Tiểu luận: Vai trò và xu hướng vận động của đồng USD và CNY (nhân dân tệ) trên thị trường quốc tế - Pdf 14


Tiểu luận Vai trò và xu hướng vận động của đồng USD và
CNY (nhân dân tệ) trên thị trường quốc tế Đặc điểm của đồng USD và CNY
I - Đồng USD
1. Lịch sử ra đời
- Việc phát hành tiền được quản lý bởi các hệ thống ngân hàng của Cục Dự trữ Liên
bang (Federal Reserve). Ký hiệu phổ biến nhất cho đơn vị này là dấu $
- Tiền kim loại được đúc bởi Sở đúc tiền Hoa Kỳ (United States M int). Tiền giấy được in
bởi Cục Khắc và In (Bureau of Engraving and Printing) cho Cục Dự trữ Liên bang từ năm
1914
- Hiện nay tờ tiền mệnh giá lớn nhất đc lưu hànhlà 100 $. Hầu hết mọi người đều nghĩ rằng
tờ 100 Đôla là tờ tiền Đôla có mệnh giá lớn nhất. Tuy nhiên, trong quá khứ đã từng có
những tờ tiền có mệnh giá lớn hơn rất nhiều. Vào thập kỷ 60 của thế kỷ XIX, các tờ $500,
$1.000, và $5.000 có giá trị sinh lời được phát hành, và tờ chứng nhận $10.000 vàng ra
đời năm 1865.
- Trước CT TG thứ 1: Các nước sử dụng chế độ bản vị vàng

trạng tỷ lệ thất nghiệp cao, tỷ lệ tiêu dùng thấp, đầu tư kém phát triển là do thiếu nhu cầu vay
vốn, kênh tín dụng bị tắc nghẽn. Do đó vấn đề của kinh tế Mỹ hiện nay không phải là thiếu
thanh khoản, mà là vấn đề các doanh nghiệp, cá nhân không có nhu cầu vay vốn, ngân hàng
cũng không có khả năng cho vay nhiều. Có thể thấy rằng hiện nay chìa khóa để thúc đẩy kinh
tế Mỹ phát triển không phải tiền tệ mà là tín dụng. Trong tình hình thiếu lạc quan về tín dụng
trong nước, các ngân hàng Mỹ không thể để tiền nằm chết trên tài khoản, tiền sẽ chảy vào các
nền kinh tế mới phát triển, các thị trường hàng hóa quốc tế lớn để đầu tư sinh lời.
- Mục đích của Mỹ khi thực hiện chương trình nới lỏng định lượng tuy không nói ra song có
thể là muốn chuyển bớt những khó khăn do khủng hoảng tiền tệ cho các nước, đây được coi
là một loại thuế Mỹ áp đặt cho các nước. Đồng USD là đồng tiền dự trữ quốc tế, đồng tiền
thanh toán quốc tế cả thế giới đều sử dụng, trên thực tế FED đã trở thành ngân hàng trung
ương của cả thế giới, các cỗ máy in tiền của Mỹ hoạt động hết công suất, làm cho đồng USD
liên tục bị mất giá, giá vàng quốc tế đạt mức cao kỷ lục. Trong khi Mỹ vẫn ung dung với
chương trình nới lỏng định lượng, chấp nhận bội chi ngân sách ở mức cao, thâm hụt thượng
mại lớn và để mặc cho đồng USD mất giá thì ngược lại các nước mới phát triển đang phải
chống đỡ vất vả với các bong bóng tài sản, với lạm phát tăng lên hàng ngày
- Mỹ tiếp tục sử dụng chính sách đồng USD yếu, lâu nay được coi là đồng tiền định giá trên
thị trường hàng hóa quốc tế, sẽ càng làm giá cả hàng hóa tăng mạnh

3. Dự trữ của các nước đối với đồng USD
- Trong năm 1995, trên 380 tỷ đô la đã được lưu hành, trong đó hai phần ba ở ngoài nước. Đến
tháng 4 năm 2004, gần 700 tỷ đô la đã được lưu hành [1], trong đó hai phần ba vẫn còn ở
nước ngoài [2].
- Nước Mỹ là một trong một số quốc gia dùng đơn vị tiền tệ gọi là đô la. Một vài quốc gia
dùng đô la Mỹ làm đơn vị tiền tệ chính thức, và nhiều quốc gia khác cho phép dùng nó trong
thực tế (nhưng không chính thức
- Đến cuối tháng 3/2011, dự trữ ngoại hối của Trung Quốc đã lên đến 3.044,7 tỷ USD, tăng
24,4% so với cùng kỳ năm ngoái và chiếm hơn một phần ba trong tổng 9.000 tỷ USD dự trữ
ngoại hối của thế giới. Con số này cũng lớn gấp hai lần so với tổng số ngoại hối dự trữ của
các nước châu Âu, Nhật, Anh, Mỹ.

đang phát triển hơn là các nước phát triển như Mỹ, bởi vì Trung Quốc cạnh tranh nhiều hơn
và trực tiếp hơn với các nước đang phát triển trong hoạt động xuất khẩu, nhất là xuất khẩu
sang thị trường Mỹ.
- Báo cáo nhận định, chính sách tỷ giá của Trung Quốc có thể nhằm mục đích cạnh tranh quyết
liệt với các nước xuất khẩu đang phát triển khác, chứ không chỉ đơn thuần để làm cho hàng
Trung Quốc có giá hấp dẫn hơn khi được nhập vào Mỹ hay hàng Mỹ đắt hơn khi được nhập
vào Trung Quốc.
- Theo số liệu mà nghiên cứu đưa ra, cứ mỗi 10% tăng thêm trong tỷ giá đồng Nhân dân tệ so
với USD, thì kim ngạch xuất khẩu một mặt hàng điển hình của các nước đang phát triển khác
vào Mỹ sẽ tăng trung bình 1,5-2%. Trong một số trường hợp, mức gia tăng kim ngạch cho
các nước đang phát triển có thể lên tới 6% cho mỗi 10% tăng thêm trong tỷ giá Nhân dân tệ
so với USD.
- Logic được rút ra từ nghiên cứu này là: Nếu Trung Quốc giữ tỷ giá đồng Nhân dân tệ thấp
hơn giá trị thực so với USD, thì hàng hóa của Trung Quốc xuất vào Mỹ sẽ có giá cạnh tranh
hơn so với giá hàng hóa đến từ các quốc gia khác cùng xuất vào Mỹ.
3. Dự trữ của các nước
Với cuộc khủng hoảng tài chính thế giới cùng với sự đi lên của Trung Quốc cũng như các
thị trường mới nổi khác và mối đe dọa hiện hữu đối với đồng euro, các nhà hoạch định chính
sách ở phương Tây đang đặt câu hỏi về việc thiết lập một trật tự tiền tệ.
Tuy nhiên, cho tới bây giờ, vẫn chưa có đồng tiền nào có thể thay thế vị trí của đồng
USD. Đồng thời, thời gian thực hiện chuyển đổi và mức độ ảnh hưởng lên các ngoại tệ khác
cũng là điều rất khó dự đoán.
Hơn nữa, trong khi Bắc Kinh cho rằng đồng nhân dân tệ được sử dụng rộng rãi bên ngoài
Trung Quốc là 1 cơ hội tốt, các nước khác cho rằng đi kèm với đó là rất nhiều rủi ro và rủi ro
ấy không chỉ bó hẹp trong phạm vi Trung Quốc.
Để nhân dân tệ trở thành đồng tiền dự trữ, 1 trong những điều kiện tiên quyết là Trung
Quốc phải nới lỏng kiểm soát vốn để người nước ngoài có thể tái đầu tư số lượng nhân dân tệ
mà họ đã tích lũy. Tuy nhiên, việc cho phép dòng tiền lưu thông tự do theo định hướng thị
trường để điều chỉnh giá và lãi suất sẽ gây ra nhiều bất ổn.
Trước tiên, đồng nhân dân tệ sẽ là đồng tiền phổ biến ở Đông Á trong lĩnh vực kinh tế và

Hong Kong.
Các công ty Trung Quốc, cũng như các công ty nước ngoài thực hiện giao dịch với Trung
Quốc thích sử dụng nhân dân tệ bởi việc sử dụng đồng tiền này sẽ giảm rủi ro nếu USD biến
động. Nếu các nhà xuất khẩu của Trung Quốc có thể thanh toán bằng nhân dân tệ thay vì
USD, họ sẽ không phải lo lắng tình trạng USD giảm giá mạnh so với nhân dân tệ làm ảnh
hưởng đến thu nhập trong tương lai.
Năm 2004, Trung Quỗc bắt đầu cho phép chuyển NDT sang Hồng Kông thông qua khoản
trợ cấp 20.000 NDT cho người dân trong khu vực, đưa tổng tài sản tính bằng NDT tại Hồng
Kông lên 80 tỉ NDT. Từ tháng 7/2009, Trung Quốc tiếp tục cho phép các công ty trong nước
sử dụng NDT để thanh toán các giao dịch thương mại quốc tế và từ đầu năm nay cho phép
các công ty đưa NDT ra đầu tư ở nước ngoài. Tháng 12/2010, Ngân hàng Thế giới đã thực
hiện đợt phát hành trái phiếu đầu tiên bằng NDT với mức vốn huy động gần 76 triệu USD
(500 triệu NDT) với lãi suất 0,95% và đáo hạn vào ngày 14/1/2013. Từ năm 2009, Trung
Quốc bắt đầu thiết lập hàng loạt cơ sở trao đổi tiền tệ song phương với một số đối tác thương
mại như Argentina, Belasus, CHLB Nga, Hồng Kông, Hàn Quốc, Ireland, Indonesia,
Malaysia, Singapore. Tính đến cuối năm 2010, tổng giá trị của các cơ sở trao đổi tiền tệ này
đạt khoảng 800 tỉ NDT (121 tỉ USD).
Nỗ lực liên tục của Trung Quốc gây nên những tranh luận gay gắt về tương lai của USD,
sự tuột dốc của USD dẫn đến lãi suất tăng ở Mỹ và đến thời điểm nào đó sẽ xảy ra một cuộc
khủng hoảng tài chính lớn, khi đó NDT có thể sẽ thay thế USD. Tuy nhiên, cơ hội đó còn xa
vời, mặc dù kinh tế Mỹ hiện nay chỉ còn chiếm ¼ GDP toàn cầu. Đồng tiền dự trữ phải có uy
tín rất lớn và phải mất một thời gian rất dài mới có thể đạt được điều kiện này và một khi đã
đạt được thì rất khó mất đi. Trong đó, yêu cầu quan trọng nhất của một đồng tiền dự trữ là độ
tin cậy về giá trị, tính thanh khoản trên các thị trường vốn quốc tế và tương đối ổn định. USD
có những điều kiện này mà nhiều đồng tiền khác không thể có được, euro là đồng tiền dự trữ
thứ hai và có lúc chiếm 31% dự trữ ngoại hối của các nước nhưng hiện đã giảm xuống còn
khoảng 25% do nghi ngờ về tương lai của nó khi khủng hoảng nợ công đang tấn công khu
vực kinh tế này. Đồng bảng Anh là dự trữ hàng đầu thế giới trong suốt thế kỷ 18 và 19, nhưng
bị USD đẩy lùi và hiện nay chỉ chiếm gần 5% dự trữ quốc tế. Từ những năm 1980, Nhật Bản
trở thành nền kinh tế thứ hai thế giới và yên nhật cạnh tranh gay gắt với USD, nhưng cũng

1.2 Vai trò đồng USD trong thanh toán quốc tế:
- Đồng USD vẫn duy trì vị thế độc tôn trong giao dich thương mại quốc tế.
Báo cáo của Mỹ, Anh, Canada và Singapore cho thấy đồng đô la Mỹ vẫn chiếm tỷ trọng rất lớn
trong các giao dịch ngoại hối. Nhìn vào thị trường ngoại hối lớn nhất thế giới, và thị trường ngoại
hối Singapore - một thị trường ngoại hối lớn ở khu vực Đông Nam Á, điều dễ nhận thấy là đồng
đô la Mỹ liên quan đến hơn 70% số giao dịch giao ngay được thực hiện. Đương nhiên, các giao
dịch giao ngay này không chỉ có giao dịch thương mại, mà còn có các giao dịch về đầu tư, đầu
cơ, hỗ trợ thanh khoản - Đồng đô la còn được dùng làm đơn vị tiêu chuẩn trong các thị trường quốc tế cho các mặt hàng
như vàng và dầu thô (giá trị USD được đảm bảo bằng dự trữ vàng của Mỹ)
1.3 Đồng tiền USD là đồng tiền cơ sở xác định tỷ giá của nhiều nước.

- Đồng USD là đồng tiền được sử dụng rộng rãi trong dự trữ ngoại hối và thanh toán quốc tế,
hiện nay chưa có đồng tiền nào trên thế giới có thể thay thế vai trò của nó. Dưới đây là một số lý
giải tại sao đồng USD duy trì được vị trí độc tôn trong thương mại quốc tế như vậy.
1. Nước Mỹ là một thị trường tiêu dùng lớn của thế giới: Trong thương mại quốc tế thì thị trường
Mỹ là một thị trường tiêu dùng chiếm tỷ trọng lớn trên thế giới kể cả tiêu dùng trực tiếp lẫn trung
chuyển. Do vậy, khi thực hiện việc trao đổi thương mại đương nhiên người Mỹ yêu cầu phải
dùng đồng tiền của họ trong thanh toán quốc tế.
2. Nước Mỹ có nền kinh tế mạnh và có uy tín: Đồng USD được lưu hành rộng rãi được đảm bảo
bằng uy tín của một cường quốc kinh tế mạnh nhất thế giới. Nếu xảy ra những cú sốc gây ra hiện
tượng bán tháo đồng tiền USD trên thế giới thì nước Mỹ vẫn hoàn toàn có thể chịu đựng được vì
họ là nền kinh tế mạnh (dự trữ vàng lớn nhất chiêm gần ¾ TG).
- Thử tượng tượng cuộc khủng hoảng tài chính tại châu Á khi đồng bạt Thái bị giới đầu cơ bán
mạnh thì chính phủ các nước này đã điêu đứng và tạo ra những phản ứng dây chuyền tới một loạt
các quốc gia châu Á khác, mặc dù đồng tiền của các nước này vẫn chỉ sử dụng nhỏ ở quy mô nội
địa nhưng cho phép tự do tài khoản vốn, tự do tiền tệ.
- Trong giao dịch thương mại giữa các quốc gia khác nhau không phải là Mỹ thì các nước vẫn

1.2 Đối với các nước ngoài thị trường mới nổi:
Đồng USD yếu sẽ ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến khả năng phụ hồi của nền kinh tế thế
giới, ảnh hưởng không chỉ đến các nước phát triển mà cả các nước đang phát triển - do các nước
đang phát triển đều là nước xuất khẩu.
Đặc biệt nếu USD yếu, khả năng phụ hồi kinh tế của châu Âu sẽ gặp rất nhiều khó khăn.
Vì vậy, ngân hàng trung ương các nước đều thống nhất là tìm cách phụ hồi dần giá trị của USD.
Những ngày gần đây USD đã bắt đầu có dấu hiệu phục hồi so với các đồng tiền chủ chốt khác.

2 .Vai trò của CNY
- Đồng NDT
Trước năm 2009 đồng CNY chỉ được sử dụng trong một số giao dịch tiền mặt dọc biên
giới TQ, việc giao dịch quốc tế bằng đồng CNY cũng đã được thực hiện giữa các công ty Trung
Quốc và chi nhánh ở nước ngoài
Cách đây không lâu, việc sử dụng đồng nhân dân tệ trên thế giới chỉ giới hạn ở một số
giao dịch tiền mặt dọc theo biên giới Trung Quốc. Mongolia, Pakistan và Lào là những nước
chấp nhận những đồng giấy bạc nhăn nheo có in hình Mao Trạch Đông từ các khách du lịch
Trung Quốc.
Tuy nhiên, Từ tháng 7/2009 trở lại đây, đồng nhân dân tệ đã bắt đầu trở nên phổ biến, sự
nổi lên của đồng nhân dân tệ với tư cách là đồng tiền mới của thế giới đang tạo nên một sự thay
đổi lớn trong hệ thống tài chính toàn cầu và dần tiến tới vị trí đồng tiền quốc tế
Sự tăng lên của các tập đoàn đa quốc gia chính là thử nghiệm cho việc sử dụng đồng
CNY trong thanh toán quốc tế
Tháng 7/2009, Trung Quốc bắt đầu cho phép các công ty Trung Quốc sử dụng đồng nhân dân tệ
trong các hóa đơn xuất nhập khẩu thay vì đồng USD trước đó. Sự thay đổi diễn ra nhanh chóng
kể từ đó. Sự tăng trưởng theo cấp số nhân của đồng nhân dân tệ thực sự khiến nhiều nhà quan sát
choáng váng. Chỉ trong vòng 3 năm, bất chấp những cơn "gió ngược" toàn cầu, sức mạnh của
đồng nhân dân tệ tiếp tục tăng trưởng với tốc độ chóng mặt. Thương mại bằng đồng nhân dân tệ
trong năm 2012 đã lên tới 425 tỷ USD, tăng gần 30% so với 2011.
Trung Quốc vừa bước một bước tiến mới trong việc gia tăng vai trò toàn cầu của đồng
Nhân dân tệ, bằng cách cho phép các công ty trong nước đem đồng tiền này ra nước ngoài để

đồng USD.
Ngày 26-5-2009, Trung Quốc và Braxin ký hiệp định thanh toán thương mại song phương bằng
đồng NDT và đồng real. Tháng 6-2012, Brazil và Trung Quốc đã ký thỏa thuận sơ bộ về việc
hoán đổi đồng nội tệ
Ngày 2-5-2010, Trung Quốc và Nga đã đạt thỏa thuận trao đổi thương mại bằng đồng NDT và
rup.
2.3 Đối với các nước ngoài thị trường mới nổi.
Người ta nhận định nhân dân tệ sẽ trở thành đồng tiền chính trong thương mại giữa Trung
Quốc và các nước châu Á trong những năm tới trước khi vươn rộng ra thế giới. Trong nỗ lực
giảm dần sự lệ thuộc vào đồng USD, các nước châu Á không có lựa chọn nào khác ngoài đồng
nhân dân tệ.
Nhân dân tệ hiện là đồng tiền thanh toán tăng trưởng nhanh nhất trên thế giới. Có khoảng
hơn 1.000 định chế tài chính ở 90 nước trên thế giới giao dịch đồng nhân dân tệ đáp ứng nhu cầu
của khách hàng cá nhân cũng như doanh nghiệp. Khách hàng yêu cầu điều này bởi họ có thể tiết
kiệm thời gian và tiền bạc khi kinh doanh ở Trung Quốc đại lục.
Không chỉ đối với giao dịch thương mại, các công ty toàn cầu cũng bắt đầu tích trữ nhân
dân tệ: Tuy nhiên, khối lượng nhân dân tệ ở các trung tâm như Hồng Kông, London và Singapore
vẫn bị hạn chế bởi Trung Quốc vẫn kiểm soát chặt chẽ dòng dịch chuyển của nhân dân tệ giữa
Trung Quốc với các nước còn lại trên thế giới. Người nước ngoài chỉ được phép đầu tư vào
Trung Quốc nếu được cấp quota đặc biệt hoặc được sự đồng ý của các cơ quan chức năng.
Để trở thành đồng tiền quốc tế thực sự, Trung Quốc cần phải tự do hóa cán cân vốn nhiều
hơn nữa. Theo Dariusz Kowalczyk, chiến lược gia tại Credit Agricole, rất nhiều ngân hàng trung
ương coi nhân dân tệ là đồng tiền dự trữ cho biết họ không thể làm được việc này chỉ đến khi cán
cân vốn của Trung Quốc được tự do hoàn toàn.
3. So sánh vai trò giữa USD v à CNY tại thời điểm hiện tại.
Hiện tại rõ ràng đồng đôla vẫn là đồng tiền hàng đầu trong hầu hết mọi lĩnh vực". Nhìn
chung, đồng đôla tiếp tục duy trì vai trò chính trong các giao dịch ngoại hối, thương mại, và thị
trường ngân hàng quốc tế
Còn với đồng nhân dân tệ, thì ngay cả những người ủng hộ Trung Quốc nhất cũng thừa
nhận rằng phải nhiều năm nữa nền kinh tế Trung Quốc mới có được những thuộc tính cần thiết

ỷ trọng dự trữ USD

72%

66,3%

62,8%

60,5%

61,2%

62,2%

1.1.Sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai
Các quốc gia đã cố gắng phục hồi lại hệ thống bản vị vàng, nhưng nó đã sụp đổ hoàn toàn trong
cuộc Đại khủng hoảng của những năm 1930. Sự sụp đổ này đã là cho quan hệ tài chính - tiền tệ
quốc tế trở nên rối ren, dẫn đến sự hình thành các liên minh tiền tệ do một số nước tư bản đầu sỏ
cầm đầu. Khu vực đồng đô la do Mỹ cầm đầu tồn tại bên cạnh các “đối thủ không hơn kém” là
khu vực đồng Bảng Anh và khu vực đồng Phơ-răng Pháp. Nhưng sau Đại chiến thế giới lần thứ
II, Mỹ trở thành một cường quốc mạnh nhất thế giới về ngoại thương, về tín dụng quốc tế và là
nước có dự trữ vàng lớn nhất thế giới (chiếm khoảng ¾ tổng dự trữ vàng của toàn bộ thế giới tư
bản). Đây chính là những yếu tố tạo nên thế mạnh cho đồng đô la Mỹ trên trường quốc tế, đưa
đồng tiền này “lên ngôi” đồng tiền chủ chốt của thế giới.
Tháng 7 năm 1944, Hoa Kỳ đã đứng ra triệu tập Hội nghị tiền tệ - tài chính quốc tế tại thành phố
Bretton-woods với sự tham gia của 44 nước để thoả thuận về việc thiết lập các quan hệ tài chính
tiền tệ quốc tế mới cho thời kỳ sau chiến tranh thế giới lần II. Được gọi là chế độ tiền tệ Bretton-
woods. Nội dung chủ yếu của chế độ tiền tệ Bretton-woods:
- Thừa nhận USD là đồng tiền chuẩn, làm trụ cột cho chế độ tiền tệ này. Nó được coi là phương
tiện dự trữ và thanh toán quốc tế, đóng vai trò chủ chốt trong các quan hệ tiền tệ, thanh toán và

USD lại trở về vị trí đồng tiền quốc gia. Nhưng do tiềm lực kinh tế của Mỹ rất lớn, cho nên USD
vẫn còn là một đồng tiền mạnh, đồng thời nó vẫn chiếm 1 tỷ trọng đáng kể trong quỹ dự trữ ngoại
hối quốc gia của các nước.
1.3.Giai đoạn 1980 – 1985
Trong khoảng thời gian từ tháng 1 năm 1980 đến tháng 3 năm 1985 đồng USD không ngừng tăng
giá, tỷ giá danh nghĩa của USD tăng gần 50% và tỷ giá thực cũng tăng với một tỷ lệ tương tự.
Một trong những nguyên nhân chính khiến cho đồng USD lên giá mạnh là vì Chính phủ Mỹ áp
dụng chính sách thắt chặt tiền tệ nhưng nới lỏng chính sách tài khoá dẫn đến thâm hụt ngân sách
(từ 16 tỷ $ năm 1979 lên 204 tỷ $ năm 1986). Tuy nhiên việc USD liên tục lên giá làm phát sinh
nhiều mối quan tâm lớn đó là ảnh hưởng lớn đến xuất khẩu và gây thâm hụt cán cân vãng lai.
1.4.Sau sự kiện khủng bố 11/09 và cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu cho đến nay
Sau sự kiện khủng bố tại Mỹ và sự ra đời chính thức của đồng Euro, đồng USD liên tục mất giá
so với các các ngoại tệ khác và vàng (trong 05 năm qua, đồng USD đã mất giá 25%). Đồng euro
ngày càng được các công ty cũng như các chính phủ từ Trung Quốc đến Trung Đông chấp nhận
nhiều hơn như một ngoại tệ dự trữ . Đồng đô la Mỹ có lúc trồi sụt, gây thiệt hại kinh tế, mất an
toàn cho nền tài chính tiền tệ các nước và nhiều nước chủ trương thay thế vị trí độc tôn của USD
bằng euro. Theo Quỹ Tiền tệ thế giới (IMF), dự trữ ngoại tệ toàn cầu trong quí 1 -2006 xấp xỉ
4,34 ngàn tỷ USD. Trong số đó, đồng USD chiếm 66,3% và đồng euro 24,8%. Kinh tế toàn cầu,
vốn đang bị tác động bởi cuộc khủng hoảng thị trường tài chính và sự suy giảm kinh tế của Mỹ,
hiện đang đứng trước mối nguy hiểm, với đồng USD giảm giá và vượt khỏi tầm kiểm soát. Thêm
vào đó là mối lo sợ các ngân hàng trung ương đột ngột tung nguồn dự trữ USD không lồ của họ
ra để mua các phương tiện dự trữ khác thay thế và các nước Trung Đông có thể từ bỏ chế độ tỷ
giá gắn kết với USD.
Sự kiện 11/9/2001 và cuộc chiến chống khủng bố đã tác động xấu đến cán cân thanh toán của
Mỹ, mà đỉnh cao là đổ vỡ tín dụng tại Mỹ và dẫn đến khủng hoảng tài chính toàn cầu. Chính sự
mất cân đối ngân sách kỷ lục tại Mỹ và sự nổi lên của các nền kinh tế mới nổi đã khiến cho USD
mất giá 16% tính từ tháng 3/2009 và trên 20% tính từ năm 2002 và còn tiếp tục xuống giá. Tỉ
trọng USD trong dự trữ thế giới giảm từ 72% vào năm 1999 (đồng euro bắt đầu lưu hành) xuống
còn 62,8% vào quí 2/2009.
Trong thời gian qua, thị trường tiền tệ thế giới có nhiều biến động với việc đồng USD giảm

của đồng CNY được đánh dấu mốc bằng những thay đổi trong chính sách của Chính phủ Trung
Quốc.
Bảng 2: Diễn biến tỷ giá thực của đồng CNY và USD
Năm

2001

2002

2003

2004

2005

2006

2007

2008

2009

2010

2011

USD

100


103.85

100.64

91.90

84.30

84.87

80.82

77.422.1. Giai đoạn từ 1988 – 1995: Cho phép giao dịch đồng CNY ở một tỷ giá sát hơn phản
ánh nhu cầu thị trường
- 1988: Trung Quốc lập các trung tâm hoán đổi tiền tệ bán chính thức, cho phép giao dịch
đồng CNY ở một tỷ giá sát hơn phản ảnh nhu cầu thị trường.
- 1/1/1994: Tỷ giá chính thức và tỷ giá ở các trung tâm hoán đổi được thống nhất, theo đó
đồng CNY bị đánh tụt giá trị khoảng 33% xuống còn 8,7 CNY/ USD.
- 4/1994: Thị trường tiền tệ liên ngân hàng đầu tiên được thành lập ở Thượng Hải. Ngân hàng
trung ương can thiệp vào thị trường để duy trì đồng CNY ổn định.
2.2.Giai đoạn từ 1996 – 2004: Cho phép đồng CNY có khả năng chuyển đổi toàn diện:
- 1/12/1996: Cho phép đồng CNY có khả năng chuyển đổi toàn diện
- 1994 – 1996: Đồng CNY tăng từ 8,7 lên 8,28 CNY/ USD
- 1997 – 1999: Đây là thời điểm cuộc khủng hoảng tài chính diễn ra, nhưng Trung Quốc vẫn
giữ được đồng USD ổn định trong thời gian xảy ra khủng hoảng tài chính.
- 2000: Đồng CNY được cho phép có biên độ tỷ giá rộng hơn so với đồng USD, cụ thể là

USD. Giao dịch quốc tế của đồng NDT được thực hiện đối với hoạt động giao dịch tài chính, đầu
tư và vay nợ. Đây là bước quan trọng để đồng NDT nâng vai trò của mình trên thị trường tài
chính. Đồng CNY tăng 2,4% so với đồng USD.
- Sau gần 2 năm liên tục tăng giá, Từ đầu năm 2012 đến nay, các thống kê đã cho thấy sự suy
yếu trong hoạt động ngoại thương của Trung Quốc, theo đó làm giảm bớt những lời chỉ trích cho
rằng đồng Nhân dân tệ bị định giá thấp hơn nhiều so với giá trị thực. Trong một bản báo cáo công
bố hồi tuần trước, cơ quan quản lý ngoại hối của Trung Quốc tuyên bố, tỷ giá đồng Nhân dân tệ
đang tiến gần đến mức hợp lý. Sau 2 năm tăng không ngừng, so với quý 2/2011, khối lượng giao
dịch bằng đồng nhân dân tệ trong quý 3/2011 giảm 2% xuống 583 tỷ nhân dân tệ tương đương 92
tỷ USD.
Một vấn đề đặt ra trong việc gia tăng tỷ trọng giao dịch thương mại trên thế giới của đồng
nhân tệ là: liệu vai trò của đồng nhân dân tệ đã thực sự gia tăng? Theo thống kê, chỉ một phần rất
nhỏ khoảng 8% trong tổng khối lượng giao dịch 2.050 tỷ nhân dân tệ trong thương mại từ 2009
đến nay được diễn ra giữa công ty ở Trung Quốc và nước ngoài. Còn lại, trên thực tế, phần lớn
được thực hiện bởi công ty Trung Quốc đại lục và Hồng Công, mà chủ yếu là giao dịch giữa công
ty mẹ và các chi nhánh.
Bảng 2: Tỷ lệ giao dịch thương mại trên thế giới được thực hiện bằng đồng nhân dân tệ
Năm

2009

2010

2011

2012

T
ỷ lệ giao dịch th
ương m

4.1.1. Trong ngắn hạn
Đồng USD sẽ tăng giá trở lại và vẫn giữ vị thế là đồng tiền dự trữ toàn cầu, tỷ trọng dự trữ
toàn cầu bằng đồng USD sẽ được duy trì hoặc có xu hướng tăng nhẹ vì các lý do sau đây:
- Thế giới đang ở trong thời kỳ hậu khủng hoảng tài chính và Mỹ đang dần khắc phục những
đổ vỡ từ thị trường tài chính gây ra. Hậu quả của thâm hụt ngân sách và chính sách chống khủng
bố từ những năm trước đang dần được khắc phục.
- USD vẫn giữ vai trò là đồng tiền số 1 và vẫn được đánh giá là kênh trú ẩn an toàn.
- Trong tỷ giá kỳ vọng: đồng USD vẫn được đánh giá cao về tính ổn định. Khủng hoảng nợ
công ở các nước châu Âu khiến đồng EUR mất giá, đồng USD tăng giá trở lại trong năm 2012
vừa rồi. Trái phiếu kho bạc Mỹ có tính thanh khoản tốt nhất thế giới.
- Lãi suất của các đồng tiền nước khác đang giảm, trong khi lãi suất đồng USD vẫn giữ ổn
định.
4.1.2. Trong dài hạn:
Theo kết quả nghiên cứu năm của chi nhánh Fed tại New York, khoảng 60% USD nằm bên
ngoài nước Mỹ, 2/3 dự trữ ngoại tệ của các nước công nghiệp là USD, trên 80% các giao dịch
ngoại tệ được sử dụng bằng USD, 39% các khoản nợ quốc tế được tính bằng USD. Vì vậy, trong
dài hạn, đồng USD vẫn giữ vị thế là đồng tiền dự trữ toàn cầu tuy nhiên tỷ trọng dự trữ toàn cầu
bằng đồng USD sẽ có xu hướng giảm vì các lý do sau đây:
- Đã có nghiên cứu chứng minh được rằng đồng USD không thể phát huy chức năng bảo đảm
giá trị ổn định, không có yếu tố ổn định của một đơn vị tiền tệ dự trữ cần phải có. Đặc biệt là qua
cuộc khủng hoảng tài chính vừa qua. Mức độ tín nhiệm với đồng USD của các nước có xu hướng
giảm.
- Các nước có xu hướng đa dạng hóa dự trữ quốc gia của mình để tránh rủi ro và cũng không
muốn bị đồng USD chi phối quá sâu.
- Sự phát triển của các quốc gia mới nổi như Trung Quốc, Brazil, Nga, Ấn Độ…
4.2.Xu hướng vận động của đồng CNY
4.2.1. Trong ngắn hạn
Những thông số gần đây trên thị trường tiền tệ đã phản ánh thị trường đang kì vọng đồng nhân
tệ sẽ mất giá và lãi suất nội tệ tại Trung Quốc đang ở xu thế giảm.
Để đảm bảo mức hòa vốn, các ngân hàng thương mại (NHTM) đã nâng lãi suất vay vốn bằng

tiếng Anh ngày càng được nhiều quốc gia coi là ngôn ngữ chính thức và bắt buộc.

4.2.2. Trong dài hạn
Đồng CNY có thể sẽ trở thành đồng tiền lựa chọn thay thế cho USD, trở thành đồng tiền dự
trữ của thế giới. Vì các lý do sau:
- Chính phủ Trung Quốc đang nuôi tham vọng thiết lập các trung tâm hoán đổi tiền tệ ở nước
ngoài, nơi các công ty có thể huy động vốn bằng nhân dân tệ, quốc tế hóa đồng nội tệ của mình
và biến nhân dân tệ thay thế USD trở thành tiền tệ dự trữ toàn cầu.
- Đồng nhân dân tệ đang là mối lo ngại trong các chinh sách của Mỹ cho thấy vai trò ngày một
lớn mạnh của đồng tiền này.
- Xu hướng sử dụng nhân dân tệ. Trong năm 2012, Trung Quốc đã thực hiện 18 thỏa thuận
hoán đối ngoại tệ song phương với tổng giá trị hơn 250 tỷ USD
- Thu nhập và năng suất lao động của Trung Quốc đang ngày một tăng. Trung Quốc đang
ngày càng có nhiều người giàu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status