hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán tại công ty chứng khoán ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam thực trạng và giải pháp - Pdf 14

Tiểu luận : Kinh doanh Chứng khoán.
Luận văn
ĐỀ TÀI: HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH PHÁT HÀNH CHỨNG KHOÁN TẠI CÔNG TY CHỨNG
KHOÁN NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ & PHÁT TRIỂN VIỆT NAM, THỰC TRẠNG VÀ GIẢI
PHÁP.
Nhóm I – K41DQ2 Page 1 of 30 Hà nội, tháng 08 năm 2011
Tiểu luận : Kinh doanh Chứng khoán.
Mục lục
Mục lục 2
Nhóm I – K41DQ2 Page 2 of 30 Hà nội, tháng 08 năm 2011
Tiểu luận : Kinh doanh Chứng khoán.
LỜI MỞ ĐẦU
1. Mục tiêu nghiên cứu.
Đề tài “Hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán tại Công ty chứng khoán Ngân hàng
Đầu tư và Phát triển Việt Nam, thực trạng và giải pháp” nghiên cứu một cách tổng quát, hệ thống
cơ sở lý luận chung về hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán. Đồng thời đề tài nghiên cứu
nhằm đánh giá, nhận định cụ thể về thực trạng hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán, những
tồn tại và nguyên nhân, qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện và nâng cao
hiệu quả hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán tại Công ty chứng khoán Ngân hàng ĐT & PT
Việt Nam.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đề tài lấy hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán tại Công ty chứng khoán Ngân hàng
ĐT & PT Việt Nam làm đối tượng nghiên cứu.
Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở một số vấn đề lý luận, thực tiễn có liên quan trực tiếp đến
hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán nói chung và hoạt động bảo lãnh phát hành chứng
khoán tại Công ty chứng khoán Ngân hàng ĐT & PT VN.
3. Kết cấu của đề tài.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo phần nội dung của đề tài bao gồm ba
chương:
Chương 1: Lý luận chung về công ty chứng khoán và nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng
khoán.

Công ty chứng khoán là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán, có thể đảm nhận
một hoặc nhiều trong số nghiệp vụ chính là môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo
lãnh phát hành chứng khoán, và tư vấn đầu tư chứng khoán.
2. Cơ cấu tổ chức của công ty chứng khoán.
Thứ nhất, chịu ảnh hưởng của thị trường tài chính. TTCK là một bộ phận của thị trường tài
chính do đó những biến động của thị trường tái chính nói chung và TTCK nói riêng đều có những
ảnh hưởng nhất định đến hoạt động, các dich vụ và có thể cả lợi nhuận của các công ty chứng
khoán. Thị trường tài chính càng phát triển thì sẽ càng có nhiều cơ hội hơn cho sự phát triển của
TTCK và các công ty chứng khoán, các công cụ tài chính, các dịch vụ, sản phẩm hay trình độ
chuyên môn của một thị trường tài chính phát triển sẽ là những cơ hội cho sự phát triển của TTCK
và các công ty chứng khoán.
Thứ hai, trình độ chuyên môn hoá và phân cấp quản lý. Các bộ phận của
một công ty chứng khoán bao giờ cũng hoạt động độc lập với nhau và không phụ thuộc lẫn nhau
do các mảng hoạt động của các bộ phận của CTCK là khác nhau như môi giới, tự doanh. bảo lãnh
phát hành, tư vấn… Do đó mức độ chuyên môn hoá và phân cấp quản lý của các CTCK là rất cao
và rõ rệt, các bộ phận có thể tự quyết định hoạt động của mình.
Thứ ba, nhân tố con người giữ vai trò quyết định. Do đặc điểm chuyên
môn hoá cao nên con người cần có những khả năng độc lập trong quyết định, côngviệc. Khả năng
làm việc mỗi nhân viên trong công ty là nhân tố rất quan trọng giúpcho sự thành công của CTCK,
họ là cầu nối giữa khách hàng và công ty, tìm kiếmkhách hàng cho công ty và hiểu được tiềm lực
của chính những khách hàng đó dođó góp phần quan trọng cho thành công của công ty.
3. Vai trò của công ty chứng khoán.
Nhóm I – K41DQ2 Page 4 of 30 Hà nội, tháng 08 năm 2011
Tiểu luận : Kinh doanh Chứng khoán.
Công ty chứng khoán là tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nói chung và
của TTCK nói riêng. Nhờ các công ty chứng khoán mà các chứng khoán được lưu thông từ nhà
phát hành tới các nhà đầu tư qua đó huy động các nguồn vốn nhãn rỗi để sử dụng có hiệu quả.
CTCK có vai quan trọng đối với các chủ thể khác nhau trên thị trường chứng khoán.
 Đối với tổ chức phát hành:
Các CTCK thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành và đại lý phát hành cho các tổ chức phát hành

Tiểu luận : Kinh doanh Chứng khoán.
hoạt động bảo lãnh của các công ty chứng khoán thì chứng khoán phát hành sẽ có uy tín hơn trên
thị trường và sẽ dễ dàng giao dịch trên thị trường, đồng thời giá của chứng khoán cũng sẽ được
các CTCK xác định một cách chính xác, phù hợp với tổ chức phát hành góp phần bình ổn giá
chứng khoán trong giai đoạn đầu. Điều này giúp cho chứng khoán của các tổ chức phát hành phát
hành thông qua CTCK sẽ đựoc tín nhiệm hơn góp phần làm tăng tính thah khoản của các chứng
khoán phát hành trên thị trường sơ cấp. Bên cạnh đó, hoạt động môi giới và tư vấn của các công
ty chứng khoán trên thị trường chứng khoán thứ cấp tạo nên tính thanh khoản cho các chứng
khoán.
Các chứng khoán có tính thanh khoản càng cao càng hấp dẫn được công chúng đầu tư hơn từ đó
tạo điều kiên thuận lợi cho sự phát triển của các doanh nghiệp phát hành chứng khoán trên thị
trường.
 Đối với cơ quan quản lý thị trường.
Các cơ quan quản lý thị trường có mục tiêu là quản lý và bình ổn thị trường giúp cho thị trường
hoạt động một cách có hiệu quả nhất và trong mục tiêu đó các công ty chứng khoán có vai trò rất
quan trọng là cung cấp các thông tin cho các cơ quan quản lý để họ thực hiện tốt mục tiêu đó.Các
công ty chứng khoán thực hiện được vai trò này là vì các CTCK là công ty hoạt động chuyên
nghiệp trên thị trường nên các thông tin mà họ có được là các thông tin nhanh nhất và chính xác
nhất vì họ vừa là người bảo lãnh phát hành vừa là người phát hành chứng khoán ra công chúng
thông qua các hoạt động bảo lãnh và đại lý bảo lãnh phát hành, vừa là trung tâm mua và bán các
chứng khoán do đó các thông tin phải được công khai trên thị trường dưới sự giám sát của các nhà
quản lý thị trường. Việc công khai các thông tin vừa là quy định của hệ thống pháp luật vừa là
nguyên tắc nghề nghiệp của các CTCK vì các công ty chứng khoán cần phải minh bạch trong hoạt
động của mình. Nhờ các thông tin này mà các cơ quan quản lý thị trường có thể kiểm soát và
chống các hiện tượng thao túng là lũng đoạn thị trường.
Tóm lại, vai trò của các CTCK có vai trò vô cùng quan trọng trên thị trường chứng khoán, không
chỉ góp phần tạo ra hàng hoá và tính hấp dẫn của hàng hoá trên thị trường mà còn là nhân tố quan
trọng giúp cho thị trường ổn định và phát triển. Tạo ra lợi ích kinh tế cho toàn xã hội thông qua
việc làm giảm chi phí giao dịch, tạo ra nguồn vốn lớn cho toàn nên kinh tế và thị trường thúc đẩy
các luồng tiền nhãn rỗi đi vào hoạt đầu tư cho sự phát triển của nên kinh tế.

thực hiện lệnh cho khách hàng và hoạt động chỉ vì mục tiêu là hưởng hoa hồng từ các giao dịch thì
hoạt động tự doanh chứng khoán hoạt động bằng chính nguồn vốn của công ty nên ngoài mục tiêu
lợi nhuận là đầu tư để hưởng chênh lệch giá hoạt động này của các Công ty chứng khoán (CTCK)
còn nhằm mục tiêu là bình ổn thị trường, kiểm soát thị trường hay đóng vai trò là một nhà tạo lập
thị trường cho các chứng khoán phát hành.
 Nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư:
Đây là nghiệp vụ quản lý vốn uỷ thác của khách hàng để đầu tư vào chứng khoán thông qua
danh mục đầu tư nhằm sinh lợi cho khách hàng trên cơ sở tăng lợi nhuận và bảo toàn vốn cho
khách hàng. Hoạt động này có thể coi là vì lợi ích của khách hàng theo một hợp đồng đã được ký
kết trước giữa khách hành và công ty chứng khoán theo đó CTCK quản lý nguồn vốn của khách
hàng như là một hoạt động tư vấn cho khách hàng nhưng ở một mức độ cao hơn vì trong hoạt động
Nhóm I – K41DQ2 Page 7 of 30 Hà nội, tháng 08 năm 2011
Tiểu luận : Kinh doanh Chứng khoán.
này khách hàng uỷ thác cho CTCK thay mặt mình quyết định đầu tư theo một chiến lược hay theo
một danh mục đã được khách hành chấp nhận.
 Nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán:
Tư vấn đầu tư chứng khoán là việc công ty chứng khoán thông qua hoạt động phân tích để đưa
ra các lời khuyên, khuyến nghị, phân tích và thực hiện một số dịch vụ khác liên quan đến phát
hành, đầu tư và cơ cấu tài chính cho khách hàng. Hoạt động tư vấn là hoạt động mà người ta sử
dụng tri thức, kiến thức có được để phân tích thị trường và cung cấp thông tin cho khách hàng.
Yêu cầu đòi hỏi nhà tư vấn phải có nhiều kiến thức, kinh nghiệm kỹ năng chuyên môn đồng thời
cần phải có tính trung thực cao, thận trọng trong công việc để đưa ra được các lời khuyên chính
xác, hợp lý vì các lời khuyên này ảnh hưởng đến lợi nhuận của
khách hàng và hình ảnh của chính bản thân CTCK.
4.2. Các nghiệp vụ phụ trợ:
 Nghiệp vụ lưu ký chứng khoán:
Lưu ký chứng khoán là hoạt động nhằm lưu giữ, bảo quản chứng khoán của khách hàng thông
qua các tài khoản lưu ký và giúp khách hàng thực hiện các quyền của mình đối với chứng khoán
lưu ký. Đây là quy định bắt buộc trong giao dịch chứng khoán, bởi vì giao dịch chứng khoán trên
thị trường tập trung là hình thức ghi sổ, khách hàng phải mở tài khoản lưu ký chứng khoán tại các

Việc chào bán chứng khoán ra công chúng để huy động vốn được gọi là phát hành chứng
khoán. Nếu đợt phát hành dẫn đến việc đưa ra một loại chứng khoán của một tổ chưc lần đầu tiên
phát hành ra công chúng thì gọi là phát hành lần đầu ra công chúng. Nếu việc phát hành đó là việc
phát hành bổ sung bởi tổ chức đã có chứng khoán cùng loại lưu thông trên thị trường thì gọi là đợt
phát hành chứng khoán bổ sung.
1. Phát hành chứng khoán riêng lẻ (Private Placement)
Phát hành riêng lẻ là hình thức phát hành trong đó đơn vị phát hành chào bán chứng khoán
của mình trong phạm vi một số nhà đầu tư nhất định với những điều kiện hạn chế mang tính chất
khép kín.
Các công ty chứng khoán, ngân hàng đầu tư cũng có thể tham gia vào việc phát hành riêng
lẻ với tư cách nhà phân phối để hưởng phí phát hành. Các công ty thực hiện phát hành chứng
khoán riêng lẻ khi:
+ Công ty chưa đủ tiêu chuẩn để phát hành chứng khoán ra công chúng;
+ Số lượng vốn cần huy động thấp, quy mô huy động chưa cần ở mức rộng rãi, phạm vi hoạt
động vẫn mang tính chất nội bộ, khép kín
+ Phát hành cổ phiếu nhằm mục đích tăng cường các mối quan hệ kinh doanh hoặc phát hành
cho nội bộ cán bộ, nhân viên của đơn vị phát hành.
2. Phát hành chứng khoán ra công chúng
Phát hành chứng khoán ra công chúng là hình thức phát hành trong đó chứng khoán được bán
rộng rãi cho quảng đại quần chúng đầu tư ( trong đó phải dành một tỷ lệ cho nhà đầu tư nhỏ) với
quy mô lớn cho một số lượng nhà đầu tư đảm bảo yêu cầu công khai, minh bạch và tuân thủ pháp
luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán.
Phát hành chứng khoán ra công chúng sẽ chịu sự điều chỉnh của pháp luật về chứng khoán
và thị trường chứng khóa. Đơn vị phát hành phải thỏa mãn một số điều kiện nhất định và phải đăng
Nhóm I – K41DQ2 Page 9 of 30 Hà nội, tháng 08 năm 2011
Tiểu luận : Kinh doanh Chứng khoán.
ký với cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán. Phát hành chứng khoán ra công chúng phải tiến
hành công khai và chịu sự giám sát của Luật chứng khoán. Công ty đã thực hiện phát hành chứng
khoán được gọi là công ty đại chúng.
Phát hành chứng khoán ra công chúng được phân biệt giữa phát hành cổ phiếu ra công chúng

các dự án khả thi, các doanh nghiệp vẫn còn thói quen sử dụng nguồn vốn vay nhiêu hơn, lý do thứ
Nhóm I – K41DQ2 Page 10 of 30 Hà nội, tháng 08 năm 2011
Tiểu luận : Kinh doanh Chứng khoán.
hai là do khối lượng phát hành chứng khoán là nhỏ do đó các tổ chức phát hành (TCPH) không cần
đến hoạt động bảo lãnh phát hành của các CTCK và nguyên nhân quan trọng nhất xuất phát từ hạn
chế của các CTCK, các công ty chứng khoán ở nước ta hiện nay do hoạt động chưa lâu trên thị
trường nên yếu cả về tiềm lực vốn và nghiệp vụ chuyên môn. Với mức vốn đáp ứng ở yêu cầu tối
thiểu khi đăng ký như hiện nay các tổ chức này chỉ dám tham gia với vai trò đại lý phân phối cho
TCPH, đội ngũ cán bộ của các CTCK hiện nay hầu hết họ đều là những cán bộ trẻ có năng lực,
được đào tạo bài bản tuy nhiên hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán đòi hỏi những cán bộ
không chỉ có trình độ chuyên môn nghiệp vụ giỏi mà còn cần phải có kinh nghiệm, hiểu biết về
hoạt động bảo lãnhphát hành và đó là những hạn chế mà các cán bộ của CTCK ở nước ta còn tồn
tại.
2. Các phương thức bảo lãnh phát hành chứng khoán.
Việc bảo lãnh phát hành thường được thưc hiện theo một trong các phương thức sau:
2.1. Bảo lãnh với cam kết chắc chắn:
Là phương thức bảo lãnh mà theo đó tổ chức bảo lãnh cam kết sẽ mua toàn bộ số chứng
khoán phát hành cho dù có phân phối được hết chứng khoán này hay không. Trong hình thức theo
“ cam kết chắc chắn”, một nhóm các tổ chức bảo lãnh phát hình thành một tổ hợp đêt mua chứng
khoán của tổ chức phát hành với giá chiết khấu so với giá chào bán ra công chúng ( POP) và bán
lại các chứng khoán đó ra công chúng theo giá POP. Chênh lệch giữa giá mua chứng khoán của
các tổ chức bảo lãnh vơi giá chào bán ra công chúng được gọi là hoa hồng chiết khấu.
2.2. Bảo lãnh theo phương thức dự phòng
Đây là phương thức thường được áp dụng khi một công ty đại chúng phát hành bổ sung thêm
cổ phiếu thường ở các nước phát triển. Trong trường hợp đó, công ty cần phảo bảo vệ quyền lợi
cho các cổ đông hiện hữu, và như vậy, công ty phải chào bán cổ phiếu bổ sung cho các cổ đông cũ
trước khi chào bán ra công chúng bên ngoài.
2.3.Bảo lãnh với cố gắng cao nhất
Là phương thức bảo lãnh mà theo đó tổ chức bảo lãnh thỏa thuận làm đại lý cho tổ chức
phát hành. Tổ chức phát hành không cam kết bán toàn bộ số chứng khoán mà cam kết sẽ cố gắng

đơn vị phát hành lập nhóm nghiên cứu tiền khả thi để chuẩn bị phát hành. Nhóm này sẽ bao gồm
nhân viên phân tích của tổ chức bảo lãnh phát hành và các cán bộ của đơn vị phát hành. Nhóm
chuẩn bị sẽ tiến hành những phân tích, đánh giá về khả năng phát hành ra công chúng trên những
khía cạnh chủ yếu như: tình hình hoạt động của đơn vị phát hành, tiềm lực tài chính của đơn vị
phát hành, tình hình thị trường của các sản phẩm chính, các khía cạnh pháp lí của việc phát hành
chứng khoán ra công chúng, tình hình thị trường vốn trong nước và nước ngoài.
Kết quả phân tích ban đầu này nhằm cung cấp những thông tin cho hội đồng quản trị và đại
hội đồng cổ đông ra quyết định phát hành. Không nhữg thế những phân tích trên được tiến hành
cũng sẽ góp phần đưa ra những phương hướng chính về cách thức phát hành và chủng loại phát
hành.
4.2 Phối hợp với đơn vị phát hành chuẩn bị hồ sơ đăng kí phát hành
Sau khi hợp đồng bảo lãnh phát hành được kí kết tổ chức bảo lãnh phát hành sẽ phối hợp với
đơn vị phát hành để thực hiện công tác chuẩn bị hồ sơ đăng kí phát hành. Việc chuẩn hồ sơ đăng kí
phát hành cần sự tham gia của các chuyên gia tài chính, kế toán và pháp lí. Các chuyên gia này là
Nhóm I – K41DQ2 Page 12 of 30 Hà nội, tháng 08 năm 2011
Tiểu luận : Kinh doanh Chứng khoán.
nhân viên của tổ chức bảo lãnh hoặc cũng có thể là do tổ chức bảo lãnh tập hợp từ các công ty tài
chính, kế toán hay luật pháp khác.
Luật pháp của hầu hết các quốc gia đều quy định tổ chức bảo lãnh phải chịu trách nhiệm liên
đới đối với hồ sơ đăng kí phát hành của đơn vị phát hành. Tức là tổ chức bảo lãnh phải chịu trách
nhiệm trước sai sót hay thiếu hụt thông tin trong hồ sơ xin phép phát hành. Quy định này nhằm
đảm bảo tổ chức bảo lãnh có những cố gắng tối đa trong việc kiểm tra tính đúng đắn, đầy đủ và
hợp pháp của các thông tin đưa ra trong hồ sơ xin đăng kí phát hành và các thông tin trong bản cáo
bạch. Quy định này sẽ đảm bảo cho các nhà đầu tư có được những thông tin xác thực và đầy đủ để
đưa ra quyết định đầu tư
Trong trường hợp bảo lãnh phát hành theo hình thức tổ hợp bảo lãnh thì tổ chức bảo lãnh
chính sẽ phải quyết định quy mô tổ hợp và xác định các thành viên tham gia tổ hợp. Việc thành lập
tổ hợp bảo lãnh cũng có những lợi ích nhất định đối với các tổ chức bảo lãnh bởi nó có thể phân
tán rủi ro. Tổ chức bảo lãnh tham gia tổ hợp bảo lãnh phát hành có thể do tổ chức bảo lãnh chính
lựa chọn hoặc do chính các tổ chức bảo lãnh tiếp xúc với tổ chức bảo lãnh chính để tìm cơ hội

4.4 Bình ổn và điều hòa thị trường
Các tổ chức phát hành có thể gặp khó khăn trong việc phân phối chứng khoán nếu giá chứng
khoán đó trên thị trường giảm xuống dưới mức giá chào bán trước khi hoàn tất việc phân phối
chứng khoán ra công chúng. Để giảm thiểu khó khăn này các tổ chức bảo lãnh chính có thể ổn
định giá bằng cách mua chứng khoán vào tài khoản của tổ hợp.
Công tác bình ổn giá có thể thực hiện trên bất kì thị trường nào mà chứng khoán chào bán
được giao dịch. Khi thực hiện mua để ổn định, người mua phải thông báo cho bên nhận lệnh rằng
việc mua này nhằm mục đích ổn định. Tổ hợp bảo lãnh chỉ được đặt mua để ổn định trên thị
trường với cùng mức giá. Trong quá trình bình ổn giá, thành viên của tổ hợp bảo lãnh phát hành
thường bị cấm bán cổ phiếu dưới giá chào bán trong một khoảng thời gian nhất định sau thời điểm
kết thúc việc chào bán, phân phối cổ phiếu ra công chúng và sau khi tổ hợp bảo lãnh phát được
giải thể. Sau thời hạn này, thành viên tổ hợp bảo lãnh phát hành có thể bán cổ phiếu theo bất kì giá
nào.
5. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán tại công ty chứng
khoán.
5.1. Nhân tố bên ngoài
5.1.1. Điều kiện kinh tế trong nước:
Là một yếu tố rất quan trọng cho sự phát triển của thị trường chứng khoán. Nền kinh tế đất
nước có phát triển thì sẽ có điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của thị trường chứng khoán, sẽ
nhanh chóng áp dụng được các mô hình quản lý, khoa học kỹ thuật của các nước đi trước… tiết
kiệm được chi phí, thời gian nghiên cứu. Do đó, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển ổn định
và bền vững của thị trường chứng khoán. Thị trường chứng khoán phát triển thì các công ty chứng
khoán sẽ có điều kiện thuận lợi hơn trong việc phát triển các nghiệp vụ của mình, phát triển hoạt
động bảo lãnh phát hành chứng khoán giúp cho các tổ chức phát hành phát hành đạt hiệu quả cao
nhất.
5.1.2. Môi trường pháp lý
Thị trường chứng khoán Việt Nam là thị trường còn rất non trẻ mới đi vào hoạt động được
vài năm gần đây, vì vậy sẽ không thể tránh khỏi các văn bản pháp lý, quy định của các cơ quan
Nhóm I – K41DQ2 Page 14 of 30 Hà nội, tháng 08 năm 2011
Tiểu luận : Kinh doanh Chứng khoán.

I. Tổng quan về tình hình kinh doanh của công ty.
Công ty chứng khoán Ngân hàng ĐT & PT Việt Nam được thành lập ngày 07 tháng 07 năm
2000, Công ty Chứng khoán Ngân hàng ĐT & PT Việt Nam (BSC) vinh dự trở thành Công ty
chứng khoán đầu tiên trong ngành ngân hàng tham gia kinh doanh trong lĩnh vực chứng khoán và
cũng là một trong hai công ty chứng khoán đầu tiên tại Việt Nam.
Ban đầu vốn điều lệ là 300 tỷ đồng tăng lên 700 tỷ đồng ( năm 2007).Tính đến cuối năm
2009 tổng tài sản của BSC đã là 3.897 tỷ đồng, trong đó vốn điều lệ là 700 tỷ đồng, đứng thứ ba
TTCK Việt Nam. Trong đó tài sản ngắn hạn là 3.698 tỷ đồng chiếm 95% trong tổng tài sản, tài
sản dài hạn là 200 tỷ đồng chiếm 5% trong tổng tài sản. Tỷ trọng nguồn vốn ngắn hạn / tài sản
ngắn hạn của Công ty là 85%, tỷ lệ vốn khả dụng của Công ty là 21%. Ngoài số vốn hiện có, Công
ty có thể huy động vốn từ hoạt động kinh doanh vốn và hoạt động đầu tư tự doanh.
Từ đến năm 2007, doanh thu của BSC đạt gần 100 tỷ đồng, tăng 51% so với mức thực hiện
cả năm 2006. Trong đó, thu phí môi giới đạt gần 42 tỷ đồng, gấp 6,8 lần so với cùng kỳ năm trước
và gấp 2,3 lần so với mức thực hiện của năm 2006. Lợi nhuận trước thuế của công ty 6 tháng đầu
năm đạt 62 tỷ đồng, gấp 3 lần so với cùng kỳ năm trước và xấp xỉ bằng mức thực hiện cả năm
2006. Năm 2007 BSC hiện giữ vững thị phần môi giới ở mức 14-16% so với tổng giá trị giao dịch
của toàn thị trường. Đây là lần tăng vốn điều lệ thứ hai của BSC trong năm 2007. Do nền kinh tế
suy thoái toàn cầu, suy giảm nền kinh tế trong nước , TTCK ảm đạm và sụt giảm mạnh , tính đến
cuối năm 2008 trong khi vốn điều lệ của Công ty la 700 tỷ đồng BSC chỉ còn vẻn vẹn 274 tỷ đồng
vốn chủ sở hữu do khoản lỗ lên đến 554 tỷ đổng, tổng các khoản trích lập dự phòng giảm giá của
BSC là gần 633.5 tỷ đồng. Tuy nhiên, tỷ lệ vốn /vốn điều lệ của BSC chỉ là 79.16%.
Bảng 1: Doanh thu của BSC.
Nguồn: công ty chứng khoán BSC.
Sau năm 2008 với hoạt động kinh doanh không mấy khả quan của Công ty,một năm kinh
doanh thua lỗ do ảnh hưởng của suy thoái toàn cầu, TTCK sụt giảm, ảm đạm. BSC với khoản lỗ
lên tới 554 tỷ đồng trong khi vốn điều lệ của Công ty là 700 tỷ đồng, tỷ lệ vốn/ vốn điều lệ đạt
79.16% BSC cũng chưa phải là Công ty chứng khoán có mức thua lỗ lớn nhất. Sau thất bại của
năm 2008 Công ty từng bước củng cố và phát triển với đội ngũ cán bộ trẻ, năng động , có trình độ,
Nhóm I – K41DQ2 Page 16 of 30 Hà nội, tháng 08 năm 2011
CTCK VĐL

mại, cổ phiếu , M & A, bảo lãnh phát hành, phát triển dịch vụ khách hàng , đồng thời tạo động lực
tốt cho cán bộ xây dựng và triển khai các nghiệp vụ , sản phẩm mới, hiện đại.
Hiện đại hóa công nghệ thông tin – nền tảng hỗ trợ nâng cao chất lượng, năng lực cạnh tranh
cho các hoạt động dịch vụ đó là việc triển khai thành công hệ thống giao dịch ko sàn với sàn giao
dịch chứng khoán thành phố Hồ chí Minh(HOSE), sàn giao dịch upcom và trái phiếu chuyên biệt.
Về kết quả kinh doanh của Công ty:
Lợi nhuận trước thuế năm 2009 đạt 399 tỷ đồng
Bảng 2: Kết quả kinh doanh
Nhóm I – K41DQ2 Page 17 of 30 Hà nội, tháng 08 năm 2011
Tiểu luận : Kinh doanh Chứng khoán.
Nguồn: công ty chứng khoán BSC
Trong đó:
- Hoạt động môi giới của công ty : sự cạnh tranh cao của các Công ty chứng khoán trên thị trường
với sự hiện diện của gần 100 Công ty chứng khoán, mọi biện pháp nâng cao thị phần bao gồm cả trái
với quy định của Ủy ban chứng khoán được các Công ty đưa ra như bán khống, cho vay chứng khoán,
tiền T+2, nhằm thu hút nhà đầu tư đã tác động không nhỏ đến thị phần môi giới của Công ty.
• Doanh thu đạt 58 tỷ đồng đạt 110% so với kế hoạch , tăng trưởng 125% so với năm 2008 đạt
46,4 tỷ đồng.
• Lợi nhuận từ hoạt động môi giới của công ty là 30 tỷ đồng , tăng 120% so với năm 2008 đạt 25
tỷ đồng. Thu dịch vụ ròng là 42.672 triệu đồng đạt 101% so với kế hoạch, tăng 120 % so với năm
2008.
• Thị phần môi giới :năm 2009 đạt 2.3% đạt 70% so với kế hoạch, giảm 1.1% so với năm 2008
là 3.4%, đứng thứ 8/10 Công ty chứng khoán có thị phần lớn nhất tại Việt Nam.
• BSC đã bước đầu tổ chức thành công buổi Hội nghị tư vấn đầu tư với khách hàng với chủ đề: “
Buổi gặp gỡ giữa các chuyen gia phân tích độc lập của BSC với nhà đầu tư ” nhằm thúc đẩy sự
hợp tác của BSC và các nhà đầu tư, đồng thời tổ chức các buổi hướng dãn giao dịch tại sàn Upcom
tới các doanh nghiệp, nâng cao công tác dịch vụ khách hàng lên tầm cao mới.
- Hoạt động kinh doanh vốn : năm 2009 doanh thu đạt 315 tỷ đồng chiếm 50% tổng doanh thu. Lợi
nhuận từ hoạt động kinh doanh vốn bao gồm repo ( giao dịch mua và bán chứng khoán), tiền gửi là 70
tỷ đồng.

hành chứng khoán chuẩn bị các điều kiện và thủ tục trước khi chào bán chứng khoán và cuối cùng
giúp tổ chức phát hành thực hiện việc phân phối chứng khoán cho công chúng đầu tư trên thị
trường.
Công ty chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam được phép hoạt động trên
tất cả các nghiệp vụ của một công ty chứng khoán và hoạt động bảo lãnh phát hành của công ty
cũng chiếm một tỷ trọng nhất định trên thị trường đem lại cho công ty rất nhiều khách hàngvà lợi
nhuận. Điều đó được thể hiện trên bảng số liệu số liệu sau:
Bảng 3 : Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2006
Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006
1 2 3
A/Doanh thu 69.052.305.913 200.538.032.879
I. Thu từ hoạt động kinh doanh 69.052.305.913 200.538.032.879
1. Doanh thu từ hoạt động KD CK 62629.151.223 195.455.006.759
Doanh thu môi giới Ck cho người đầu tư 1.912.046.590 18.543.484.487
D.thu hoạt động tự doanh chứng khoán 47.599.707.163 162.677.629.438
Doanh thu QLDMDT - 76.221.135
Doanh thu bảo lãnh phát hành 5.038.007.976 7.087.715.250
Doanh thu tư vấn đầu tư CK 2.385.908.438 3.165.586.550
Hoàn nhập dự phòng các khoản trích trước 9.002.600 22.386.000
Nhóm I – K41DQ2 Page 19 of 30 Hà nội, tháng 08 năm 2011
Tiểu luận : Kinh doanh Chứng khoán.
Doanh thu về vốn kinh doanh 5.585.565.947 3.764.797.329
2. Thu lãi đầu tư 6.423.154.690 5.083.026.120
3. Các khoản giảm trừ doanh thu - -
II. Thu nhập ngoài hoạt động kinh doanh - -
1. Chênh lệch lãi nhượng bán, thanh lý TSCĐ - -
2. Thu bảo hiểm và đền bù tổn thất - -
3. Thu nợ phải thi đã xử lý - -
4. Thu nhập khác - -
B/ Chi phí 52.968.209.582 135.471.770.539

- Doanh thu vốn kinh
doanh
512.236
20.234
400.000
534.484
164.368
301.875
104%
Nhóm I – K41DQ2 Page 20 of 30 Hà nội, tháng 08 năm 2011
Tiểu luận : Kinh doanh Chứng khoán.
- Thu lãi đầu tư 80.868 48.286
Hoạt động tư vấn, bảo
lãnh phát hành
3.212 5.600 174%
Lưu ký, khác 2.419 4.573 189%
Thu dịch vụ ròng 18.558 42.672 229% 42.000 101%
Chỉ tiêu chất lượng
Thị phần môi giới theo giá
trị giao dịch thực hiện tại
công ty
3.2% 2.34% 73% 3.2% 70%
Chỉ tiêu hiệu quả
- Lợi nhuận trước thuế
- ROE
(515.363) 399.018
- 71.15%
390.000
Nguồn: Công ty chứng khoán BSC
Nhìn vào bảng cơ cấu doanh thu của BSC ta có thể dễ dang thấy được: Tuy số liệu còn khá

Công ty TNHH Chứng khoán Á Châu (ACBS) 5
Công ty cổ phần Chứng khoán Đệ Nhất (FSC) 0
Công ty TNHH Chứng khoán Thăng Long (TSC) 3.2
Công ty Chứng khoán Mê Kông (MSC) 0
Công ty chứng khoán Ngân hàng Đông Á 0
Công ty cổ phần Chứng khoán Tp. Hồ Chí Minh (HSC) 0
Nguồn: Ủy ban Chứng khoán Nhà nước
Từ bảng trên ta thấy hoạt động bảo lãnh phát hành của Công ty chứng khoán Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chiếm tỷ lệ cao nhất so với các công ty chứng khoán cùng
hoạt động, hoạt động bảo lãnh phát hành của Công ty chứng khoán Ngân hàng ĐT & PT Việt Nam
không cao nhưng cũng đứng thứ 4 sau 3 Công ty chứng khoán của 3 Ngân hàng: Ngân hàng Công
thương Việt Nam. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn đều là những Ngân hàng hàng đầu Việt Nam. Để xem xét rõ hơn về hoạt động bảo lãnh
phát hành của công ty so với hoạt động này tại các công ty khác ta có thể so sánh thị phần hoạt
động của BSC với các công ty tiêu biểu trên TTCK như sau:
Bảng 6: Thị phần hoạt động bảo lãnh phát hành của BSC.
( Đơn Vị: Phần trăm )
( Nguồn: UBCK )
Hoạt động bảo lãnh phát hành của BSC là không phải là một thế mạnh của công ty và cả trên thị
trường,mặc dù vậy nó vẫn chiếm một tỷ lệ nhỏ, chiếm 6,96% thị phần của cả thị trường. Vì thế,
hoạt động này của công ty vẫn có vị thế trên thị trường, do vậy để phát triển hơn nữa hoạt động
này trên thị trường thị BSC cần phải có được các chiến lược để phát triển mạnh hơn nữa , trở
thành một trong những công ty dẫn đầu hoạt động bảo lãnh phát hành tăng doanh thu cho công ty
và góp phần quan trọng vào công cuộc cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước của chính phủ,
Nhóm I – K41DQ2 Page 22 of 30 Hà nội, tháng 08 năm 2011
Công ty VCBS IBS ARSC BSC BCSC ABCS Công ty
khác
Thị phần 23.38 22.53 28.42 6.96 5.79 8.69 2.78
Tiểu luận : Kinh doanh Chứng khoán.
phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam. Thị phần hoạt động bảo lãnh phát hành của Công ty

2.Đánh giá về hoạt động bảo lãnh phát hành của BSC.
2.1. Những kết quả đạt được
Cũng như các công ty chứng khoán khác, BSC ra đời nhằm mục đích hoạt động kinh doanh
thu lợi nhuận và góp phần phát triển TTCK còn non trẻ tại Việt Nam. Tuy là một công ty ra đời
sau một số công ty chứng khoán khác trên thị trường nhưng BSC đã biết tận dụng điều đó làm lợi
thế cho chính mình, từ thực trạng hoạt động của các công ty ra đời trước BSC đã biết rút ra bài học
quản lý cho chính hoạt động của mình nhờ đó mà trong năm năm hoạt động công ty đã đạt được
những kết quả rất đáng khích lệ góp phần cho sự phát triển chung của TTCK Việt Nam.
Doanh thu của Công ty đã không ngừng tăng qua các năm và trở thành một công ty con của
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam ( NHĐT & PTVN) mang lại doanh thu lớn nhất cho
Công ty mẹ. Năm 2009 lợi nhuận của công ty là 400 tỷ đồng và chiến lược trong năm 2010 này
Nhóm I – K41DQ2 Page 23 of 30 Hà nội, tháng 08 năm 2011
Tiểu luận : Kinh doanh Chứng khoán.
công ty sẽ tiếp tục hoàn thiện mạng lưới kinh doanh của mình và sẽ mang lại doanh thu cao hơn
cho NHĐT & PTVN. Trong điều kiện khó khăn chung của TTCK non trẻ Việt Nam BSC đã có
những chiến lược đúng đắn để đưa công ty phát triển đi lên:
Đẩy mạnh kinh doanh chứng khoán có kỳ hạn ( Repo, Rerepo ), mở kênh thu mua chứng
khoán lẻ, khai thác tốt quan hệ quốc tế nhằm thu hút thêm nguồn vốn đầu tư nước ngoài tạo thêm
hướng phát triển mới cho cả thị trường chứng khoán Việt nam. Đồng thời công ty còn phát triển
thêm các dich vụ mới bên các các dịch vụ truyền thống của công ty như là thuần kinh doanh trái
phiếu chính phủ sang kinh doanh trái phiếu doanh nghiệp, phát triển các nghiệp vụ mà công ty còn
yếu như nghiệp vụ tư vấn đầu tư, kinh doanh chứng khoán.
Về cơ cấu tổ chức và nhân sự: Công ty đã hình thành được cho mình một khung bộ máy hoạt
động hợp lý và có hiệu quả, tránh được các thủ tục không cần thiết trong hoạt động thu hút được
ngày càng nhiều công chúng đầu tư quan tâm tới sự phát triển của thị trường chứng khoán. Xây
dựng được một đội ngũ cán bộ trẻ có năng lực, làm việc sáng tạo và có hiệu quả…
Về mạng lưới hoạt động: Hiện nay BSC đã xây dựng được cho mình một hệ thống đại lý
nhận lệnh rất lớn rải ở khắp các tỉnh trên khắp toàn quốc.Trong năm 2007 số vốn điều lệ của BSC
đã được Ngân hàng mẹ tăng lên là 700 tỷ đồng với số vốn này chắc chắn công ty sẽ có được những
bước phát riển mới nhằm tăng doanh thu cho công ty, phát triển mạnh hơn nữa các nghiệp vụ

trò quyết định đến thành công của một công ty. Các công ty chứng khoán là những công ty hoạt
động trong lĩnh vực tài chính-tiền tệ với những sản phẩm dịch vụ cao cấp của thị trường đòi hỏi
phải có một đội ngũ nhân viên dầy dạn kinh nghiệm và tinh thông nghiệp vụ. TTCK Việt Nam là
một TTCK non trẻ nên đội ngũ cán bộ của thị trường không thể tránh khỏi việc thiếu nguồn nhận
lực có kỹ năng và BSC cũng không là ngoại lệ.
- Là công ty con của NHĐT & PTVN, BSC nhận được rất nhiều lợi thế nhưng đó cũng là một
hạn chế của BSC khi phải đồng thời chịu sự quản lý đôi khi không đồng bộ giữa NHĐT&PTVN
với ủy ban chứng khoán (UBCK) và các cơ quan chức năng. Đông thời với nguồn vốn điều lệ do
NH ĐT& PTVN VN cấp BSC không thể tự tăng nguồn vốn điều lệ này nhằm phát triển mạnh hơn
hoạt động của công ty trong điều kiện công ty có thể và các chính sách thu hút nguồn nhân lực,
tăng thêm biên chế cho công ty BSC cũng không có khả năng tự điều chỉnh.
- Doanh thu các hoạt động của BSC chênh lệnh nhau quá nhiều, điều này
ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của BSC.
Nhận định và phân tích được những hạn chế cũng như thuận lợi đó của công ty, BSC đã đưa
ra được những chính sách và chiến lược hợp lý không ngừng năng cao khả năng cạch tranh của
công ty trên thị trường, là công ty ra đời sớm chiếm lĩnh được thị trường một cách ổn định phát
triển ngày càng đưa công ty phát triển đi lên góp phần xây dựng phát triển TTCK Việt Nam.
Tóm lại: Trong chương 2 này cho thấy một cái nhìn tổng quan về BSC và hoạt động bảo lãnh
phát hành chứng khoán của BSC. Cho thấy vai trò quan trọng của hoạt động bảo lãnh phát hành
chứng khoán đối với thị trường và đối với Công ty,mặc dù không phải là một trong hai hoạt động
chính mang lại doanh thu rất lơn cho công ty nhưng hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán
của Công ty cấn phái được sự quan tâm đặc biệt hơn nữa nhằm khai thác tối đa thế mạnh đó của
công ty trên thị trường để nâng cao phát triển hoạt động bảo lãnh. Trong tương lai hoạt động này
vẫn cần phải được quan tâm phát triển hơn nữa nhằm tạo ra một lượng hàng hoá đầy đủ và có chât
lượng cho thị trường mặc dù chiến lược hiện nay của công ty đang quan tâm phát triển một số hoạt
Nhóm I – K41DQ2 Page 25 of 30 Hà nội, tháng 08 năm 2011


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status