đặc điểm dịch tễ học sốt rét và một số - Pdf 14



1 ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC SỐT RÉT VÀ MỘT SỐ
BIỆN PHÁP CAN THIỆP CỘNG ĐỒNG CHO NHÓM DÂN
DI CƯ TỰ DO TẠI HUYỆN KRÔNG BÔNG,
TỈNH DAK LAK NĂM 2008.

LUẬN VĂN THẠC SĨ:
KÝ SINH TRÙNG
-
CÔN TRÙNG
Buôn Ma Thuột, năm 2009
2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN


Buôn Ma Thuột, năm 2009

3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam ñoan ñây là công trình nghiên cứu của riêng tôi ,Các số
liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, ñược các ñồng
tác giả cho phép sử dụng và chưa từng ñược ai công bố trong bất kỳ một công
trình nào khác.

Trần Đức Tươi 4
LỜI CẢM ƠN


Danh mục các bảng biểu vi
Tài liệu tham khảo

Đặt vấn ñề 1

1. Tổng quan tài liệu 3

2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 17

2.1 Địa ñiểm và ñối tượng nghiên cứu 17

2.2 Phương pháp nghiên cứu 17

2.3 Phương pháp thống kê y sinh học 22

2.4 Thời gian tiến hành nghiên cứu: 1 năm (2008) 23

3. Kết quả nghiên cứu 25

3.1 Đặc ñiểm dịch tễ học sốt rét của cộng ñồng dân di cư tự do tại
huyện Krông Bông
25

3.2 Đánh giá hiệu quả của biện pháp giám sát chủ ñộng tại cụm dân di cư

36

4. Bàn luận 46

5. Kết luận 56
8
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1. Đặc ñiểm về giới và dân tộc tại các ñiểm nghiên cứu
25
Bảng 3.2. Số tháng ñịnh cư trung bình của dân di cư tự do tại các
ñiểm nghiên cứu 26
Bảng 3.3. Nơi ở của dân di cư tự do trước khi ñến ñịnh cư tại ñây 26
Bảng 3.4. Tỷ lệ mắc bệnh, KSTSR và giao bào tại 2 cộng ñồng
dân di cư tự do 28

Bảng 3.5. Phân bố nhiễm ký sinh trùng sốt rét theo giới tại
2 ñiểm nghiên cứu 29
Bảng 3.6. Phân bố nhiễm ký sinh trùng theo lứa tuổi tại
2 ñiểm nghiên cứ 30
Bảng 3.7. Trung bình mật ñộ KSTSR/µl máu tại các ñiểm
nghiên cứu 30
Bảng 3.8. Cơ cấu các loài ký sinh trùng sốt rét tại các ñiểm
nghiên cứu 31
Bảng 3.9: Đặc ñiểm về kinh tế xã hội tại các hộ gia ñình ñiều tra. 32
Bảng 3.10: Tỷ lệ màn và thói quen ngủ màn của dân di cư tự do 33
Bảng 3.11: Kiến thức thái ñộ và hành vi của dân DCTD 33-34
Bảng 3.12. Phân tích các yếu tố nguy cơ mắc sốt rét 35
Bảng 3.13. Các hoạt ñộng giáo dục truyền thông về sốt rét ở
ñiểm can thiệp 35
Bảng 3.14. Chỉ số lam xét nghiệm và KSTSR (5/2008-5/2009). 36
Bảng 3.15 : Hoạt ñộng phát hiện bệnh chủ ñộng tại thôn bản
của y tế cụm dân cư 36

[8].
Theo một số báo cáo, sốt rét ñang gia tăng ở nhiều nước và ở một số
vùng mặc dù bệnh sốt rét ñã hết lưu hành. Một trong những yếu tố góp phần
vào sự gia tăng trở lại này là do sự di dân ñến ñịnh cư ở những vùng ñất khác
vì nhiều lý do như: kinh tế, xung ñột, thiên tai Ở các nước ñang phát triển
di dân liên quan ñến nông nghiệp, ñào vàng và nguy cơ mắc , tử vong sốt rét
là rất cao. Cũng theo các phân tích này cho thấy, sốt rét là một trong những
nguyên nhân tử vong cao ở ñối tượng di dân ở một số vùng của Thailand,
Sudan, Somalia, Burundi, Rwanda, và Congo. Vụ dịch mới ñây nhất xảy ra ở
cộng ñồng dân Burundi di cư ñến ở Tây Bắc Tanzania, chết do sốt rét và thiếu
máu ở trẻ em dưới 5 tuổi tăng gấp 10 lần so với trước khi có dịch; phản ảnh
sự thiếu miễn dịch của nhóm tuổi này [25], [28], [29]
Tại Việt Nam tình hình dân di cư tự do (DCTD) rất phức tạp kéo theo
nguy cơ gia tăng mắc và tử vong do sốt rét.
Năm 2002, ước tính có 2 triệu dân DCTD ñến các khu vực rải rác khắp
cả nước. Phần lớn dân DCTD này ñều có nguy cơ cao nhiễm bệnh sốt rét
(SR), ñiều kiện kinh tế khó khăn, phương tiện không ñầy ñủ ñể bảo vệ cá
nhân.
Mặc dù chính quyền ñã mở rộng, phát triển các dịch vụ y tế ñịa phương
nhưng khi mắc bệnh những ñối tượng này không ñược cung cấp các dịch vụ
chăm sóc/ bảo vệ vì họ ñược xem là dân di cư bất hợp pháp. Tình trạng này 10
một phần là do họ di chuyển ñến vùng mới mà không có sự xác nhận của
chính quyền. Kết quả là, họ không ñược hưởng sự chăm sóc y tế như dân sở
tại và chịu thiệt thòi về chăm sóc y tế cũng như phòng chống sốt rét (PCSR).
Dù sự di cư ngày một gia tăng nhanh do tình hình phát triển kinh tế và
sự ñô thị hoá, nhưng chúng ta còn hiểu rất ít về họ và những quan ñiểm của
họ liên quan ñến y tế ñặc biệt là ñối với bệnh sốt rét. Hiện nay Dak Lak là tỉnh

1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu và phòng chống bệnh SR:
Sự kiện quan trọng trong quá trình nghiên cứu nguyên nhân bệnh SR
ñầu tiên vào 1880, khi Laveran, một bác sĩ giải phẫu người Pháp khám phá
và mô tả KSTSR ở máu người. Tuy nhiên trước ñó ñã có một số nghiên cứu
liên quan bệnh SR [21], [22]
- 1847 Dampster ở Ấn Độ ñã mô tả dấu hiệu lách sưng ở trẻ em như là
một chỉ số ñể ñánh giá mức ñộ lưu hành của bệnh.
- 1848 Wirchow và Freichs ở Đức ñã ghi nhận sự hiện diện của các
sắc tố trong các cơ quan nội tạng có thể liên quan ñến tử vong do SR.
- Laveran phát hiện và mô tả KSTSR ở máu người, ông ñặt tên là
Oscillaria malaria vào 1881, và là người ñầu tiên mô tả giao bào hình lưỡi
liềm.
- Mặc dù 1882, Richards ñã xác nhận sự quan sát của Laveran, nhưng
ñóng góp của ông cũng không ñược công nhận cho ñến 1885 bởi vì người ta
tin rằng bệnh nguyên của SR do vi khuẩn Bacillus malaria (Klebs và Crudeli,
1874)
KSTSR ñược mô tả chi tiết và ñầy ñủ bởi các nhà khoa học từ 1885 – 1890.
- 1886 Golgi ở Ý mô tả 2 loại KST ở người: P.falciparum và P.vivax.
- 1889 - 1890 Celli và Marchiafava mô tả P.falciparum.
- 1890 Romanowsky tìm ra phương pháp nhuộm KST SR, ñã chứng
minh sự hiện diện của KST SR trên lam máu lấy từ người bệnh là phát minh
rất quan trọng giúp nghiên cứu bệnh SR.
- 1895 Ross quan sát hiện tượng thoát roi ở thành dạ dày muỗi
- 1898 Grassi, Biguami và Bastianelli ở Ý mô tả chu kỳ KSTSR người
ở muỗi Anophenles.
- 1922 Stephens xác ñịnh và mô tả P.ovale.
- 1937 Jame mô tả sự phát triển vô tính của P.gallinaceum. 12


13
khoảng 300 - 500 triệu người mắc bệnh, trên 1 triệu người chết. SR ñe dọa
khoảng 2.200 triệu người chiếm 40% dân số thế giới ñặc biệt nguy hiểm ở trẻ
em và vùng dân cư nghèo ñói [4].
Những nước có chương trình tiêu diệt SR với nỗ lực trong vòng 25 – 30
năm qua chủ yếu ở Châu Á và Châu Mỹ. Tổng số ca mắc bệnh trong những
khu vực này là khoảng 5 triệu mỗi năm. Tuy nhiên, theo ước tính số ca mắc
bệnh trên thực tế có thể cao hơn 4 lần. Khoảng 80% số ca này là ở Châu Á
(ngoại trừ Trung Quốc), tình hình SR ñang xấu ñặc biệt ở bán ñảo Đông
Dương là khu vực chịu ảnh hưởng trầm trọng của hiện tượng kháng thuốc.
Các chuyên gia y tế của WHO cũng ñánh giá rằng, tại Ấn Độ CTPCSR không
có tiến bộ trong những năm gần qua. Dù cho phần lớn dân cư Châu Á – Mỹ
ñang sống trong những vùng nguy cơ SR tương ñối thấp, nhưng tình hình SR
ở khu vực biên giới với sự phát triển của kinh tế – xã hội là những vấn ñề cho
PCSR. Ở những vùng này, biến ñộng môi trường, di biến ñộng dân số, không
có cơ sở y tế làm cho tình hình SR xấu ñi [25], [26]
Trong những năm của thập kỷ 30 của thế kỷ XX, ngoài các nghiên cứu
phát hiện những giai ñoạn phát triển của KSTSR trong cơ thể người còn có
những phát minh quan trọng về thuốc SR. Nhiều thuốc ñã ñược tổng hợp:
pamaquine, primaquine, proguanil,… nhưng quan trọng hơn cả là
chloroquine, một loại thuốc thuộc nhóm 4 - amino quinoleine ít ñộc, có thể sử
dụng thay thế quinine một cách rộng rãi trên toàn thế giới. Bên cạnh ñó, DDT
ñược tìm thấy có giá trị diệt muỗi với tính chất tồn lưu kéo dài trên tường
vách và có thể sử dụng rộng rãi ñể diệt muỗi SR. Các loại thuốc SR cùng với
DDT khi ñược áp dụng rộng rãi ñã làm giảm nhanh chóng bệnh SR ở nhiều
nước. Vì vậy tại Đại hội ñồng WHO lần thứ VIII (1955) ñã chấp nhận chiến
lược TDSR trên quy mô rộng lớn với mục tiêu là thanh toán SR toàn cầu ñến
mức có thể kiểm soát từng trường hợp bệnh. [11], [21]
Nội dung cơ bản của chiến lược tiêu diệt SR toàn cầu này là:

mắc bệnh SR 1977 tăng gấp ñôi 1974. Nguyên nhân của tình hình này là do
giảm các hoạt ñộng chống SR ở nhiều nước do giảm nguồn kinh phí, gia tăng 15
chi phí mua hoá chất, KSTSR kháng thuốc ñiều trị, muỗi kháng hoá chất và
làm thay ñổi sinh lý sinh thái…Tình trạng kháng thuốc nghiêm trọng là
nguyên nhân của sự gia tăng SR trở lại tại vùng Đông Nam Á và Nam Mỹ
[21].
Do tình hình SR gia tăng và quay trở lại WHO ñã phải xác ñịnh lại
chiến lược chống SR. Sau tuyên ngôn Alma-Ata (1978) chiến lược PCSR
toàn cầu dựa trên nội dung chăm sóc sức khoẻ ban ñầu ñược ñề ra với các nội
dung khác so với Chương trình TDSR [25]
1.2.2 Chiến lược PCSR toàn cầu hiện nay:
Do diễn biến phức tạp cũng như những khó khăn ngày càng nhiều, tình
hình SR thay ñổi khắp nơi trên thế giới, WHO ñã triệu tập Hội nghị Bộ trưởng y
tế các nước thành viên vào tháng 10/1992 tại Amsterdam (Hà Lan). Mục ñích
của Hội nghị là thông báo tình hình SR thế giới, chấp nhận một chiến lược toàn
cầu mới với sự cam kết chống SR giữa các nước thành viên và tổ chức quốc tế.
[4]
Mục tiêu của CTPCSR là giảm chết, giảm mắc, giảm thiệt hại về kinh tế-xã hội
thông qua việc cải thiện và củng cố các khả năng của ñịa phương và quốc gia [25].
Bốn yếu tố kỹ thuật của chiến lược này là:
1. Cung cấp chẩn ñoán sớm và ñiều trị kịp thời.
2. Lập kế hoạch, thực hiện các biện pháp phòng bệnh chọn lọc và có thể
duy trì ñược.
3. Phát hiện sớm, khống chế hoặc ngăn chặn dịch Sốt rét
4. Củng cố khả năng của ñịa phương dựa trên các nghiên cứu cơ bản và
ứng dụng cho phép ñánh giá ñều ñặn tình hình SR của ñất nước, ñặc biệt là
yếu tố sinh thái, xã hội và kinh tế có tính quyết ñịnh với bệnh SR.

- Khó khăn về chuyên môn kỹ thuật: P.falciparum kháng chloroquine
và ña kháng với hoá liệu pháp chống SR. Muỗi Anopheles kháng hoá chất
diệt, thay ñổi sinh lý sinh thái, trú ẩn ngoài nhà nhưng ñốt máu trong nhà. Kể
từ 1960 khi P.falciparum kháng chloroquine ñược công bố tại Nam Mỹ 17
(Brasil), Đông Dương (Thái Lan, Việt Nam) thì hiện tượng kháng lan rộng
ngày càng nhanh.
- Về kháng hoá chất của muỗi Anopheles kháng DDT nhưng 1991 có
55 loài kháng hoá chất. Trong số 55 loài kháng có 53 loài kháng với DDT, 27
loài kháng với phospho hữu cơ, 17 loài kháng carbamate và 10 loài kháng
pyrethroides, 16 loài cho thấy kháng với 3 hoặc 4 loại hoá chất. Hiện tượng
kháng của Anopheles xuất hiện ở cả Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ.
- Khó khăn về kinh tế, xã hội, tài chính: Sản xuất và thu nhập thấp,
thiếu kinh phí cho PCSR, di biến ñộng nhân dân cao nhất là ở vùng biên giới,
di dân ñi xây dựng kinh tế mới trong các vùng SR lưu hành nặng.
- Tổ chức y tế, ñặc biệt y tế cơ sở còn yếu, cán bộ PCSR ñịa phương
không ñủ về số lượng và chưa ñạt về chất lượng. Đối với bệnh SR cán bộ y tế
cơ sở dựa chủ yếu vào triệu chứng lâm sàng ñể chẩn ñoán, không có xét
nghiệm ñể phát hiện KSTSR trong máu của bệnh nhân, ñặc biệt khó chẩn
ñoán khi gặp những trường hợp triệu chứng lâm sàng không ñiển hình.
- Tình hình kinh tế, xã hội bất ổn, thay ñổi môi trường sinh thái với
những phương án phát triển kinh tế phổ biến khắp mọi nơi nhất là ở các nước
ñang phát triển. Thuỷ lợi, nông nghiệp trồng rừng làm thay ñổi môi trường, vi
khí hậu biến những vùng trước ñây không có SR hoặc ít nay lại quay trở lại.
Sự di biến ñộng dân cư, chiến tranh, di dân ñi khai hoang, kinh tế mới, lấn
chiếm rừng, du canh du cư của ñồng bào các dân tộc, khách du lịch, tìm trầm,
ñãi vàng…khi không ñược bảo vệ làm cho tình hình SR càng thêm nghiêm
trọng. Nhiều nước phải chịu chấp nhận SR quay trở lại [3], [9], [11], [25]

- Giảm SR ở các tỉnh phía Nam, tiến tới ñạt kết quả như các tỉnh phía
Bắc trước ñây
- Tiến tới làm cho bệnh SR không còn là một bệnh xã hội nữa (thanh
toán về cơ bản)
Các biện pháp bao gồm:
- Biện pháp chuyên môn: Diệt muỗi, diệt KSTSR và bảo vệ người
lành. 19
- Biện pháp tổ chức: Xây dựng củng cố mạng lưới y tế cơ sở, xây dựng
mạng lưới chuyên khoa SR ở phía Nam.
Từ 1976 - 1980 chương trình TTSR diễn ra thuận lợi. Chúng ta ñã hoàn
thành ñiều tra SR ở các tỉnh phía Nam, phân vùng SR làm cơ sở cho TTSR.
Theo số liệu thống kê, 1980 cả nước có 508.000 BNSR giảm 16,83% so với
1976, tử vong 1.183 ca, giảm 24,87% so với 1976, dịch SR chỉ còn 21 vụ
giảm 67 vụ so với 1976 (88 vụ). Tuy nhiên tử vong và số vụ dịch vẫn còn cao,
những khó khăn về kỹ thuật như P.falciparum kháng thuốc, An.dirus và
An.minimus trú ẩn ngoài nhà, y tế cơ sở còn gặp khó khăn, di biến ñộng tiếp
tục xảy ra. Đó là những khó khăn mà chương trình TTSR ñã gặp phải trong
giai ñoạn 1981 – 1990. Vì vậy trong giai ñoạn này chương trình TTSR ñã có 1
số ñiều chỉnh thích ứng với tình hình mới như sau:
- Điều chỉnh phân vùng theo nguyên tắc dịch tễ và thực hành, chọn biện
pháp thích hợp cho từng vùng phù hợp với chiến lược PCSR của Đại hội ñồng
y tế thế giới 1979.
- Thu hẹp diện phun DDT toàn diện những vùng có An.dirus và
An.minimus trú ẩn ngoài nhà.
- Điều trị SR kết hợp theo dõi P.falciparum kháng thuốc ñặc biệt ở các
tỉnh phía Nam
- Kiến nghị về củng cố y tế cơ sở nhất là khi TTSR ñược xem là 1 nội

pháp ñặc biệt là sự ra ñời của artemisinine và các dẫn xuất nên tình hình sốt
rét có xu hướng giảm xuống. Năm 2006, cả nước chỉ có 41 TVSR, khu vực
MT-TN có 25 TVSR [22].
Mặc dù tình hình sốt rét giảm nhưng phân tích cho thấy, số TVSR khu
vực MT-TN luôn luôn cao so với các khu vực khác. Từ năm 1997 ñến nay số
TVSR khu vực này luôn chiếm tỷ lệ >70% so với tổng số TVSR cả nước,
riêng năm 2002 tỷ lệ này chiếm ñến 97,73%, năm 2003 chiếm 73,08% .
Như vậy sốt rét ở MT-TN, ñặc biệt các tỉnh Tây Nguyên vẫn là vấn ñề
ảnh hưởng ñến sức khoẻ cả người dân và sự phát triển kinh tế xã hội ở khu
vực này nếu không có các giải pháp ưu tiên. 21
Từ năm 2000 ñến nay ñặc biệt năm 2003, tình hình dân di biến ñộng,
rầm rộ nhất là sự DCTD của ñồng bào dân tộc phía Bắc vào sống tại các vùng
rừng núi Tây Nguyên làm cho tình hình sốt rét càng phức tạp, ñặc biệt số tử
vong tăng cao ñáng kể[5], [6], [7], [8], [9].
1.7. Thực trạng sốt rét, dân DCTD trên thế giới và tại miền Trung-Tây
Nguyên
Trên thế giới tình hình di cư tự do tại một số vùng ñã làm cho diễn biến
sốt rét phức tạp, ñặc biệt ở Châu Phi.
Theo báo cáo của Pim Martens and Lisbeth Hall năm 2000 về “Sốt rét
ñang di chuyển: Biến ñộng dân cư và lan truyền sốt rét” cho thấy sốt rét ñang
gia tăng ở nhiều nước và ở một số vùng dù bệnh sốt rét ñã hết lưu hành. Một
trong những yếu tố góp phần vào sự gia tăng trở lại này là do sự di dân ñến
ñịnh cư ở những vùng ñất khác do nhiều lý do như: do kinh tế, do xung ñột,
do thiên tai Xác ñịnh và hiểu ñược ảnh hưởng của sự di dân này có thể cải
thiện ñược các biện pháp phòng chống sốt rét. ở các nước ñang phát triển di
dân liên quan ñến nông nghiệp, ñào vàng và nguy cơ mắc , tử vong sốt rét là
rất cao. Cũng theo phân tích này cho thấy, Sốt rét là một trong những nguyên

Theo những số liệu mới ñây của Tổng cục ñịa chính và Bộ NN&PTNN,
từ năm 1991 ñến nay một số lượng lớn dân di cư tự do (DCTD) sinh sống tại 3
tỉnh Tây Nguyên (Gia Lai, Kon Tum ,Dak Lak). Đối tượng DCTD này chủ yếu
là ñồng bào miền núi phía Bắc (36,7%), vùng ven biển khu IV cũ (30,9%).
Trong ñó tỉnh có dân DCTD nhiều nhất là là Cao Bằng (9.710 hộ, 48.700 khẩu),
Lạng Sơn (8.500 hộ, 41.550 khẩu), Thanh Hoá (3.500 hộ, 19.200 khẩu), Lào Cai
(3.200 hộ, 20.000 khẩu), Hà Giang (1.900 hộ, 6.600 khẩu), Tuyên Quang (860
hộ, 4.800 khẩu). Chia theo dân tộc: Nùng: >100.000 người, Tày:>80.000 người,
Dao: >31.000người, Thái: >26.000 người, Mông: 134.000 người Ngoài ra
thống kê còn có khoảng 5.000 nhân khẩu DCTD qua lại giữa Việt Nam và Lào
[5], [7], [19].
Trong ñó Dak Lak là tỉnh có số DCTD lớn nhất, hiện nay có 100.000
hộ, 463.000 người. Phần lớn dân DCTD sống trong rừng sâu, tránh sự kiểm
soát của chính quyền ñịa phương, vì theo thông báo số 52/TB-VPCP ngày 23
25/3/2002 của Văn phòng Chính phủ thông báo kết luận của nguyên Phó Thủ
tướng Nguyên Công Tạng tại Hội nghị bàn biện pháp giải quyết tình trạng
dân DCTD ñến các tỉnh Tây Nguyên thì nếu ñể dân DCTD sau thời ñiểm
13/3/2002 thì tỉnh phải ñến nhận về [5], [7], [13].
Vì lý do ñó hầu hết dân di cư tự do sống lẩn tránh trong rừng sâu nơi có
sốt rét lưu hành nặng, không thể tiếp cận với hệ thống y tế, nên nguy cơ mắc
bệnh và tử vong do sốt rét rất cao.
Như vậy, cộng ñồng DCTD sống trong vùng rừng sâu, nơi có sự lưu
hành của mầm bệnh sốt rét và sự hiện diện của vectơ lan truyền, giao thông
khó khăn, khó tiếp cận với hệ thống y tế, không có nhân viên y tế, nguy cơ
cao mắc bệnh và tử vong do sốt rét.
1.8. Các biện pháp quản lý dân di cư tụ do
Cho ñến nay các biện pháp phát hiện, quản lý, và phòng chống mắc

ñến nếu ñược áp dụng triệt ñể các biện pháp PCSR theo qui ước có thể hạn chế
khả năng mắc SR, tỷ lệ mắc SR sẽ thấp hơn từ 3 ñến 10 lần so với nhóm dân ñịa
phương.
Mặc dù chương trình PCSR ñã có những thành công, nhưng vẫn còn
nhiều khó khăn khi áp dụng các biện pháp can thiệp tại các vùng có dân di cư
tự do và biến ñộng dân số trong thời gian gần ñây.
Vì vậy cần có các nghiên cứu cho ñối tượng di biến ñộng này ñể tìm
giải pháp thích hợp PCSR có hiệu quả.
25
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Địa ñiểm và ñối tượng nghiên cứu
2.1.1. Địa ñiểm:
Huyện ñược chọn cho nghiên cứu này là Krông Bông, tỉnh Dak lak nơi
có sốt rét lưu hành và nhiều dân di cư tự do ñến ñịnh cư trong thời gian gần
ñây. Trong huyện này chọn 02 xã có nhiều dân di cư ñể nghiên cứu:
 Xã Hòa Phong: không can thiệp
Xã Hòa Phong, thuộc huyện Krông Bông, nằm trong vùng sốt rét lưu
hành nặng. Toàn xã có 11 thôn buôn, chiếm ña số người dân tộc thiểu số tại
chổ Êñê, M’nông, và môt số dân tộc thiểu số H’mông, Tày, và người Kinh
dân di cư tự do từ miền Bắc vào (Tuyên Quang, Bắc Cạn, Cao Bằng, Thái
Nguyên…) với dân số 7115 người, số hộ 1444. Trong ñó có 1623 dân di cư tự
do. Trạm Y tế xã có 5 nhân viên trong ñó y sỹ: 2, ñiều dưỡng: 3. Hiện tại trạm
có ñiểm kính hiển vi nhưng không hoạt ñộng.
 Xã Cư drăm : áp dụng các biện pháp can thiệp.
Xã Cư Drăm, thuộc huyện Krông Bông, nằm trong vùng sốt rét lưu
hành nặng. Toàn xã có 9 thôn buôn, chiếm ña số người dân tộc thiểu số tại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status