BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN HOÀNG TUẤN
“CÂU BỊ ĐỘNG” VÀ “NGHĨA BỊ ĐỘNG”
TRONG TIẾNG VIỆT
Chuyên ngành: NGÔN NGỮ HỌC
Mã số: 60 22 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN THỊ HAI
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Trong tiếng Việt, thái bò động (passive voice) và cùng với nó là khái niệm câu bò
động (passive sentence) hay “nghóa bò động” (“passive meaning”) được giới Việt ngữ học
rất quan tâm. Vấn đề này đã được bàn đến khá nhiều nhưng cho đến nay các ý kiến vẫn
còn phân tán, thậm chí ngay cả đối với việc câu bò động có tồn tại trong tiếng Việt hay
không vẫn chưa có được sự nhất trí.
Một số nhà Việt ngữ học cho rằng tiếng Việt không có thái bò động hay câu bò
động vì tiếng Việt, vốn thuộc loại hình Đề-Thuyết, không có Chủ ngữ ngữ pháp chỉ
người hành động hay chủ thể mang trạng thái. Một số khác cho rằng mặc dù tiếng Việt
không có dạng bò động với tư cách là một phạm trù ngữ pháp của động từ, nhưng vẫn có
thể nói đến kết cấu câu bò động trong tiếng Việt, căn cứ vào sự tồn tại của các cấu trúc
có vò ngữ gồm được, bò kết hợp với một động từ ngoại động.
Đứng trước vấn đề này, một người bình thường, có thể chẳng quan tâm là mấy.
Nhưng chính họ khi biết rằng vấn đề chưa được nhất quán ấy lại được nhà trường phổ
thông đưa vào bộ sách giáo khoa để giảng dạy cho con em mình thì chắc họ sẽ không
mấy hài lòng! Còn với một số người khác, những người đã có ít nhiều kiến thức về Ngôn
ngữ học, khi cầm trên tay cuốn sách giáo khoa Ngữ văn 7 tập II được Bộ Giáo Dục và
Đào Tạo cho phép thực hiện chính thức trong phạm vi toàn quốc từ năm học 2002 – 2003
đến nay – và ở đấy đã dành trọn hai tiết học cho nội dung “Chuyển đổi câu chủ động
thành câu bò động” [37, tr. 57-58; 64-65] thì sẽ nghó sao? Có phải chăng đây là thông
điệp từ bộ sách giáo khoa đã chính thức công nhận rằng trong ngữ pháp tiếng Việt có
một quy tắc bắt buộc phải phân biệt câu bò động và câu chủ động như trong tiếng Pháp,
đồng thời qua đó mà khẳng đònh rằng phạm trù thái là một phạm trù ngữ pháp của tiếng
Việt?
Một vấn đề chưa được thống nhất triệt để, một vấn đề gây nhiều sự tranh cãi nhất
trong giới Việt ngữ học, vẫn đang tồn tại hai quan điểm trái ngược nhau về nó như đã
nêu trên, nhưng lại được chương trình phổ thông đưa vào giảng dạy. Nếu vậy học sinh sẽ
không bao giờ dám viết câu: Cơm đã dọn lên - mà sẽ viết Cơm đã được dọn lên. Cũng
tương tự như vậy, họ sẽ sửa các câu Tiền đã cất chưa; Báo mới đọc chưa…thành Tiền đã
động là đặc trưng của các ngôn ngữ thiên chủ ngữ. Ý kiến này xuất phát từ luận điểm
của Ch.N. Li và S.A.Thompson (1976) về sự đối lập giữa hai loại hình ngôn ngữ “Thiên
chủ đề” và “Thiên chủ ngữ”. Dựa vào ý kiến của Ch.N. Li và S.A.Thompson, Cao Xuân
Hạo (1991, 2001) khẳng đònh dứt khoát rằng tiếng Việt không có thái bò động, do đó
không có câu bò động. Theo ông, tiếng Anh và các thứ tiếng Châu Âu khác là những
ngôn ngữ ''Thiên chủ ngữ'' (Subject-prominent Languages), thì tiếng Việt có đủ những
thuộc tính của một ngôn ngữ ''Thiên chủ đề'' (Topic-prominent Languages). Kết cấu bò
động là một trong những đặc trưng của các ngôn ngữ ''Thiên chủ ngữ'', còn trong các
ngôn ngữ ''Thiên chủ đề'', Thái bò động được coi là một hiện tượng ngoại biên - hạn hữu,
không mấy khi thấy có. Cao Xuân Hạo khẳng đònh:
Câu bò động là loại câu trong đó chủ ngữ không đảm đương vai người hành động,
người mang tính chất hay người có cảm xúc, mà là một vai nghóa khác, thường là vai
đối tượng của hành động, của tình cảm, hay là vai người nhận, trong khi các vai
thường do chủ ngữ đảm đương có thể được chỉ rõ ra một cách hiển ngôn hay không.
Nghóa bò động chính là nghóa của loại câu vừa nói trên.
Còn Nguyễn Thò Ảnh [1, tr. 36-47], dựa trên quan niệm của Ngữ pháp chức năng, và
tiếp thu quan điểm của Cao Xuân Hạo, cũng có kết luận tương tự. Khi chứng minh trong
tiếng Việt không có “thái bò động” hai tác giả nêu trên đã đề cập đến các vấn đề như
sau:
-
Thực ra, bất kỳ ngôn ngữ nào cũng có khả năng diễn tả ý nghóa bò động. Song,
với một ngôn ngữ ''Thiên chủ ngữ'', Thái bò động được ngữ pháp hóa thành một phạm
trù với một hình thức biểu đạt riêng có tính bắt buộc tuyệt đối, trong khi tiếng Việt,
1
Tiếng Việt là một ngôn ngữ thuộc loại hình đơn lập, phân tích tính, vò từ tiếng Việt không có các chỉ tố đánh dấu về ngôi,
thời, thức, dạng…, nên không tồn tại câu bò động như các ngôn ngữ biến hình (tiếng Anh, tiếng Pháp,v.v.). Để chuyển được
một câu từ dạng chủ động sang dạng bò động thì các ngôn ngữ biến hình phải dùng đến sự biến đổi hình thái của vò từ. Tiếng
Việt vốn là một
phổ thông [8, tr. 66-67], khi bàn về vò từ, hai tác giả đã nhận đònh: bò và được thường
được coi là "chỉ tố của thái bò động". Nhưng tiếng Việt không có "thái bò động", vì vai
nghóa của Đề không bò giới hạn như chủ ngữ trong các thứ tiếng Châu Âu. Hai vò từ này
đều giữ nguyên nghóa từ vựng, nên không thể xếp vào loại hư từ ("chỉ tố"). Bổ ngữ của
nó có thể là danh ngữ hay là vò ngữ. Khi bổ ngữ của bò hay được là vò ngữ, hai vò từ này
có thể được coi là một thứ vò từ tình thái, dù chủ thể của nó không trùng với chủ thể của
vò ngữ làm bổ ngữ trực tiếp cho nó.
2. Những tác giả ủng hộ quan niệm tiếng Việt không có dạng bò động và câu bò
động còn dựa trên quan niệm rằng các động từ bò và được là những động từ ngoại động
chính danh, nên không thể coi chúng là dấu hiệu ngữ pháp biểu hiện quan hệ bò động.
Nguyễn Kim Thản (1977) cho rằng động từ bò, được là những động từ độc lập đóng vai
trò chính trong bộ phận vò ngữ của câu chứ không phải là hư từ biểu thò dạng bò động của
động từ. Dạng chủ động và dạng bò động là phạm trù ngữ pháp của tiểu loại động từ
ngoại động. Động từ tiếng Việt không có phạm trù dạng theo khái niệm truyền thống. Ý
nghóa bò động của câu nói được biểu thò bằng hai cách.
a) Cách thứ nhất là đảo trật tự của động từ ngoại động và danh từ biểu thò đối
tượng chi phối của động từ ấy.
Ví dụ: Song những vết thương đang hàn gắn dần dần. (TDT, 58)
b) Cách biểu thò thứ hai của ý nghóa bò động là dùng những động từ chòu đựng may
rủi phải, chòu, mắc, bò và được đặt liền động từ ngoại động.
Ví dụ: Chồng vẫn bò đánh bò trói suốt đêm. (NTT, 95)
Cách biểu thò bằng phương tiện từ vựng này còn có sắc thái may rủi. Được biểu thò sự
may mắn cho chủ thể. Được có nghóa là ''tiếp nhận một cách may mắn'' ''có dòp tốt để làm
cái gì'', ''được phép (may mắn) làm cái gì'', ví dụ:
- Tôi sung sướng được lãnh cái trách nhiệm kết thúc lễ khai mạc. (HCT, II,78).
bò biểu thò sự rủi ro cho chủ thể. Có khi nó có nghóa là “không may mắn '', ví dụ:
- Tôi bò gãy chân.
Không thể coi đây là những từ tố biểu thò dạng bò động, bởi vì dạng bò động của động từ
chỉ có thể do động từ ngoại động được hình thức hóa tạo thành, khách thể phải chi phối
lại chủ thể và ta có thể giải biến câu theo dạng chủ động.
lâm thời trở thành những từ tình thái. Tình hình đối với các động từ khác trong nhóm này,
trên nguyên tắc cũng như vậy, điều đó khiến chúng trở thành những động từ tình thái-
ngữ pháp.
4. Thông qua việc so sánh ngữ nghóa, ngữ pháp của được, bò, phải trong tiếng Việt
với ban, t’rân trong tiếng Khmer, Vũ Đức Nghiệu [11, tr. 13-24] cũng có cách nhìn nhận
như sau:
- Ý nghóa bò động của các từ được, bò là do nghóa “tự nó” chứ không phải là ý nghóa
bò động do sự cấu tạo dạng bò động (passive voice) đem đến. Vì vậy, đó là những từ có ý
nghóa thụ động chứ không phải là những từ ở dạng bò động hay yếu tố tạo dạng bò động
cho động từ khác.
- Trong tiếng Việt, các cấu trúc cú pháp bò động có thể được tạo lập nhờ những từ
có ý nghóa thụ động hoặc với cấu trúc có từ mang nghóa thụ động.Và những từ này lại
hoàn toàn không phải là những từ được biến hình để thể hiện dạng bò động (được hiểu
với tư cách là một phạm trù ngữ pháp), cho nên có thể nói cách khác rằng: để thể hiện
cái ý nghóa tương đương với ý nghóa của dạng bò động trong các ngôn ngữ biến hình Châu
Âu, tiếng Việt (ngôn ngữ đơn lập, không biến hình) đã sử dụng các phương thức từ vựng
chứ không phải là những phương thức thuộc về ngữ pháp.
2.2. Quan điểm cho rằng tiếng Việt không có dạng bò động với tư cách là một phạm
trù ngữ pháp của động từ, nhưng vẫn có thể nói đến kết cấu câu bò động trong tiếng
Việt.
Ngược với quan niệm trên, một số nhà nghiên cứu khác lại cho rằng trong tiếng Việt
mặc dù không có phạm trù bò động với tư cách là một phạm trù hình thái học nhưng vẫn
có cấu trúc bò động hay câu bò động.
1. Nguyễn Phú Phong (1976) thừa nhận “bò động” như một phạm trù ngữ pháp tách
biệt trong tiếng Việt. Ông biện luận rằng có thể xác lập một cặp câu chủ động - bò động
tiếng Việt tương ứng về mặt chuyển dòch với cặp câu chủ động - bò động trong tiếng
Pháp, và chỉ rõ mối quan hệ hình thức giữa các thành phần của mỗi cặp câu trong những
thuật ngữ chung. Ông cũng cho được, bò, do là những trợ từ bò động.
2. Hoàng Trọng Phiến (1980) quan niệm “trong tiếng Việt phương thức đối lập bò
động và chủ động không phải bằng con đường ngữ pháp thuần tuý mà bằng con đường từ
4. Lê Xuân Thại (1989) cũng tán đồng một quan điểm tương tự, khi cho rằng tiếng
Việt mặc dù không có các câu bò động hoàn toàn giống như câu bò động trong các ngôn
ngữ Châu Âu nhưng cũng có loại câu có thể gọi là câu bò động với những đặc điểm sau:
-
Chủ ngữ của câu biểu thò đối tượng hành động chứ không phải là chủ thể hành
động.
-
Vò ngữ của câu bò động do tác động các động từ bò, được đảm nhiệm.
- Sau vò ngữ là một cụm chủ vò. Ví dụ:
Em học sinh này được cô giáo khen.
Thành phố Vinh bò máy bay giặc tàn phá.
Ngoài ra, tác giả cũng thừa nhận các câu bò động có những biến thể vắng bò, được, kiểu:
Bữa cơm đã dọn ra.
Ngôi nhà này xây bằng gạch. [5, tr. 8-18]
5. Hai tác giả Diệp Quang Ban và Nguyễn Thò Thuận (2000) cũng bênh vực cho sự
tồn tại của câu bò động trong tiếng Việt. Theo hai tác giả, dạng (thái) bò động trong tiếng
Việt không phải là dạng của động từ mà là dạng của một kiến trúc riêng với những đặc
trưng ngữ pháp và ngữ nghóa xác đònh. Các tác giả này lập luận rằng động từ trong tiếng
Việt không biến hình từ, trong lúc đó phạm trù dạng bò động, theo cách hiểu của các nhà
nghiên cứu ngôn ngữ Ấn- Âu, thì gắn liền với dạng thức biến hình của động từ trong các
ngôn ngữ có biến hình từ. Kết luận hiển nhiên là động từ tiếng Việt, nếu theo cách nhìn
hình thái học đó, thì không thể có dạng bò động. Tuy nhiên, hai tác giả này lưu ý rằng
việc xem xét dạng bò động như vậy mới chỉ là kết luận về hình thái của động từ, chứ
không phải nói về phạm trù ý nghóa của thái bò động và cách biểu hiện ngữ pháp tính của
nó trong tiếng Việt. Phạm trù dạng bò động của tiếng Việt, theo họ, vẫn có đủ tư cách
một phạm trù ngữ pháp với điều kiện “bắt buộc” của ngữ pháp là sự có mặt của ý nghóa
ngữ pháp phải được thể hiện (đánh dấu) bằng phương tiện hình thức theo lối ngữ pháp
nghóa là hoặc bằng phụ tố, hoặc bằng hư từ, trật tự từ hay các phương thức ngữ pháp
khác, và những phương thức ngữ pháp đó có thể được dùng tách riêng hoặc dùng phối
hợp với nhau. Theo đó, các tác giả đã xác đònh đặc điểm của kết cấu bò động tiếng Việt
trong câu không bò động tương ứng. Chẳng hạn, câu bò động (1) có câu không bò động
tương ứng, trong đó Giáp là yếu tố bắt buộc, như trong ví dụ sau đây:
(2) Thầy khen Giáp.
Theo cách hiểu vừa nêu, có thể kết luận rằng trong tiếng Việt có kiểu câu bò động đối
lập với kiểu câu không bò động, mặc dù không có sự phân biệt động từ ở dạng bò động và
động từ ở dạng chủ động.
6. Nguyễn Thò Việt Thanh (2002) cũng đồng quan niệm rằng tiếng Việt có tồn tại
câu bò động. Tác giả đã nêu một số nhận xét của mình về loại câu bò động của tiếng Nhật
và tiếng Việt [15, tr. 25-30]: “ …vấn đề câu bò động của tiếng Việt cho đến nay vẫn chưa
dành được sự quan tâm thích đáng từ phía các nhà ngôn ngữ. Người ta chỉ mới bàn đến
những câu bò động “điển hình”, còn rất nhiều trường hợp không điển hình thì chưa được
bàn tới. Do vậy, người sử dụng mới chỉ biết dùng các từ bò, được… một cách tự nhiên chứ
chưa có ý thức phân biệt khi nào thì các từ này biểu thò nghóa bò động, khi nào không”.
7. Thông qua cuốn sách giáo khoa Ngữ văn 7 - tập II (2003) ta thấy các tác giả đã
công nhận trong tiếng Việt có câu bò động nên từ đấy mới dành trọn hai tiết dạy cho nội
dung Chuyển đổi câu chủ động thành câu bò động. Nội dung bài giảng ở tiết thứ nhất được
trình bày như sau:
- Câu chủ động là câu có chủ ngữ chỉ người, vật thực hiện một hoạt động hướng vào
người, vật khác (chỉ chủ thể của hoạt động).
- Câu bò động là câu có chủ ngữ chỉ người, vật được hoạt động của người, vật khác
hướng vào (chỉ đối tượng của hoạt động).
- Mục đích của việc chuyển đổi câu chủ động thành câu bò động: Việc chuyển đổi
câu chủ động thành câu bò động (và ngược lại, chuyển đổi câu bò động thành câu chủ
động) ở mỗi đoạn văn đều nhằm liên kết các câu trong đoạn thành một mạch văn thống
nhất [37, tr. 57-58; 64-65].
Tiểu kết:
Nhìn chung, vấn đề phân biệt giữa ngữ pháp và từ vựng là chuyện rất quan
trọng, bây giờ nếu phân biệt câu chủ động với câu bò động, nghóa chủ động với nghóa bò
động thì thử xem những sự phân biệt ấy đã ngữ pháp hóa chưa? Ngữ pháp hóa là từ một
động trong tiếng Việt, được in trong sách và tạp chí chuyên ngành.
Nguồn ngữ liệu bao gồm các trích dẫn từ các tiểu thuyết, truyện ngắn, ký văn học
của các tác giả tên tuổi như:
Hoàng Ngọc Phách (Tố Tâm)
Hồ Biểu Chánh (Bóng người qua; Ngọn cỏ gió đùa)
Ngô Tất Tố (Tắt đèn)
Nam Cao (Chí Phèo; Sống mòn)
Hồ Chí Minh (văn Hồ Chủ Tòch)
Thạch Lam, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng (Văn chương Tự lực văn đoàn)
Nguyễn Minh Châu (Dấu chân người lính)
Ma Văn Kháng (Đám cưới không giá thú; Trăng non)
Nguyễn Khắc Tường (Mảnh đất lắm người nhiều ma)
Đồng thờiø thông qua tự điển tiếng Việt [43, tr. 7- 911], chúng tôi tập hợp danh sách tất cả
những từ làm bổ ngữ cho được và bò, đặc biệt là những câu thoại giao tiếp hàng ngày của
người Việt. Chính nguồn ngữ liệu này giúp chúng tôi có cái nhìn khách quan đối với đối
tượng cần khảo sát.
Tuy nhiên do thời gian và điều kiện có hạn nên chúng tôi không thể tham khảo được
tất cả các công trình viết về vấn đề này. Hy vọng trong thời gian tới, chúng tôi sẽ tìm
thêm được nhiều công trình nghiên cứu của những người đi trước để mở rộng tầm nhìn
của mình.
5.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Theo phương pháp phân loại của hai nhà ngữ học chức năng Charles Li và Sandra
A. Thompson (1976) thì các ngôn ngữ của nhân loại ra thành bốn loại hình khác nhau:
- Ngôn ngữ thiên chủ ngữ;
-
Ngôn ngữ thiên chủ đề;
- Ngôn ngữ thiên chủ đề và thiên chủ ngữ;
- Ngôn ngữ không thiên chủ đề và cũng không thiên chủ ngữ.
Trong ngôn ngữ học Việt Nam dường như có một thói quen đồng nhất tiếng Việt,
CHƯƠNG 2: NHỮNG “CHỈ TỐ” CỦA “CÂU BỊ ĐỘNG” VÀ “NGHĨA BỊ ĐỘNG”
Gồm 33 trang, từ trang 54 đến trang 86
CHƯƠNG 3: NHỮNG CÁCH KHÁC ĐỂ DIỄN ĐẠT “NGHĨA BỊ ĐỘNG” TRONG
TIẾNG VIỆT
Gồm 14 trang, từ trang 87 đến trang 100
Cuối cùng là tài liệu tham khảo và ngữ liệu trích dẫn với 47 danh mục và phụ lục:
Phụ lục I: Những nhận xét về nội dung bài giảng Chuyển đổi câu chủ động thành câu bò
động (Ngữ văn 7 tập II)
Phụ lục II: Thống kê danh sách các vò từ có “nghóa chủ động”(NCĐ) và “nghóa bò động”
(NBĐ) khi đặt sau bò và được
-oOo-
Chương 1
NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ THUYẾT
1.1 Chủ đề và Chủ ngữ
Trong mấy năm gần đây, “Chủ đề” (topic hay theme), “Chủ ngữ”, “Tính thiên chủ
đề” và “Tính thiên chủ ngữ” đã trở thành những khái niệm trung tâm trong các cuộc thảo
luận về loại hình học ngôn ngữ. Có hai vấn đề được bàn bạc trong những cuộc thảo luận
này. Vấn đề thứ nhất có tính chất khái niệm; vấn đề thứ hai có tính chất kinh nghiệm.
Trước tiên, ta có thể hỏi xem làm thế nào để phân biệt hai khái niệm “Chủ đề” và “Chủ
ngữ” để có thể cho ta một cách phân loại hữu hiệu đến tối đa. Thứ đến, ta có thể hỏi xem
hai phạm trù này được phân bố như thế nào trong các ngôn ngữ của nhân loại, và những
thuộc tính ngữ pháp nào có xu thế làm cho bên này trội hơn bên kia. Hai vấn đề này lệ
thuộc vào nhau, nhưng khu biệt với nhau. Vấn đề thứ nhất, liên đới tới việc hiển ngôn
hoá một cách chuẩn mực các thuật ngữ phổ quát; vấn đề thứ hai, liên đới tới việc trắc
nghiệm những giả thiết có tính kinh nghiệm về những xu thế phổ quát và những cách cắt
nghóa các giả thiết ấy.
Charles N. Li và S.A. Thompson (1976) đề nghò một cách phân loại hình ngôn ngữ
(b) Kết cấu bò động không thấy có, hoặc chỉ có trong những trường hợp hãn hữu, có
tính chất ngoại biên.
(c) Không có chủ ngữ “bù nhìn” hay chủ ngữ “zero” (There are no “dummy” or
“empty” subjects).
(d)
Có loại kết cấu “Chủ ngữõ kép” (“double subject”) (hay nói theo một cách phân
tích khác, loại kết cấu “Chủ đề+ Chủ ngữ” hay “Chủ đề kép hai bậc”) vốn không
thấy có trong các ngôn ngữ “Thiên chủ ngữ”.
(e) Chủ đề, chứ không phải chủ ngữ, giữ quyền kiểm đònh việc tỉnh lược các thành tố
đồng sở chỉ.
(f) Các ngôn ngữ “Thiên chủ đề” có xu hướng đặt thông tin mới ở cuối câu.
(g)
Không có sự gò bó nào gây trở ngại cho việc lấy thành tố này hay thành tố khác
của câu làm chủ đề.
(h) Các câu có cấu trúc [Đề+ Thuyết] là kiểu câu cơ bản, nghóa là không thể phân tích
như được phái sinh ra từ bất cứ kiểu câu nào khác.
Cũng trong [25, tr. 305-333], Edward L.Keenan cố tìm ra một cách đònh nghóa phổ
quát cho “Chủ ngữ” căn cứ vào việc nghiên cứu một số ngôn ngữ đa dạng. Kết quả của
việc nghiên cứu này là một danh sách khá dài gồm những “thuộc tính của chủ ngữ”. Cần
nêu rõ rằng có một số thuộc tính trong danh sách này trùng với những thuộc tính mà Li
và Thompson tìm thấy trong chủ đề, và do đó không thể dùng để phân biệt hai phạm trù
được. Danh sách của E. Keenan quá dài để có thể sao lại đầy đủ; sau đây tác giả luận
văn chỉ chọn nêu một số thuộc tính cần thiết. Theo Keenan xác đònh, một chủ ngữ tiêu
biểu (basic) có những thuộc tính sau:
3)
(a) Chỉ một thực thể tồn tại độc lập với cái quá trình (sự tình, biến cố v.v.) do vò ngữ
biểu thò;
(b)
Thường không thể thiếu vắng trong cấu trúc cú pháp;
(c) Bao giờ cũng nằm trong số những thành phần câu có quyền kiểm đònh đồng sở chỉ,
mà ta cần chính là những đònh nghóa, những tập hợp thuộc tính cần và đủ để bảo đảm
rằng chủ ngữ và chủ đề là những khái niệm có thể nhận diện được một cách không mơ
hồ (không có những điểm lưỡng khả) trong các ngôn ngữ khác nhau, và hai thuật ngữ
“Chủ đề” và “Chủ ngữ” sẽ không thay đổi nghóa khi được đem ứng dụng cho những ngôn
ngữ khác nhau.
Trong các thuộc tính của chủ đề và chủ ngữ được Li, Thompson và Keenan kê ra
trong danh sách của họ, rõ ràng là có nhiều thuộc tính nên coi là những giả thiết có tính
kinh nghiệm về chủ đề và chủ ngữ thì tự nhiên hơn là coi đó như những tiêu chuẩn để
nhận diện hai thành phần này. Trong số đó, đáng chú ý đặc biệt là những thuộc tính mà
các tác giả này cho là “thường thường” thấy có ở chủ đề hay chủ ngữ. Quả tình hai chữ
“thường thường” này không nhất thiết là làm giảm giá trò tiêu chuẩn của các thuộc tính
hữu quan vì ở đây có bao hàm một sự mơ hồ tùy theo cái bình diện mà các các tác giả ấy
có ý đònh nói đến khi dùng các trạng ngữ kia. Nói rằng chủ ngữ “thường là” cái danh ngữ
đặt ngoài cùng ở bên trái câu chẳng hạn, có thể có nghóa là “tình hình thường thường là
như thế trong tất cả các thứ tiếng có chủ ngữ, mà cũng có thể có nghóa là đa số các thứ
tiếng có chủ ngữ đều có thuộc tính này”. Hiểu theo cách thứ nhất, thì đây có thể là một
thuộc tính đònh nghóa, tuy chẳng phải là một thuộc tính đònh nghóa thỏa đáng lắm, vì nó là
một thuộc tính thuộc về cách mã hoá, và vì vậy phải linh động cho phép có sự dò biệt ít
nhiều giữa các ngôn ngữ – mức độ linh động đến mức nào vẫn còn là một vấn đề có tính
kinh nghiệm. Nhìn chung, những thuộc tính thuộc về phương thức mãõ hoá như vò trí, sự
phù ứng, cách đánh dấu “cách”, v.v., tốt hơn cả là nên gạt ra ngoài những đònh nghóa
khái quát. Các đònh nghóa có thể tự giới hạn trong việc nêu lên một cách mã hoá (võ
đoán) trên bề mặt nào đó của những thuộc tính toát ra từ việc hiển ngôn hoá cái chức
năng, hay cái nội dung, của “Chủ đề” hay “Chủ ngữ”.
Sau những điều nhận xét sơ bộ trên đây, ta đã có thể bắt tay vào việc xác đònh một
tập hợp những thuộc tính như vậy.
1.1.1 Chủ đề
Ta thường thấy nói rằng chủ đề là thành phần nêu rõ câu đang xét “nói về cái gì, về
đề tài nào”. Một cách lập thức hữu ích hơn là cách của Chafe: “Nhiệm vụ của chủ đề là
giới hạn khảø năng ứng dụng của kết cấu vò ngữ chính (tức phần Thuyết) vào một lónh vực
trong đó khó lòng có thể cho rằng “người nói giả đònh là người nghe không biết gì về cha
mình”, mặc dầu ngữ đoạn đang xét có chứa đựng một thông tin mới. Chafe gợi ý rằng
vấn đề “thông tin mới” hay “thông tin cũ” là ở chỗ tri thức của người nghe có được
“đánh thức trở dậy” (hay “tái huy động”) trong cuộc giao tiếp hay không (“mới được
đánh thức trở dậy” có thể đi đôi với “biết sẵn từ trước”). Điều này không được minh xác
cho lắm, vì ở đây ta không rõ “mới được đánh thức trở dậy” cần được hiểu như thế nào.
Nói gọn lại, khi nói đến “thông tin đã biết sẵn”, ta cần phân biệt hai ý nghóa quen
thuộc khác nhau của “biết”:
“biết
1
”= tiếng Đức wissen, tiếng Na-uy vite, (gần với biết của tiếng Việt) và
“biết
2
”= tiếng Đức kennen, tiếng Na-uy kjenne.(gần với quen của tiếng Việt)
“Thông tin cũ” liên quan đến “tri thức mệnh đề’, tức là “biết
1
”. Chẳng hạn người
hỏi câu “Con chó làm gì” biết
1
rằng con chó có tham gia vào hành động cần được nói rõ
là hành động gì trong câu trả lời, và do đó đối với người hỏi đây là thông tin cũ. Trái lại
trong câu “Hôm qua tôi gặp bố cậu”, thì không phải là “cậu” biết
1
bố cậu , mà là cậu
biết
2
bố cậu.
Để sơ kết lại, có thể nói rằng ta đã phân biệt được ba thứ “tính cho sẵn” khác nhau:
(a) “Tính cho sẵn sở chỉ”, trong đó có tiền giả đònh rằng vật sở chỉ là duy nhất.
(b) “Tính cho sẵn về nội dung”, như trong hai trường hợp (1) và (2) khi nội dung hay
Trong những cách biểu hiện tính toán vò ngữ tiêu chuẩn dùng cho câu (3) (the
standard predicate calculus representations of (3)), sự khu biệt quan yếu sẽ là một sự
khác nhau về tầm tác động của lượng từ. Ta có thể dùng khái niệm “tầm tác động” để
khái quát hóa thuộc tính “thế ưu tiên về sở chỉ” ra ngoài sở chỉ hiểu theo nghóa hẹp một
chút. Không phải chỉ có các lượng từ, mà cả các tác tử cú pháp cũng có thể có những tầm