BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
VIỆN QUI HOẠCH THỦY LỢI
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KH&CN CẤP BỘ:
“NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC
VÀ GIẢI PHÁP CÔNG NGHỆ ĐỂ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
LƯU VỰC SÔNG HỒNG”
Chủ nhiệm đề tài: TS. Tô Trung Nghĩa
_________________________________________________
BÁO CÁO TỔNG KẾT CÁC CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU:
CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
VỀ SÔNG NHUỆ
HÀ NỘI, THÁNG 8/2008
I. GIỚI THIỆU CHUNG
Quá trình phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt ở những nước đang phát triển như
Việt Nam thì nhu cầu nước dùng cho các ngành kinh tế và quá trình đô thị hóa
ngày càng tăng song song với nó là lượng nước thải ra môi trường từ các ngành
này và nước thải sinh hoạt cũng tăng theo cả về lượng và chất gây ô nhiễm môi
trường nghiêm trọng khi các chế tài khống chế nó còn quá lỏng lẻo. Người ta
thường chỉ chú ý đến lợi ích kinh tế mang lạ
i mà không chú ý đến những môi
trường vốn rất nhạy cảm đang bị suy thoái nghiêm trọng từng ngày. Rất nhiều nơi
người ta bỏ qua những tác động môi trường to lớn từ các hoạt động phát triển kinh
tế dẫn đến nhiều hậu quả không thể cứu vãn được như vấn đề ô nhiễm nghiêm
trọng 3 lưu vực sông lớn ở Việt Nam là lưu vực sông Đồng Nai, lưu vực sông
Nhuệ - Đáy và lưu vực sông Cầu.
Lưu vực sông Nhuệ - Đáy nằm ở vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ, bao
gồm một phần lãnh thổ của các tỉnh, thành lớn là Hà Nội, Hà Tây, Hà Nam, Nam
Định, Ninh Bình do đó vừa là nguồn cung cấp nước, vừa là nơi tiếp nhận lượng lớn
nước thải sinh hoạt, sản xuất của các tỉnh thành này nên nguồn nước bị suy thoái
nghiêm trọng. Có thể nói nguyên nhân chủ y
ếu là do nước thải sinh hoạt của một
phần lớn thành phố Hà Nội đổ vào sông Tô Lịch, nước thải của hàng trăm làng
nghề, các cơ sở sản xuất công nghiệp, khu công nghiệp và khu dân cư dọc hai bên
bờ sông suối thuộc lưu vực. Nguồn nước có nhiều thời điểm có màu đen, mùi hôi
thối nồng nặc gây mất mỹ quan, tác động tiêu cực đến hệ sinh thái nước, cũng như
có nguy cơ gây ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước ngầm vùng xung quanh, nước
không đủ tiêu chuẩn cấp sinh hoạt, sản xuất.
Đề tài nghiên cứu khoa học “Định lượng lợi ích kinh tế của việc cải thiện
chất lượng nước lưu vực sông Nhuệ” với mục tiêu là ước tính và đánh giá lợi ích
kinh tế của việc cải thiện chất lượng nước lưu vực sông Nhuệ sẽ góp phầ
ới diện tích khoảng 1.631km
2
.
- Hà Nội gồm các huyện Từ Liên, Thanh Trì và khu vực nội thành bên hữu
ngạn sông Hồng với diện tích 257,84km
2
.
- Tỉnh Hà Tây gồm thị xã Hà Đông, thị xã Sơn Tây, huyện Thạch Thất,
huyện Quốc Oai, huyện Phúc Thọ, huyện Đan Phượng, huyện Hoài Đức, huyện
Thường Tín, huyện Phú Xuyên, huyện Thanh Oai, huyện Ứng Hòa, huyện Chương
Mỹ, huyện Mỹ Đức với diện tích 1.768,3km
2
.
- Toàn bộ tỉnh Hà Nam với diện tích 851,7km
2
.
- Toàn bộ tỉnh Ninh Bình với diện tích 1.388,7km
2
.
- Tỉnh Nam Định gồm Thành phố Nam Định, huyện Nam Trực, huyện Vụ
Bản, huyện Trực Ninh, huyện Nghĩa Hưng, huyện Ý Yên với diện tích
1.067,88km
2
Trong đó Hệ thống thuỷ lợi sông Nhuệ có vị trí địa lý đặc biệt quan trọng
trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội và an ninh quốc phòng của lưu vực nói
riêng và cả nước, được bao bọc bởi:
- Phía Bắc và Đông là sông Hồng.
- Phía tây là sông Đáy
- Phía Nam là sông Châu Giang
thành con sông tiêu, làm nhiệm vụ phân lũ khi có lũ lớn xảy ra, còn phần lớn nước
sông Hồng không vào được sông Đáy bởi đập Đáy đóng hoàn toàn trong thời gian
sông không làm nhiệm vụ phân lũ. Vì vậy 71 km đầu nguồn (từ Đập Đáy đế
n Ba
Thá), đoạn sông này được coi như đoạn sông chết, hiện tượng bồi lắng, lấn chiếm
bãi, lòng để canh tác thường xuyên xảy ra, đặc biệt về mùa kiệt. Nguồn nước bổ
sung chính cho sông Đáy chủ yếu là do các sông nhánh, quan trọng nhất là sông
Tích, sông Bôi – Hoàng Long, sông Đào Nam Định, sông Nhuệ.
Trong thời gian tới, sông Đáy đang được nghiên cứu để khôi phục dòng chảy
tự nhiên qua dự án “Làm sống lại dòng sông Đáy”.
Phần thượ
ng nguồn sông Đáy bị ô nhiễm do không có nguồn nước bổ sung
trong khi đó lượng xả thải lại ngày một tăng nhanh cùng với quá trình đô thị hóa
đang diễn ra rất mạnh mẽ, vùng trung lưu cũng đã bị ô nhiễm do nguồn thải từ các
vùng dân cư tập trung, các khu công nghiệp của các tỉnh Hà Nam, Hà Tây, Ninh
Bình. Vùng hạ du hiện đang bị xâm nhập mặn đặc biệt vào mùa kiệt.
Sông Nhuệ:
Sông Nhuệ là con sông lấy nướ
c sông Hồng qua cống Liên Mạc phục vụ tưới,
tiêu nước cho toàn bộ hệ thống thủy nông sông Nhuệ bao gồm toàn bộ vùng nội
thành thành phố hà nội, thị xã Hà Đông và các huyện, thị khác của tỉnh Hà Tây, Hà
Nam và T.P Hà Nội, chảy vào sông Đáy tại thị xã Phủ Lý.
Trong hệ thống thủy nông sông Nhuệ còn có các kênh trục chính, tưới tiêu
trong hệ thống là kênh La Khê, kênh Vân Đình, kênh Ngoại Độ đều nối sông Nhuệ
và sông Đáy, kênh Duy Tiên nối sông Nhuệ và sông Châu.
Bốn con sông thoát nước chính của Hà Nội:
- Sông Tô Lịch, dài 14,6km, rộng trung bình 40 – 45m, sâu, bắt đầu từ cống
Bưởi, chảy qua địa phận Từ
Liêm, Thanh Trì qua đập Thanh Liệt và đổ vào sông
Nhuệ. Đoạn cuối sông Tô Lịch tiếp nhận nước sông Lừ, sông Kim Ngưu và đảm
Sông Ninh Cơ:
Là phân lưu của sông Hồng đổ ra biển Đông, liên hệ với sông Đáy qua kênh
Quần Liêu, sông Đáy chuyển nước sang sông Ninh Cơ vào cả mùa lũ và mùa kiệt,
ảnh hưởng thủy triều đối với sông này rất lớn.
Ngoài ra còn các sông nội đồng: bao gồm sông Sắt, sông Vạc, sông Vân, sông
Càn đề
u là trục cấp và tiêu nước cho các khu vực.
BẢN ĐỒ CÁC SÔNG, KÊNH CHÍNH
LƯU VỰC SÔNG ĐÁY
2. Hiện trạng và phương hướng phát triển dân sinh, kinh tế, xã hội:
Dân số của 6 tỉnh Hà Nội, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình và Hòa Bình trên
lưu vực sông Nhuệ - Đáy vào khoảng gần 8 triệu người với mật độ khoảng từ
1150 – 1200 người/km
2
, cao gấp hơn 4 lần so với bình quân chung của cả nước
(270 người/km
2
) cho thấy đây là vùng có dân cư và kinh tế xã hội phát triển mạnh
mẽ. Theo số liệu thông kê từ năm 1990 đến nay thì diễn biến tăng dân số đô thị
trên lưu vực bình quân năm vào khoảng hơn 4%. Trong giai đoạn hiện tại, toàn bộ
tỉnh Hà Tây và một phần của huyện Mê Linh – Vĩnh Phúc, Lương Sơn – Hòa Bình
sát nhập vào thủ đô Hà Nội thì thời gian tới, việc quy hoạch các khu đô thị, khu
công nghiệ
p của thủ đô sẽ nhanh chóng được triển khai và đưa vào thực hiện. Đây
chính là một trong những thế mạnh của vùng, nhưng cũng ẩn chứa nhiều mối đe
dọa đến môi trường sống nói chung và môi trường nước nói riêng khi quá trình quy
hoạch không quan tâm đúng mức đến tác động môi trường.
Cơ cấu kinh tế của lưu vực dựa trên phát triển công nghiệp, nông nghiệp, dịch
ời gian mở cống Liên Mạc.
Do mưa phân bố không đều nên chế độ dòng chảy trên các sông suối trong lưu
vực cũng phân bố không đều theo không gian và thời gian. Dòng chảy lớn nhất là ở
núi Ba Vì , phần hữu ngạn có dòng chảy lớn hơn phần tả ngạn.
- Dòng chảy lũ bắt đầu từ tháng VI – X, chiếm 70 – 80% lượng dòng chảy
năm trong đó tháng 9 là tháng có lượng dòng chảy trung bình tháng lớn nhất trong
năm, chiếm khoảng 20 – 30% lượ
ng dòng chảy năm.
- Dòng chảy kiệt bắt đầu từ tháng XI – V năm sau, chiếm khoảng 20 – 30%
lượng dòng chảy năm.
Tổng lượng nước hàng năm trên lưu vực sông Đáy khoảng 28,8tỷ m
3
, trong
đó sông Đào Nam Định đóng góp 25,7 tỷ m
3
chiếm 89,5%, lấy nước sông Hồng
với lưu lượng trung bình từ 200 – 300m
3
/s.
Chế độ thủy văn của hệ thống sông Nhuệ phụ thuộc chủ yếu vào sự đóng, mở
của cống Liên Mạc và sự vận hành của các cống điều tiết trong hệ thống: cống
Thanh Liệt (sông Tô Lịch vào sông Nhuệ), các cống trên trục chính gồm cống Hà
Đông, Đồng Quan, Lương Cổ, Nhật Tựu.
Trong thời kỳ mùa lũ, sông Nhuệ là nơi nhận nước c
ủa khoảng 107.530 ha đất
tự nhiên toàn khu vực, trong đó 72.000 ha là đất canh tác, phần còn lại là các khu
dân cư, trong thời kỳ này, cống Liên Mạc gần như hoàn toàn đóng, chỉ mở thời kỳ
đầu vụ khi trong khu vực vẫn có nhu cầu nước tưới và mực nước sông Hồng dưới
báo động I. Vì thế, diễn biến mực nước trên sông Nhuệ trong thời kỳ mưa lũ phụ
thuộc vào những yếu tố sau:
mực nước thấp nhất là tháng III, mực nước tại thượng lưu Liên Mạc thường dao
động trong khoảng 3,00 ÷ 3,50 m Thờ
i kỳ nhu cầu nước cao, tháng I, II hàng
năm mực nước thượng lưu cống Liên Mạc thường giữ ở mức trên dưới 3,50 ÷ 4,00
m. Những năm nước cạn thì mực nước trung bình tháng tại thượng lưu Liên Mạc
dao động từ 3,00 m ÷ 3,50 m.
3.2. Về chất lượng nguồn nước
1. Sông Đáy và các chi lưu lớn của sông Đáy
Phần này sẽ được đánh giá dựa trên kết quả đo đạc trong tháng 9/2007 và
tháng 2/2008 do Viện Quy hoạch Thủy lợi thực hiện phục vụ dự án Quy hoạch
nguồn nước sông Đáy. Từ đó có thể đưa ra những nhận xét sát thực nhất về chất
lượng nguồn nước giai đoạn hiện tại.
Các sông từ thượng nguồn tới ngã ba Phủ Lý:
1. Đối với các sông Bùi, sông Bôi, sông Thanh Hà, sông Tích vùng thượ
ng
nguồn sông Đáy:
Hàm lượng cặn lơ lửng đo được trong đợt đo mùa kiệt và mùa lũ đều khá
cao. Đặc biệt về mùa lũ, khi mưa xuống cuốn trôi các vật chất bề mặt làm tăng
hàm lượng cặn lơ lửng trong sông hàm lượng cặn lơ lửng nằm ở ngưỡng trên giới
hạn B TCVN 5942-1995 cho phép. Trong đợt đo mùa lũ ở vị trí trên sông Thanh
Hà còn vượt giới hạn B của tiêu chuẩn nước mặt.
Hàm lượng các hợp chất chứa Nitơ (NH
4
+
, NO
2
-
) đã vượt giới hạn A và nằm
trong giới hạn B của tiêu chuẩn nước mặt, có xu hướng cao về mùa kiệt và thấp
Nguồ
n nước các sông này đủ tiêu chuẩn cấp cho sản xuất và nông nghiệp,
nếu cấp cho sinh hoạt thì cần phải xử lý trước khi cấp đặc biệt là hàm lượng cặn lơ
lửng, các hợp chất chứa Nitơ, chỉ tiêu vi sinh…
Sông Tích cũng là một sông nhánh chính ở thượng nguồn sông Đáy, đổ vào
sông Đáy tại Ba Thá, và có một chi lưu lớn là sông Bùi. Trên sông này có 3 vị trí
đo tại Vật Lại (thượng nguồn sông Tích), tại cầu Tân Trượ
ng sau nhập lưu sông
Bùi và tại ngã ba Ba Thá trước khi nhập lưu vào sông Đáy.
Kết quả phân tích hàm lượng cặn lơ lửng cho thấy ngay từ đầu nguồn, nguồn
nước sông Tích đã bị nhiễm bẩn. Hàm lượng căn lơ lửng rất cao, hầu hết tại các vị
trí trong 2 đợt đo vượt giới hạn B của tiêu chuẩn nước mặt (trừ đợt đo mùa kiệt tại
Vật Lại cho kết quả là 35mg/l nằm trong giới hạn B của tiêu chuẩn nướ
c mặt).
Hàm lượng một số các hợp chất chứa Nitơ (NH
4
+
, NO
2
-
) cũng khá cao. Hàm
lượng NH
4
+
tại các vị trí vượt giới hạn A của tiêu chuẩn nước mặt từ 1,5 – 3 lần, và
hàm lượng này vào mùa kiệt thường gấp khoảng 1,5 lần mùa lũ. Hàm lượng NO
2
-
cũng vượt từ khoàng 2 – 7 lần giới hạn A, điển hình trong đợt đo mùa kiệt tại ngã
Hàm lượng các hợp chất chứa nitơ có NH
4
+
, NO
2
-
cho hàm lượng khá cao ở
các vị trí. Hàm lượng NH
4
+
thường vượt giới hạn A của tiêu chuẩn nước mặt trừ
mẫu nước sông Vạc tại Yên Sơn và sông Ân tại Kim Sơn – Ninh Bình trong mùa
lũ. Hàm lượng NO
2
-
tại tất cả các vị trí đều nằm trong giới hạn B của tiêu chuẩn
nước mặt, đặc biệt trên sông Vân Ninh Bình trong đợt đo mùa kiệt, hàm lượng này
lên đến 0.361mg/l gấp hơn 7 lần giới hạn B cho phép do nguồn nước này hứng trực
tiếp nước thải của thành phố Ninh Bình không qua xử lý.
Hàm lượng các chất hữu cơ thể hiện qua hàm lượng BOD
5
, COD cũng khá
cao, vượt giới hạn A và nằm trong giới hạn B của tiêu chuẩn nước mặt ở tất cả các
vị trí khảo sát, đo đạc chứng tỏ nguồn nước bị tác động của nước thải sinh hoạt
nhân dân sống 2 bên bờ sông.
Hàm lượng một số các vi khuẩn gây bệnh: Coliform, Fecal.coliform, Clo.fer
cũng cao, tuy nhiên hầu hết các điểm qua trắc đều nằm trong giới hạn A của tiêu
chuẩ
n nước mặt trừ sông Vân - Ninh Bình – nơi tiếp nhận trực tiếp nước thải sinh
hoạt và sản xuất T.P Ninh Bình không qua xử lý. Nước quanh năm có màu xanh
+
), vượt giới hạn A tiêu chuẩn
nước mặt ở cả 2 vị trí đo đạc trong 2 đợt đo, tuy nhiên chúng vẫn nằm trong giới
hạn B của tiêu chuẩn nước mặt cho phép.
Hàm lượng các chỉ tiêu gây ô nhiễm chất hữu cơ (COD, BOD
5
) cũng nằm
trong giới hạn B của tiêu chuẩn nước mặt.
Hàm lượng vi sinh đo đạc (coliform, Fecal.coliform, Cl.fer) nằm trong giới
hạn A của tiêu chuẩn nước mặt.
Nguồn nước các sông này còn khá sạch, chưa chịu tác động mạnh của nước
thải sản xuất và sinh hoạt 2 bên bờ sông do lưu lượng lớn nên quá trình tự làm sạch
khá cao. Nguồn nước đủ tiêu chuẩn cấp sản xuất và tưới tiêu sau khi lắng lọ
c hàm
lượng cặn lơ lửng.
Trục chính sông Đáy:
Tại Cầu Mai Lĩnh, nơi dòng sông Đáy tiếp nhận một phần lớn nước thải của
thị xã Hà Đông và vùng thượng nguồn chỉ được bổ sung nước do mưa trên diện
nhỏ nên mực nước và lưu lượng nước ở đây rất nhỏ quanh năm, nước luôn có màu
đen, tuy nhiên dân quanh vùng vẫn trồng rau muống và các cây rau sống trên mặt
n
ước ở đây. Về đến đoạn ngã ba Ba Thá, trước nhập lưu sông Tích, nguồn nước
này vẫn chưa tự làm sạch hoàn toàn nên hàm lượng các chất gây ô nhiễm vẫn rất
lớn, nước có màu xanh đen. Đến đoạn cầu Hồng Phú sau khi tiếp nhận nước sông
Nhuệ, do thời gian lấy mẫu đập Thanh Liệt trên sông Tô Lịch đóng, không xả nước
thải vào sông Nhuệ nên chất lượng nước sông Nhuệ không còn bị
ô nhiễm nặng
trước khi đổ vào sông Đáy, ngoài ra nguồn nước sông Đáy tại đoạn này đã được
pha loãng bởi một số sông nhánh phía thượng nguồn như sông Tích, sông Thanh
Hà,… và cũng đã tự làm sạch sau một đoạn đường dài (khoảng hơn 60km) nên
5
, COD vẫn vượt giới hạn B TCVN 5942-1995. Về
phía hạ du, cầu Hồng Phú, cầu Đoan Vĩ và tại thị xã Ninh Bình, hàm lượng các chỉ
tiêu này đã quay về giới hạn B của tiêu chuẩn nước mặt nhưng vẫn nằm ở ngưỡng
trên.
Hàm lượng các vi khuẩn gây bệnh có mặt tại vị trí cầu Mai Lĩnh cũng khá
lớn, hàm lượng coliform tại đây vào mùa kiệt đạt 11.300 coli/100ml, mùa lũ đạt
12.970 coli/100ml đều vượt gi
ới hạn B của tiêu chuẩn nước mặt. Hàm lượng các vi
khuẩn khác như Fecal.coliform, Cl.fer cũng rất cao. Tại các vị trí khác, hàm lượng
các vi khuẩn này đã giảm về giới hạn A của tiêu chuẩn nước mặt.
Có thể thấy tại cầu Mai Lĩnh, nguồn nước sông Đáy không đủ tiêu chuẩn
cấp cho sản xuất, sinh hoạt. Tại các vị trí khác nguồn nước này đã được cải thiện
hơn, tuy nhiên có thể dùng trong t
ưới nông nghiệp, trừ những vùng trồng rau ăn
tươi, sống. Các nguồn nước này đặc biệt không được sử dụng cho ăn uống, sinh
hoạt nếu không qua xử lý, đưa hàm lượng các chất gây ô nhiễm về đúng giới hạn
cho phép.
2. Hệ thống thủy nông sông Nhuệ:
Dọc dòng chính sông Nhuệ:
Phần này sẽ nhận định theo kết quả đo đạc định kỳ các tháng 2, 3, 5, 6, 7, 11
năm 2007 do chất lượng nguồn nước hệ thống thủy nông sông Nhuệ phụ thuộc rất
nhiều vào diễn biến nguồn thải: thời gian thải, lượng thải, chất lượng và thành
phần nguồn thải, vị trí nguồn thải,…
Tại vị trí cống Liên Mạc, đầu nguồ
n lấy nước từ sông Hồng cho hệ thống
thủy Nông sông Nhuệ cho thấy nguồn nước này có hàm lượng cặn lơ lửng rất cao,
dao động trong khoảng từ 110-180mg/l, trong đó các tháng mùa khô (tháng 2,
tháng 3) dao động trong khoảng từ 110 – 120mg/l, tuy nhiên trong các tháng mùa
nhỏ.
HÀM LƯỢNG CẶN LƠ LỬNG TẠI LIÊN MẠC BÌNH QUÂN
ĐO NĂM 2007
0
20
40
60
80
100
120
140
160
180
T2/2007 T3/2007 T5/2007 T6/2007 T7/2007 T11/2007
C (mg/l)HÀM LƯỢNG MỘT SỐ HỢP CHẤT CHỨA NITƠ TẠI LIÊN
MẠC ĐO NĂM 2007
0.000
0.050
0.100
0.150
0.200
0.250
0.300
0.350
T2/2007 T3/2007 T5/2007 T6/2007 T7/2007 T11/2007
C (mg/l)
NH4+
(dao động từ 8 – 18mg/l), COD (dao động từ 12–30mg/l) tăng khá
nhanh nhưng vẫn nằm trong giới hạn B của tiêu chuẩn nước mặt. Hàm lượng các vi
khuẩn gây bệnh cũng tăng nhanh, tại hầu hết các thời điểm trong năm đều vươt
giới hạn B của tiêu chuẩn nước mặt nhiều lần, từ 1 – 34 lần, và đạt giá trị lớn nhất
vào các tháng mùa mưa (tháng 6, tháng 7).
Tại đập Hà Đông, nguồn nước tiếp nhận thêm nhiều nguồn thải 2 bên b
ờ
sông, đặc biệt là Thành phố Hà Đông, ngoài ra còn có nhập lưu sông Cầu
Ngà_nhận nước thải toàn bộ khu vực huyện Hoài Đức bao gồm các làng nghề, khu
cụm dân cư và kênh Phú Đô_ tiếp nhận nước thải của một số khu vực nội thành
thành phố Hà Nội, nên chất lượng nước cũng bị suy giảm nhiều so với vùng
thượng nguồn. Hàm lượng DO ở đây chỉ dao động trong khoảng từ 1 – 4mg/l, hàm
lượng BOD
5
(dao động trong khoảng 12 – 20mg/l), COD (dao động từ 18 –
37mg/l). Trong khi đó hàm lượng vi khuẩn cũng tăng cao, hàm lượng coliform dao
động từ 26.000 – 350.000 coli/100ml, Fecal-coliform là 4.000 – 34.000
F.coli/100ml, trong khi giới hạn B của tiêu chuẩn nước mặt là 10.000coli/100ml và
giới hạn của tiêu chuẩn nước dùng thủy lợi cũng khuyến cáo không được sử dụng
nước có hàm lượng Fecal.coliform quá 200 F.coli/100ml tưới cho vùng trồng rau
và các thực phẩm khác dùng ăn tươi, sống.
Cầu Tó là vị trí khống chế nguồn nước sông Nhuệ sau khi có nhậ
p lưu sông
Tô Lịch tại cống Thanh Liệt. hàm lượng cặn lơ lửng ở đây cũng gấp từ 1 – 2,5 lần
giới hạn B tiêu chuẩn nước mặt, dao động trong khoảng từ 110 – 200mg/l. Trong
những thời kỳ cống Thanh Liệt mở, nguồn nước ở đây bị ô nhiễm nghiêm trọng
bởi hàm lượng các chất hữu cơ và vi khuẩn. BOD
5
dao động trong khoảng từ 60 -
40mg/l, gấp khoảng 1,5 lần giới hạn B, COD dao động trong khoảng trên dưới
70mg/l gấp khoảng 2 lần giới hạn B, hàm lượng các vi khuẩn gây bệnh như
coliform dao động trong khoảng từ 50.000 – 120.000coli/100ml, cao vào đầu mùa
lũ và trong thời kỳ kiệt (tháng 2, tháng 3, tháng 5).
Đến đập Nhật Tựu, chất lượng nguồn nước vẫn bị suy giảm nghiêm trọng,
chất lượng nước vẫn vượt giới hạn B củ
a tiêu chuẩn nước mặt, thể hiện qua hàm
lượng cặn lơ lửng (dao động từ 100 – 150mg/l), hàm lượng NH
4
+
thường gấp từ 2-
10 lần giới hạn A, đôi khi vượt giới hạn B rất nhiều lần (như đợt đo tháng
11/2007), hàm lượng vi khuẩn như coliform, Fecal.coliform vẫn rất cao, dao động
trong khoảng từ 20.000 -360.000 coli/100ml và 8.000 – 36.000 Fecal.coli/100ml,
tùy thuộc vào sự vận hành của đập Thanh Liệt. Hàm lượng chất hữu cơ thể hiện
qua hàm lượng BOD
5
(dao động từ 25 – 50mg/l), COD (dao động từ 45 – 60mg/l)
vẫn rất cao, vượt giới hạn B từ 1 – 2 lần. Hàm lượng một số chỉ tiêu kim loại nặng
(Cu, Pb, As…) và các loại thuốc trừ sâu trong nước tại đây cũng thường vượt giới
hạn B cho thấy nguồn nước bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi nước thải làng nghề và
nước tiêu nông nghiệp.
Đến cống Lương Cổ, nguồn nước sông Nhuệ
cũng không được cải thiện
nhiều, vẫn vượt giới hạn B của tiêu chuẩn nước mặt đặc biệt trong thời kỳ cống
đóng để điều tiết tưới. Hàm lượng cặn lơ lửng dao động trong khoảng từ 100 –
120mg/l, hàm lượng BOD
5
dao động từ 20 – 40mg/l, hàm lượng COD dao động từ
30 – 70mg/l, hàm lượng coliform và Fecal.coliform dao động từ 14.000 – 60.000
qua nhu cầ
u oxy sinh học-BOD, nhu cầu oxy hoá học-COD hoặc các chất thuộc
nhóm N như NH4+, NO2-, NO3- hay các nhóm vi khuẩn như Coliform,
Fecal.coliform có xu hướng diễn biến tăng dần từ thượng lưu bắt đầu từ khi có các
nguồn thải ra nhập đặc biệt là các nguồn thải lớn như sông Đăm, sông Cầu Ngà,
sông Tô Lịch, kênh AI.17. Hàm lượng các chất ô nhiễm thường tăng dần và đạt
cực đại tại vị trí cầu Tó hoặc cầu Xém tuỳ thuộ
c vào lưu lượng đến của dòng nước
thải từ sông Tô Lịch và lưu lượng từ trên hạ lưu đưa xuống. Thông thường theo kết
quả khảo sát thì nhận thấy sau vị trí cầu Xém tức là hết các vị trí thải nước thải
chính thì hàm lượng các chất ô nhiễm bắt đầu có hiện tượng giảm xuống do sự
phân huỷ của các chất ô nhiễm và do sự hoà tan từ các nguồn nước khác ra nhập
như từ các nguồn nông nghiệp… Tuy nhiên việc hàm lượng các chất ô nhiễm giảm
xuống diễn ra không nhanh và thường thì đến khi tới tận vị trí hạ lưu sông Nhuệ tại
Phủ Lý thì hàm lượng ô nhiễm cũng vẫn còn khá cao và nhiều khi vẫn còn vượt
quá giới hạn B của tiêu chuẩn chất lượng nước mặt.
Dưới đây là minh họa diễn biến hàm lượng một số chỉ tiêu gây ô nhiễm (chất
h
ữu cơ và vi khuẩn) dọc trục sông Nhuệ vào tháng kiệt nhất, thời kỳ dùng nước
khẩn trương cho nông nghiệp (tháng 2/2007) và tháng đầu mùa mưa, khi bề mặt
vật chất bị cuốn trôi theo dòng chảy tràn mặt xuống sông, suối (tháng 5/2007).
Diễn biến hàm luợng một số chỉ tiêu ô nhiễm hữu cơ dọc dòng chính sông Nhuệ tháng 2/2007
0.00
10.00
20.00
30.00
40.00
50.00
60.00
70.00
Cống Liên
Mạc
Cầu Diễn Đập Hà
Đông
Cầu Tó Cầu Xém Đập Đồng
Quan
Cầu Thần Đập Nhật
Tựu
Cống
Lương Cổ
Phủ Lý
(mg/l)
Coliform
Fecal.coliform
Diễn biến hàm luợng một số chỉ tiêu ô nhiễm hữu cơ dọc dòng chính sông Nhuệ tháng 5/2007
0.00
10.00
20.00
30.00
40.00
50.00
60.00
70.00
80.00
90.00
100.00
Cống Liên MạcCầu Diễn Đập H à Đông Cầu Tó Cầu Xém Đập Đồng Quan Cầu Thần Đập Nhật TựuCống Lương Cổ Phủ Lý
DO
COD
4
+
trong khoảng 0,415-1.891 mg/l vượt giới hạn B của TCVN rất
nhiều. Hàm lượng NO
2
-
dao động trong khoảng từ 0,004-0,620 mg/l, và thường
vượt giới hạn A, riêng tháng 5 là tháng đầu mùa lũ, do mưa xuống cuốn trôi các
vật chất bề mặt nên nguồn nước này thường có hàm lượng NO
2
_
vượt giới hạn B
nhiều lần. Hàm lượng NO
3
-
khá cao, dao động trong khoảng từ 0,038-0,453 mg/l.
Hàm lượng BOD dao động trong khoảng từ 24,50-38,50 mg/l tức là cao hơn giới
hạn A và đa phần các giá trị đo trong tháng 2,3,5,6,7 và 11 đều cao hơn giới hạn B
của tiêu chuẩn chất lượng nước mặt. Hàm lượng COD dao động từ 40,54-56,84
mg/l. Hàm lượng DO dao động trong khoảng từ 0,80-3,66 mg/l. Hàm lượng vi
khuẩn Coliform trong nước dao động trong khoảng 100.000-350.000 MPN/100 ml,
vượt giới hạn B của tiêu chuẩn TCVN 5942 - 1995. Trong các lần đo nhận thấy
tính chấ
t mùa của sông Đăm không rõ ràng, giá trị giữa các đợt đo có sự khác biệt,
điều này chứng tỏ nguồn thải ra sông Đăm không đều và không liên tục, mang tính
chất gián đoạn.
Qua kết quả đo đạc nhận thấy hàm lượng chất hữu cơ, vi khuẩn đều rất cao ,
hàm lượng các chất ô nhiễm hữu cơ phần lớn vượt quá giới hạn B của TCVN
5942-1995. Như vậy sông Đăm đã nh
ận được khá nhiều nguồn nước thải và đã làm
Chất l
ượng nước tại sông cầu Ngà bị ô nhiễm nghiêm trọng đặc biệt về các chỉ
tiêu hàm lượng cặn lơ lửng, chỉ tiêu ô nhiễm hữu cơ như N, P, BOD và COD đều
rất cao, nguyên nhân là do hàng loạt các làng nghề nằm trong khu vực này xả thải
vào sông một lượng rất lớn .
• Đập Thanh Liệt
Đập Thanh Liệt là một trong những điểm nhận nước thải chính của thành phố
Hà Nội và cũng là đ
iểm xả lớn nhất vào sông Nhuệ. Đập Thanh Liệt nằm trên con
sông Tô Lịch là nơi tiếp nhận nước thải của các con sông như sông Lừ, sông Kim
Ngưu (bao gồm cả sông Sét).
Kết quả phân tích chất lượng nước định kỳ cho thấy cặn lơ lửng dao động
trong khoảng từ 110-190 mg/l, như vậy cặn lơ lửng vượt giới hạn B của TCVN
5942-1995. Hàm lượng nhóm N trong nước khá cao với dao động củ
a NH
4
+
trong
khoảng 1,598-7,444 mg/l, vượt giới hạn B của tiêu chuẩn chất lượng nước mặt.
Hàm lượng NO
2
-
thường cao vượt giới hạn B của TCVN về nước mặt. Hàm lượng
BOD dao động trong khoảng từ 75-130 mg/l tức là cao hơn giới hạn B của tiêu
chuẩn chất lượng nước mặt. Hàm lượng COD dao động từ 110-1180 mg/l tức là
mọi thời điểm đo luôn vượt giới hạn B của tiêu chuẩn. Hàm lượng DO rất thấp dao
động trong khoảng từ 0,24-1,21 mg/l. Hàm lượng vi khuẩn Coliform trong nước
dao động trong khoảng từ 98.000-163.000 coli/100 ml, v
ượt giới hạn B của tiêu
chuẩn TCVN 5942 - 1995.