà? Bạn đọc
quen thuộc của anh đã tới tuổi về hu rồi, đã về hu tiền ăn còn chả đủ lấy đâu tiền
mua sách. Có nhiều khi lời kể mang tính khiêu khích ngời đọc: Này các bạn trẻ,
các bạn chớ có vội cời, các bạn chớ có nghĩ một cách tự phụ rằng chỉ có lứa tuổi
các bạn mới biết mãnh lực tình yêu. Không nên chủ quan nh thế! Các bà nội trợ
cũng vẫn có, nếu nh cái ma lực ấy các cụ không tiêu xài quá phung phí lúc thiếu
thời. Không còn là các bạn đọc chung chung nữa, ngời kể chuyện hớng đích
danh tới các bạn trẻ buộc họ phải nhập cuộc, đồng tình hoặc phản đối.
1.2.3. Ngời kể chuyện thay mặt nhà văn trình bày những quan điểm về
cuộc sống, nghệ thuật.
Động lực của mỗi nhà văn đến với nghệ thuật có thể khác nhau thậm chí đối
lập nhau. Mặc dù vậy, tất cả những nhà văn chân chính đều gặp nhau ở một điểm là
mong muốn thể hiện một quan niệm, một t tởng về cuộc sống, về con ngời. Tuy
nhiên khác các nhà t tởng, các nhà văn không trình bày t tởng của mình bằng
quạn niệm của nhà văn về văn chơng nghệ thuật. Đọc truyện ngắn Nam Cao, nếu ta
tập hợp những suy nghĩ của nhân vật ngời kể chuyện lại thì có thể thấy đợc quan
niệm văn chơng tơng đối hoàn chỉnh, hệ thống và nhất quán của nhà văn. Đó là
quan niệm về mối quan hệ giữa văn chơng và hiện thực: Nghệ thuật không cần là
ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối. Nghệ thuật chỉ có thể là tiếng kêu
đau khổ thoát ra từ những kiếp lầm than (Trăng sáng). Đó là quan niệm về tính
sáng tạo độc đáo của văn chơng nghệ thuật: Văn chơng không cần đến những
ngời thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đa cho. Văn chơng chỉ dung nạp
đợc những ngời biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn cha ai khơi và sáng
tạo những gì chua ai có (Đời thừa). Ngời kể chuyện trong Những chuyện không
muốn viết đã chế giễu những nhà văn a dua, chạy theo mốt thời thợng, thấy
ngời ta ăn khoai cũng vác mai đi đào. Và trong truyện ngắn Nhỏ nhen, cũng qua
Lun vn thc s vn hc Nguyn Th Kiu Thỳy
- 20 -
Ngi k chuyn trong tiu thuyt Nguyn Khi thi k i mi
lời ngời kể chuyện, Nam Cao bộc lộ quan điểm coi trọng vai trò của chủ thể trong
sáng tạo văn học: Nhà văn phải biết cách dùng những câu chuyện chẳng có gì để
nói những cái sâu sắc.
Qua nhân vật Thuấn - ngời kể chuyện xng Tôi trong Tớng về hu,
Nguyễn Huy Thiệp đã nói đợc cảm nhận của mình về bản chất của sự sáng tạo
nghệ thuật. Thuần cứ mơ hồ cảm thấy những nghệ sĩ trác tuyệt là những con ngời
cô đơn khủng khiếp. Ngời kể chuyện trong Giọt máu cũng mơ hồ hiểu rằng học
đòi văn chơng là bớc vào một cõi mà ở đấy không thể nơng tựa vào bất cứ cái gì
ngoài bản thân mình. Trong Đất kinh kỳ, Nguyễn Khải cũng đã gửi gắm một quan
niệm khá sâu sắc về văn chơng qua lời ngời kể chuyện: Văn chơng đâu phải là
thứ để dành đợc ớp lạnh đợc, không dùng trớc thì dùng sau hoặc dùng dần. Nó
là sự sống mà lại là phần thiêng liêng mong manh dễ vỡ nhất của sự sống.
Từ sự phân tích trên ta có thể khẳng định: ngời kể chuyện là nhân tố tích
cực trong việc tổ chức tác phẩm, dẫn dắt định hớng và khơi gợi khả năng đối thoại,
tranh luận của ngời đọc. Ngoài ra, ngời kể chuyện còn là một điểm tựa để tác giả
đó câu chuyện đợc kể, hình tợng đợc miêu tả hay sự việc đợc thông báo [49,
tr.86]. Theo Paul Rieour thì: Khái niệm điểm nhìn đánh dấu điểm tột cùng của một
sự nghiên cứu tập trung vào mối quan hệ giữa sự phát ngôn và cái phát ngôn. Nên
vấn đề điểm nhìn cũng đợc phân biệt rõ trong lời nói giao tiếp và trong truyện.
Theo P.G.S Nguyễn Thái Hòa : Điểm nhìn của lời nói giao tiếp là tọa độ của hai
trục: lơì nói hiển ngôn và hành vi giao tiếp và do thao tác suy ý ngời nhận có thể
tiếp nhận đợc [31, tr.88]. Cònđiểm nhìn nghệ thuật trong truyện về cơ bản cũng
đợc suy ý từ văn bản và hành động kể chuyện, nhng văn bản là hệ thống rất phức
tạp gồm nhiều tầng bậc và hành động kể (phát ngôn) cũng thể hiện ở nhiều thủ pháp
khác nhau. Tuy vậy, đó là mối quan hệ giữa Ngời viết Văn bản Ngời nhận ở
cả hai bậc hiển ngôn và hàm ẩn [ 31, tr.95-96].
Giáo s Phùng Văn Tửu quan niệm: Điểm nhìn đợc xác nhận trong hệ đa
phơng không gian, thời gian tạo thành góc nhìn. Điểm nhìn là kỹ thuật chọn chỗ
đứng để nhìn và kể [103, tr.178]. Trong Từ điển thuật ngữ văn học, điểm nhìn nghệ
thuật đợc coi là quan niệm nghệ thuật về thế giới và con ngời.
Từ góc độ thi pháp học, tác giả Trần Đình Sử quan niệm: Điểm nhìn văn
bản là phơng thức phát ngôn, trình bày, miêu tả phù hợp với cách nhìn, cách cảm
thụ thế giớ tính của tác giả. Khái niệm điểm nhìn mang tính ẩn dụ, bao gồm mọi
Lun vn thc s vn hc Nguyn Th Kiu Thỳy
- 22 -
Ngi k chuyn trong tiu thuyt Nguyn Khi thi k i mi
nhận thức, đánh giá, cảm thụ của chủ thể đối với thế giới, Nó là cái vị trí dùng để
quan sát, cảm nhận đánh gía bao gồm cả khoảng cách chủ thể và khách thể, cả
phơng diện vật lý, tâm lý, văn hóa [ 842,tr.149].
Nh vậy điểm nhìn nghệ thuật chính là vị trí đứng để kể chuyện của ngời
kể. Nó là một cấu trúc nghệ thuật hàm ẩn đợc ngời đọc tiếp nhận bằng thao tác
suy ý thông qua các mối quan hệ ngời kể và cốt truyện, ngời kể với nhân vật,
ngời kể và lời kể, ngời kể và ngời đọc hàm ẩn. Điểm nhìn trần thuật là một trong
những yếu tố hàng đầu của sáng tạo nghệ thuật. Có đợc điểm nhìn, ngời kể
chuyện dễ dàng giao tiếp với bạn đọc và ngời tiếp nhận có thể khám phá đợc
với chủ thể trần thuật, hay nói cách khác là điểm nhìn của ngời trần thuật với
những gì mà anh ta miêu tả [88, tr.50]. Điều đó chứng tỏ điểm nhìn có tính chất
quyết định thành công của tác giả đối với đứa con tinh thần của mình. Điểm nhìn chi
phối cách t duy, sự nhạy bén và chiều sâu t tởng của nhà văn với cuộc đời. Điểm
nhìn chi phối cảm hứng sáng tác và bộc lộ cá tính sáng tạo của nhà văn. Chọn đợc
điểm nhìn thích hợp nhà văn sẽ tạo đợc cho mình ấn tợng riêng, độc đáo trong từng
trang viết, làm nên phong cách không thể trộn lẫn với bất cứ một phong cách nào.
1.3.1.2. Các kiểu điểm nhìn trần thuật
Bản chất của khái niệm điểm nhìn là sự phản ánh mối quan hệ giữa chủ thể
ngôn từ, tức ngời kể chuyện và khách thể ngôn từ là đối tợng đợc kể lại. Nó là
một vấn đề khá phức tạp. Trớc đây, ngời ta thờng chú ý tới ngôi trần thuật,
nhng đó chỉ là một biểu hiện ngữ pháp. Điểm nhìn nghệ thuật tuy gắn bó trực tiếp
với ngôi kể nhng rộng hơn ngôi kể. Vì có trờng hợp truyện kể theo ngôi thứ ba,
nhng nhiều khi ngôi thứ ba kết hợp với điểm nhìn của nhân vật. Ví dụ trong đoạn
trích Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều (Truyện Kiều Nguyễn Du) điểm nhìn thể hiện
trong từ ngữ: ngời, kẻ là điểm nhìn bên ngoài, còn muôn dặm một mình, in gối
chiếc, soi dặm trờng là điểm nhìn bên trong của Thúy Kiều. Do đó, vấn đề ngời
kể chuyện chỉ có thể tìm hiểu thấu đáo khi gắn với điểm nhìn. Xung quanh vấn đề
điểm nhìn đã có rất nhiều ý kiến bàn luận. Có ngời cho rằng khái niệm điểm nhìn
quá rộng, quá chung đã đề xuất khái niệm nhãn quan (vision), có ngời đề nghị
dùng khái niệm điểm quan sát (post of observation), có ngời lại muốn dùng khái
niệm tiêu cự trần thuật (focus of narrative) Theo giáo s Trần Đình Sử: Khái
niệm điểm nhìn dễ hiểu hơn và nội dung phong phú hơn [ 82, tr.191].
Lun vn thc s vn hc Nguyn Th Kiu Thỳy
- 24 -
Ngi k chuyn trong tiu thuyt Nguyn Khi thi k i mi
Tuy có các ý kiến khác nhau nhng hầu hết các ý kiến đều thống nhất với
nhau ở chỗ xem điểm nhìn của ngời kể chuyện chính là phơng thức phát ngôn,
trình bày, miêu tả phù hợp với cách nhìn, cách cảm thụ thế giới của anh ta. Nói tới
điểm nhìn của ngời kể chuyện trong tác phẩm tự sự, ta thờng nói tới mấy loại
Thứ hai là hình thức điểm nhìn bên trong, ngời kể chuyện hạn chế điểm nhìn
của mình vào điểm nhìn của nhân vật. Anh ta thâm nhập vào cảm xúc, suy nghĩ, ấn
tợng của nhân vật, nhìn thế giới theo con mắt của nhân vật. Với điểm nhìn này,
ngời kể chuyện có khả năng thâm nhập sâu vào đời sống bên trong của nhân vật, có
thể biết đợc nhân vật đang nghĩ gì, sự hiểu biết của ngời kể chuyện hoàn toàn
bằng với sự hiểu biết của nhân vật. Kể chuyện theo điểm nhìn bên trong thờng có
hai dạng biểu hiện cơ bản:
Dạng biểu hiện thứ nhất là ngời kể chuyện xng Tôi, tự thú nhận, bộc bạch
chuyện của mình, kể về những tâm trạng, cảm giác mà mình đã nếm trải. Toàn bộ
tác phẩm Ngời tình của M.Duras là những hồi ức của nhân vật Tôi về ngời tình
của mình một chàng trai Trung Hoa. Có thể nói, chỉ dới hình thức ngời kể
chuyện xng tôi, tự bạch, tự phô diễn phần sâu thẳm của tâm hồn mình, Ngời tình
mới có thể có lời nói tối hậu về con ngời, mới có thể khám phá con ngời trong
con ngơì. Đọc tác phẩm Cát đợi của Nguyễn Thị Thu Huệ ta bắt gặp ngời kể
chuyện xng tôi đang giãi bày về tâm trạng đợi chờ ngời yêu một cách tuyệt vọng
của mình. Nguyễn Thị Thu Huệ đã khai thác triệt để điểm nhìn bên trong để phô
bày, bộc bạch những gì sâu thẳm nhất của đời sống tâm hồn. Đó là những trạng thái
cảm xúc hạnh phúc và đau khổ, hi vọng và thất vọng, những đam mê và rụt rè,
những hành động có ý thức và cả những ám ảnh vô thức của nhân vật Tôi. Ngời
đọc cũng nh bị lôi cuốn vào những đợt sóng tình cảm của nhân vật. Chính bằng
việc sử dụng điểm nhìn bên trong của nhân vật Tôi để kể chuyện, nhà văn đã tạo nên
ở ngời đọc ảo tởng về tính chân thật của câu chuyện vì họ cứ nghĩ đây chính là lời
thú nhận của chính ngời trong cuộc.
Một dạng biểu hiện nữa của ngời kể chuyện theo điểm nhìn bên trong là
ngời kể chuyện đứng ở ngôi thứ ba từ bên ngoài nhng lại tựa vào điểm nhìn nhân
vật để kể. Trong tác phẩm Chân dung một nghệ sĩ thời trẻ, Jemes Joào cũng sử
dụng hình thức kể chuyện này. Ngời kể chuyện đã nhập vai vào nhân vật Stephen,
nhập vào cảm xúc, hồi tởng, suy nghĩ của nhân vật, nhìn nhận thế giới theo những