Chuyên đề nghiên cứu quá trình hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư và ý nghĩa của việc nghiên cứu sản xuất giá trị thặng dư, chu chuyển tư bản và ý nghĩa - Pdf 14

Câu 1. Quá trình SX giá trị thặng dư ? So sánh hai phương pháp
SX giá trị thặng dư. Ý nghĩa của việc nghiên cứu ?
1. Quá trình sản xuất giá trị thặng dư trong CNTB
*/ Tính chất hai mặt của quá trình sản xuất TBCN:
- Đó là quá trình lao động tạo ra GTSD của hàng hoá: quá trình này là
sự kết hợp giữa SLĐ với TLSX để tạo ra những GTSD đáp ứng yêu cầu của
xã hội. Trong bất kỳ xã hội nào sản xuất cũng là quá trình kết hợp giữa 2 yếu
tố nói trên nhưng giữa các xã hội khác nhau nó khác nhau ở trình độ phát
triển, biểu hiện ở trình độ của LLSX.
Trong quá trình sản xuất TBCN, đây là quá trình nhà tư bản sử dụng
SLĐ đã mua được để sản xuất hàng hoá nên nó những đặc điểm riêng:
+ Công nhân làm việc dưới sự kiểm soát của nhà tư bản
+ Sản phẩm làm ra thuộc sở hữu của nhà tư bản
- Mặt khác, đấy là quá trình tạo ra và làm tăng giá trị của hàng hoá. Do
vậy, nhà tư bản phải tuân theo quy luật giá trị tức là phải theo thời gian lao
động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hoá.
Quá trình sản xuất trong CNTB là quá trình sản xuất hàng hoá, nhà tư
bản mua SLĐ của người công nhân kết hợp với TLSX để sản xuất ra một
hàng hoá có GTSD nhất định. Vì GTSD là nội dung vật chất của hàng hoá và
cũng là vật mang GT và GT trao đổi. Tất cả những hoạt động trên của nhà tư
bản cũng chỉ nhằm mục đích có được GTTD. Do đó, sản xuất hàng hoá trong
CNTB cũng chính là quá trình sản xuất ra GTTD.
a. Quá trình tạo ra giá trị:
*/ Để làm rõ hơn quá trình sản xuất GTTD, chúng ta lấy ví dụ về nhà
tư bản sản xuất sợi.
- Giả định:
+ Mua bán theo quy luật giá trị (trao đổi ngang giá)
+ Hao phí lao động sản xuất sợi đúng bằng hao phí lao động xã hội cần
thiết.
1
+ Một ngày lao động của người công nhân là 10h: 5h sáng, 5h chiều.

2
: 100
Mua SLĐ:
200
GT mới do lao động
của công nhân tạo ra: 5h x
40 = 200
Trong 5h lao động sáng, người công nhân đã tạo ra 1 lượng giá trị mới
ngang bằng với giá trị SLĐ. Quá trình này được gọi là quá trình tạo ra GT.
Giá trị ứng ra không tăng, do vậy không có GTTD và tiền chưa biến thành tư
bản.
2
b. Quá trình làm tăng thêm giá trị
Nhưng vì nhà tư bản mua SLĐ của công nhân trong 10h nên công nhân
sẽ phải tiếp tục làm việc cho nhà tư bản trong 5h chiều để sản xuất ra 1 lượng
sợi bằng với lượng sợi của 5h lao động sáng nhưng sẽ không được trả thêm
công.
5h lao động chiều:

T - H -
(400)
Bông
(10kg): 300
Sản xuất
Sợi
(H’)
(600)
Bông: 300
Hao mòn
m

hiệu là: m)
Nguồn gốc của GTTD: do lao động của người công nhân tạo ra.
Bản chất của GTTD: biểu hiện mối quan hệ giữa 2 giai cấp tư sản và vô
sản. Mối quan hệ này mang tính chất đối kháng.
2. So sánh hai phương pháp sản xuất GTTD
a. Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư
*/ Phương pháp sản xuất GTTD tuyệt đối
Trong giai đoạn phát triển đầu tiên của sản xuất TBCN, khi trình độ
KH – CN còn thấp, năng suất lao động chưa cao thì phương pháp chủ yếu để
tăng GTTD là kéo dài ngày lao động của công nhân.
GTTD tuyệt đối là GTTD được sản xuất ra bằng cách kéo dài tuyệt đối
ngày lao động trong khi GT SLĐ và thời gian lao động tất yếu không thay
đổi.
- VD: Giả sử ngày lao động bình thường là 8h, trong đó 4h là thời gian
LĐ tất yếu và 4h là thời gian LĐ thặng dư. Tiền lương trả cho công nhân
trong 1 ngày là 200, m’ = 100%, khối lượng GTTD thu được là M = m’ x V =
100% x 200 = 200. Nhà tư bản kéo dài ngày lao động từ 8h → 10h, trong đó
thời gian lao động tất yếu vẫn giữ nguyên là 4h, như vậy thời gian lao động
thặng dư sẽ tăng lên là 6h. Nhà tư bản có được m’ = 150% và M = 150% x
200 = 300
Ngoài biện pháp kéo dài ngày lao động thì nhà tư bản còn sử dụng biện
pháp tăng cường độ lao động. Kéo dài ngày lao động hay tăng cường độ lao
động sẽ làm tăng thời gian lao động thặng dư cho nhà tư bản, từ đó tăng khối
lượng GTTD nhà tư bản thu được.
*/ Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối
4
GTTD tương đối là GTTD thu được do tăng năng suất lao động rút
ngắn thời gian lao động tất yếu, nhờ đó kéo dài thời gian lao động thặng dư
trong khi độ dài ngày lao động không thay đổi.
- VD: Giả sử ngày lao động bình thường là 8h, trong đó 4h là thời gian

Có 1 nhà tư bản cá biệt đã áp dụng công nghệ mới nhất và sớm nhất
khiến cho năng suất lao động cá biệt của họ tăng thêm 25%, cụ thể là thời
gian lao động tất yếu của công nhân chỉ còn 1,5h, thời gian lao động thặng dư
tăng lên là 6,5h. Khi đó, nhà tư bản này sẽ thu được m’ = 433% và lượng
GTTD là: M = 433% x 200 = 867. Lượng GTTD siêu ngạch mà nhà tư bản
này thu được so với các nhà tư bản khác là: = GTTD cá biệt – GTTD tương
đối = 867 – 600 = 267
Giá trị thặng dư siêu ngạch là hình thái biến tướng của GTTD tương
đối. Vì cơ sở chung của GTTD siêu ngạch và GTTD tương đối đều là tăng
năng suất lao động song khác nhau ở chỗ: GTTD tương đối thu được do tăng
năng suất lao động xã hội, GTTD siêu ngạch thu được do tăng năng suất lao
động cá biệt. Do đó, GTTD siêu ngạch chỉ có một số ít nhà tư bản thu được,
GTTD tương đối thì toàn xã hội tư bản thu được. GTTD siêu ngạch không
chỉ biểu hiện mối quan hệ bóc lột của nhà tư bản đối với người công nhân
làm thuê mà còn trực tiếp biểu thị mối quan hệ cạnh tranh giữa các nhà tư
bản với nhau. Các nhà tư bản luôn tìm cách cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất
lao động nhằm hạ thấp GT cá biệt của hàng hoá.
b. So sánh các phương pháp sản xuất GTTD
Những điểm khác nhau chủ yếu:
Phương pháp SX GTTD
tuyệt đối
Phương pháp SX GTTD
tương đối
P
hương
thức
thực
hiện
Kéo dài tuyệt đối ngày lao
động

động của người lao động vẫn tăng nên dưới những hình thức mới, cường độ
lao động thần kinh thay thế cho cường độ lao động của cơ bắp. Vì tăng cường
độ lao động về thực chất cũng tương tự như kéo dài ngày lao động, nên sản
xuất tư bản chủ nghĩa trong điều kiện hiện đại vẫn là một sự kết hợp một
cách tinh vi cả hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư.
d. Ý nghĩa phương pháp luận
*/ Việc chạy theo GTTD siêu ngạch là động lực trực tiếp thúc đẩy các
nhà tư bản tìm tòi, ứng dụng công nghệ mới, cải tiến kỹ thuật. Do sự phát
triển của KH – CN khiến cho việc ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất
nhanh hơn, việc đào thải các dây chuyền công nghệ cũ, lạc hậu cho các nước
có trình độ kém phát triển hơn là tất yếu. Đó chính là quá trình chuyển giao
công nghệ. Các nhà tư bản tìm cách chuyển giao những dây chuyền sản xuất
cũ hơn sang các nước đang và kém phát triển, vừa tận dụng được công suất
tối đa của máy móc, vừa tìm được nơi đầu tư có lợi nhuận. Vì vậy, đối với
các nước nhận chuyển giao công nghệ cần phải hết sức chú ý nắm bắt những
thành tựu công nghệ mới để có thể nhận được những dây chuyền sản xuất
7
hiện đại vừa không bị biến thành kho chứa những rác thải công nghệ từ các
nước phát triển.
*/ Việc nghiên cứu các phương pháp sản xuất GTTD trong CNTB có ý
nghĩa rất quan trọng đối với Việt Nam, thể hiện ở những nội dung sau:
- Khẳng định rõ hơn bản chất bóc lột của tư bản đối với người lao động
làm thuê và chứng minh tính khách quan của con đường đi lên CNXH mà
Đảng, Nhà nước và nhân dân ta lựa chọn.
- Có tác dụng kích thích sản xuất phát triển, tăng năng suất lao động, áp
dụng những thành tựu của KH – CN vào sản xuất, cải tiến tổ chức quản lý
sản xuất. Xu hướng phát triển tất yếu và tính xã hội hoá ngày càng cao của
lực lượng sản xuất mâu thuẫn ngày càng gay gắt với tính chất tư nhân của
QHSX TBCN.
- Là cơ sở lý luận để Đảng và Nhà nước ta đề ra đường lối, chính sách

của một tư bản nhất định, lấy n để chỉ số lần chu chuyển của tư bản, thì
chúng ta sẽ có n = .” (Sđd, tr235)
Ví dụ: nếu thời gian chu chuyển ch là 3 tháng, chẳng hạn, thì chúng ta
có n = 12/3 = 4; như vậy là tư bản thực hiện 4 vòng chu chuyển, đã quay bốn
vòng trong một năm. Nếu ch = 18 tháng, thì n = 12/18 = 2/3 hay trong một
năm, tư bản chỉ quay được có 2/3 thời gian chu chuyển của nó. Nếu thời gian
chu chuyển của tư bản là vài năm, thì tất nhiên nó sẽ được tính bằng cách
nhân với số năm đó.
“Đối với nhà tư bản, thời gian chu chuyển của tư bản của hắn là thời
gian trong đó hắn phải ứng trước tư bản của hắn ra để nó tăng thêm giá trị và
9
ch
CH
quay trở về dưới hình thái ban đầu của nó” (Sđd, tr236). Thời gian chu
chuyển của tư bản là thước đo thời hạn đổi mới, thời hạn lắp lại quá trình
tăng thêm giá trị của tư bản.
b. Các nhân tố ảnh hưởng đến tốc độ chu chuyển của tư bản
Tuần hoàn của tư bản bao gồm quá trình sản xuất và quá trình lưu
thông, nên thời gian chu chuyển của tư bản cũng do thời gian sản xuất và thời
gian lưu thông cộng lại.
* Thời gian sản xuất: Thời gian sản xuất là thời gian tư bản nằm
trong lĩnh vực sản xuất. Do đó, việc kéo dài thời gian sản xuất cũng sẽ làm
giảm tốc độ chu chuyển của TB, như là kéo dài thời gian lưu thông vậy.
Thời gian sản xuất = thời gian lao động + thời gian gián đoạn lao động
+ thời gian dự trữ sản xuất
- Thời gian lao động là thời gian người lao động tác động vào đối
tượng lao động để tạo ra sản phẩm. Đây là thời gian hữu ích nhất, vì nó tạo ra
giá trị cho sản phẩm.
- Thời gian gián đoạn lao động là thời gian đối tượng lao động, dưới
dạng bán thành phẩm nẳm trong lĩnh vực sản xuất, nhưng không có sự tác

* Thời gian lưu thông:
“thời gian chu chuyển của tư bản thì bằng thời gian sản xuất và thời
gian lưu thông hoặc thời gian lưu chuyển của nó cộng lại. Vì vậy, cố nhiên là
độ dài khác nhau của thời gian lưu thông làm cho thời gian chu chuyển, và do
đó, độ dài của thời kỳ chu chuyển, cũng khác nhau.” (Sđd, tr 368).
Thời gian lưu thông là thời gian tư bản nằm trong lĩnh vực lưu thông.
Thời gian lưu thông gồm thời gian mua và thời gian bán, kể cả thời gian vận
chuyển.
Thời gian lưu thông = thời gian mua (đầu vào) + thời gian bán (đầu
ra)
Do những chi phí bảo quản… cho nên có thể cần một chi phí TB phụ
thêm (368)
- Thời gian bán: “Một phần thời gian lưu thông - phần tương đối quan
trọng nhất - là thời gian bán hàng, tức là thời kỳ mà tư bản nằm trong trạng
thái tư bản hàng hóa.” (Sđd, tr368). Thời gian bán phụ thuộc vào:
11
+ Khoảng cách thị trường. Khoảng cách thị trường tạo cho TB quay trở
về nhanh hay chậm, do đó cả thời gian chu chuyển sẽ được rút ngắn hay
không
+ Sự cải tiến những phương tiện giao thông và vận tải: rút ngắn một
cách tuyệt đối khoảng thời gian di chuyển của hàng hóa: Nên thuận lợi hay
phương tiện giao thông được cải tiến, hiện đại thì tạo điều kiện chu chuyển
nhanh hơn của TB, sẽ bù lại một phần cho sự đắt đỏ một số sản phẩm, một số
điều kiện sx.
+ Giao thông, vật tải tiến bộ mở rộng thị trường
+ Thời gian dài ngắn khác nhau của lưu thông hàng hóa từ nơi sản xuất
đến nơi tiêu thụ không những quyết định thời gian bán, mà còn quyết định cả
những sự khác nhau trong trong việc chuyển hóa tiền thành các yếu tố của tư
bản sản xuất, tức là trong thời gian mua.
- Thời gian mua: việc cách xa nguồn nguyên liệu, khối lượng nguồn

- Nguyên nhân: trong xã hội có nhiều ngành sản xuất khác nhau, với
các điều kiện sản xuất khác nhau làm cho cấu tạo hữu cơ, tốc độ chu chuyển
của tư bản khác nhau khiến cho lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận giữa các ngành
không giống nhau, nên các nhà tư bản phải chọn ngành nào có tỷ suất lợi
nhuận cao nhất để đầu tư => cạnh tranh giữa các ngành.
- Khái niệm: Cạnh tranh giữa các ngành là sự cạnh tranh trong các
ngành sản xuất khác nhau nhằm mục đích tìm nơi đầu tư có lợi hơn.
Xét ví dụ sau: Có 3 ngành sản xuất kinh doanh khác nhau, tư bản của
mỗi ngành đều bằng 100, tỷ suất giá trị thặng dư m’ đều bằng 100%, tư bản
ứng trước có tư bản cố định chuyển hết giá trị vào sản phẩm (tư bản ứng
trước = K).
Ngành
sản xuất
Chi phí sản
xuất (K)
m’
(%)
M
P’
(%)
Cơ khí 800c + 200v 100 200 20
Dệt 700c + 300v 100 300 30
Da 600c + 400v 100 400 40
13
Như vậy nếu cùng một lượng tư bản đầu tư, nhưng c/v khác nhau nên
P’ khác nhau. Nhà tư bản không thể bằng lòng đứng yên ở những ngành có P’
thấp, nếu như theo ví dụ trên thì những nhà tư bản ở ngành cơ khí sẽ di
chuyển tư bản của mình sang ngành da, làm cho sản phẩm của ngành da
nhiều lên (cung > cầu), do đó giá hàng hóa ở ngành da giảm xuống, giá cả
thấp hơn giá trị làm p’ của ngành da giảm . Ngược lại, sản phẩm ở ngành cơ

v: giá trị sức lao động
m: giá trị thặng dư
Khi hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân thì số lợi nhuận của các
ngành sản xuất đều tính theo tỷ suất lợi nhuận bình quân và do đó nếu có số
tư bản bằng nhau, dù đầu tư vào ngành nào cũng đều thu được lợi nhuận bằng
nhau, gọi là lợi nhuận bình quân.
- Lợi nhuận bình quân là số lợi nhuận bằng nhau của những tư bản
bằng nhau, dù đầu tư vào những ngành sản xuất khác nhau, ký hiệu là P.
P = P’ . k
- Phạm trù lợi nhuận bình quân có ý nghĩa: Che giấu bản chất bóc lột
của CNTB vì khoản lợi nhuận mà các nhà tư bản thu được chỉ phụ thuộc vào
số lượng tư bản họ ứng ra để kinh doanh và vào tỷ suất lợi nhuận bình quân.
Bản chất của lợi nhuận bình quân là giá trị thặng dư do công nhân tạo ra và
được phân chia giữa các nhà tư bản thông qua cạnh tranh, bị bình quân hóa
theo tỷ lệ tư bản ứng ra.
c. Sự chuyển hóa của giá trị hàng hóa thành giá cả sản xuất
Cùng với sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân và lợi nhuận bình
quân thì giá trị hàng hóa W = C + V + m chuyển hóa thành giá cả sản xuất.
Giá cả sản xuất bằng chi phí sản xuất cộng với lợi nhuận bình quân: GCSX =
K + P
Khi hình thành giá cả sản xuất thì giá cả hàng hóa xoay quanh giá cả
sản xuất. Xét về mặt lượng, ở mỗi ngành giá cả sản xuất và giá trị hàng hóa
có thể không bằng nhau nhưng trong toàn xã hội thì tổng giá cả sản xuất luôn
bằng tổng giá trị hàng hóa. Giá trị vẫn là cơ sở, là nội dung bên trong giá cả
15
sản xuất, giá cả sản xuất là cơ sở của giá cả thị trường và giá cả thị trường
xoay quanh giá cả sản xuất.
d. Ý nghĩa nghiên cứu
- Nghiên cứu sự hình thành tỉ suất lợi nhuận bình quân, lợi nhuận bình
quân và giá cả sản xuất có ý nghĩa rất quan trọng, nó chỉ rõ sự tranh giành

lợi, có những ưu đãi đầu tư và nhiều ưu đãi khác đối với các doanh nghiệp.

17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status