Nhóm 5 BBĐ giới ở nông thôn
1 Thảo luận nhóm:
Chủ đề:
BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở NÔNG THÔN
DANH SÁCH NHÓM
1. Lê Thị Thành Tuyên
2. Nguyễn Thị Hiền
3. Nguyễn Minh Trang
4. Triệu Đức Tính
5. Võ Bá Hiếu
6. Lê Thị Mai
Nhóm 5 BBĐ giới ở nông thôn
2
I. KHÁI NIỆM VÀ CÁC QUAN ĐIỂM VỀ BBĐ GIỚI
Bất bình đẳng giới: Nói một cách đơn giản, đó là sự không
ngang bằng nhau giữa cá nhân nam giới và phụ nữ, giữa các nhóm
phụ nữ và nam giới trong các cơ hội, việc tiếp cận các nguồn lực và
sự sử dụng, hưởng thụ những thành quả xã hội
d. Bất bình đẳng giới ở nông thôn
Bất bình đẳng giới ở nông thôn tức là sự không ngang bằng nhau
giữa các nhân nam giới và phụ nữ, giữa các nhóm phụ nữ và nam
giới trong các cơ hội, tiếp cận các nguồn lực và sự sử dụng, hưởng
thụ những thành quả xã hội xảy ra trên khu vực nông thôn.
2. Các quan điểm về BBĐ giới
Bất bình đẳng nam nữ ( bất bình đẳng giới) là một hiện tượng
xuất hiện trong quá trình phát triển của nhân loại. Sự áp bức phụ nữ
là hình thức áp bức sớm nhất trong lịch sử nhân loại, theo cách diễn
đạt của F. Engels: “Sự đối lập giai cấp đầu tiên xuất hiện trong lịch
sử là trùng với sự phát triển đối kháng giữa chồng và vợ trong hôn
nhân cá thể và sự áp bức đầu tiên là trùng với sự nô dịch của đàn
ông đối với đàn bà”. Đây là một số quan điểm về bất bình đẳng giới:
a. Nhìn nhận từ góc độ triết lý
Chịu ảnh hưởng tư tưởng quan niệm bất bình đẳng giới, coi
thường phụ nữ của các danh nhân trong các thế kỷ trước. Trong lịch
sử hình thành con người: Thượng đế tạo con người không hề nghĩ ra
phụ nữ, sau này thượng đế lấy xương sườn thứ 7 của nam giới làm
ra phụ nữ, chẳng qua là tạo nên nữ giới từ việc lấy thêm một bộ
phận của nam giới mà thôi. Một nền văn hóa coi phụ nữ như là một
Nhóm 5 BBĐ giới ở nông thôn
4
loại của cải (như ngôi nhà, con trâu ), là một loại hình của cải của
nam giới.
b. Quan điểm “ văn hóa cao hơn tự nhiên”
ngôn hạnh”. Phụ nữ không có quyền hành gì trong mọi việc của gia
đình và xã hội, mọi việc do đàn ông quyết định. Công việc của
người phụ nữ là ở nhà sinh đẻ và bị giới hạn hoàn toàn về công việc
của xã hội. Đăc biệt, phụ nữ không được quyền học hành thi cử.
Những định kiến về nữ giới trong thời kỳ phong kiến rất sâu
sắc đặc biệt là phụ nữ nông thôn.
Trước Cách mạng tháng Tám, phụ nữ Việt Nam vẫn phải chịu
những luật lệ hà khắc của chế độ cũ. Một người phụ nữ “chửa
hoang” thì bị xã hội lên án nặng nề và phải chịu những hình phạt dã
man như “cạo đầu bôi vôi” hay “thả bè trôi sông”. Trong khi đó,
nam giới thì năm thê bảy thiếp.
Như vậy có thể nói tư tưởng trọng nam khinh nữ đã ăn sâu
vào tiềm thức của con người Việt Nam.
Vấn đề định kiến về giới và sự bất bình đẳng giới trong xã hội
cũ đã được ca dao tục ngữ và thành ngữ Việt Nam thể hiện khá rõ
rệt. Định kiến giới đánh giá thấp vai trò vị trí năng lực của người
phụ nữ, điều này vẫn tồn tại đến ngày nay.
Thân em như hạt mưa xa
Hạt rơi xuống giếng hạt ra vườn hồng
(ca dao Việt Nam)
Kể cả trong thơ văn, nhiều nhà thơ đã lên tiếng xót xa cho thân phận
người phụ nữ, mà tiêu biểu là Nguyễn Du trong tác phẩm Truyện
Kiều.
Nhóm 5 BBĐ giới ở nông thôn
6
"Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”
2. Thực trạng bất bình đẳng giới diễn ra ở nông thôn nước ta
khoẻ và gia đình của họ, thiếu thời gian nghỉ ngơi, giải trí và tham
gia các hoạt động xã hội trong cộng đồng cũng như các cơ hội tham
gia đảm nhận các vị trí quản lý và lãnh đạo, có rất ít thời gian để
tham gia vào các khoá đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ, kỹ
năng và sự tự tin do đó khả năng di động xã hội của phụ nữ thấp hơn
rất nhiều so với nam giới.
Khác biệt về thu nhập.
Ở nước ta, nghiên cứu cho thấy phụ nữ thu nhập thấp hơn nam giới
trong mọi ngành nghề. Trung bình năm 2004, một phụ nữ kiếm
được 83% so với lương của nam giới ở thành thị và 85% so với
lương của nam giới ở nông thôn (WB và các tổ chức khác, 2006).
Sự bất bình đẳng giới về thu nhập trong lao động có thể phản ánh
sự kết hợp của các yếu tố trong đó có sự khác biệt về trình độ văn
hóa, chuyên môn, kinh nghiệm và những nguyên nhân khác cộng
với sự phân biệt đối xử.
b. Đại diện của phụ nữ ở các cấp ra quyết định trong các ngành
còn rất ít
Hiện có rất ít cán bộ chủ chốt là nữ trong các ban, ngành, đoàn
thể. Tính chung trong tất cả các Cục, Vụ, Viện, Tổng Công ty và các
trường trong mỗi ngành chỉ có trung bình 5,7% cán bộ lãnh đạo (
cấp phó và tương đương) là nữ. Trên toàn quốc phụ nữ chỉ chiếm
4,5% lãnh đạo các UBND xã; 4,9% lãnh đạo UBND huyện và 6,4%
lãnh đạo UBND tỉnh.
Nhóm 5 BBĐ giới ở nông thôn
8
Nhìn tổng thể, tiếng nói của phụ nữ trong việc ra quyết định là
yếu và chưa tương xứng với khối lượng công việc và trách nhiệm
mà họ gánh vác.(Theo báo Hà Nội Mới ra ngày 14- 10-2009).
c. Bất bình đẳng trong giáo dục, đào tạo, tập huấn.
em
52.4
8.1
Từ những con số trên ta có thể thấy được ở nông thôn Việt Nam
hiện nay sự định kiến trong học tập vẫn rõ rệt giữa nam và nữ.
Nguyên nhân dẫn tới điều này là do khi lập gia đình phũ
nữ phải đảm trách nhiều công việc từ đồng áng cho tới việc nhà,
chăm sóc con cái. Do đó họ ít có thời gian, cơ hội để tham gia và
Nhóm 5 BBĐ giới ở nông thôn
9
các khóa tập huấn nâng cao tay nghề hay theo các khóa học nâng
cao trình độ học vấn.
d. Bất bình đẳng giới trong lao động – việc làm
Thiếu việc làm vẫn đang là vấn đề bức xúc ở nông thôn. Tỷ lệ
phụ nữ nông thôn thiếu việc làm đã tăng dần trong giai đoạn 1996 –
2002, đặc biệt khó cạnh tranh để kiếm việc làm thêm do họ thiếu kỹ
năng lao động cần thiết cũng như thiếu vốn để đa dạng hóa hoạt
động sản xuất, kinh doanh. Và hiển nhiên trong thời buổi hội nhập
vấn đề này càng gặp khó khăn hơn, khi mà chỉ có 9,2% lực lượng
lao động nữ ở nông thôn từng được đào tạo kỹ thuật, trong khi tỷ lệ
này ở nam giới là 15,2%.
e. Bất bình đẳng giới trong gia đình.
Quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa nông thôn tạo cho gia
đình Việt Nam điều kiện tiếp thu những giá trị văn hóa mới của xã
hội hiện đại. Sự biến đổi về quy mô, cơ cấu và chức năng của gia
ụ
n
ữ/trẻem gái
Nam gi
ới/trẻ
em trai
Công vi
ệc sản
xuất
Hoạt động 1
Hoạt động 2
Hoạt động 3
8 ti
ếng
Gieo hạt/chăn nuôi
Chăm sóc cây lúa
Nghề phụ…
8 ti
ếng
Cày bừa
Trồng cây
ệc cộng
đồng
Có
th
ể
t
ới 15'
Tham dự cuộc họp
Có
th
ể
t
ới 15'
Tham dự cuộc họp
trong làng
Nhóm 5 BBĐ giới ở nông thôn
11
Hoạt động 1
Hoạt động 2
trong làng
Dọn vệ sinh làng xóm
C
ả hai
Đ
ất nông nghiệp
66
19
15
Đ
ất ở
60
22
18
Nguồn: NHTG, 2006 sử dụng số liệu của Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam 2004.
Nhóm 5 BBĐ giới ở nông thôn
12
Tình trạng này đã gây khó khăn cho phụ nữ khi họ cần thế chấp
quyền sử dụng đất để vay vốn, chia đất khi ly hôn, khi lấy chồng
hoặc thừa kế đất khi người chồng qua đời. Phần lớn PN khó đáp ứng
được đầy đủ các điều kiện vay vốn tín dụng chính thức vì họ không
phải là chủ hộ và không đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử
là bạo lực do nam giới thực hiện với phụ nữ (hoặc các em gái).
Mặc dù số liệu thống kê về vấn đề này rất khó thu thập nhưng
theo báo cáo của Bộ Công an thì trên phạm vi toàn quốc cứ 2-3 ngày
có một người bị giết liên quan tới bạo lực gia đình. Trong năm 2005,
có14% số vụ giết người liên quan tới bạo lực gia đình. Ba tháng đầu
năm 2006 tỉ lệ này là 30.5%. Phần lớn các vụ bạo lực xảy ra trong
gia đình thuộc diện bạo lực của người chồng đối với người vợ hoặc
của người lớn đối với trẻ em. Số còn lại là những hành vi bạo lực
khác giữa các thành viên trong gia đình với nhau, như con cái đối
với cha mẹ già, anh em họ hàng trong gia đình với nhau, bố mẹ
chồng với nhau.
Bạo lực gia đình vẫn là một vấn đề tồn tại.Mặc dù chưa có số
liệu hoàn chỉnh về bạo lực gia đình ở Việt Nam nhưng mức độ và
tác động của nó thì ngày càng được thừa nhận. Bạo lực gia đình xảy
ra ở mọi tầng lớp, hoàn cảnh kinh tế và xã hội. Các cuộc nghiên cứu
nhỏ về bạo lực gia đình không mang tính đại diện đóng góp một cái
nhìn thoáng qua về hiện tượng này.
Theo một nghiên cứu do Hội LHPNVN thực hiện ở các tỉnh
Thái Bình, Lạng Sơn và Tiền Giang, có tới 40% phụ nữ nói đã từng
có lúc bị chồng đánh (Hội LHPNVN 2006, trích dẫn trong Tin tức
Việt Nam 13/3/2006 HLHPNVN ngăn chặn bạo lực gia đình).
Nghiên cứu này cũng cho thấy 66% số vụ li dị là do bạo lực gia đình
Nhóm 5 BBĐ giới ở nông thôn
14
(Tin tức ) các bé gái thường xuyên phải chịu bạo lực giới như tình
trạng bạo lực thân thể, bạo lực/lạm dụng tình dục, bạo lực tinh
thần/tình cảm.
3. Nguyên nhân của sự BBĐ giới
a. Sự khác biệt về mặt thể chất giữa nam và nữ.
12
7
Nam
20
40
20
12
8
Xét về mặt cấu tạo cơ thể và chức năng thực hiên các hành động
thì nam giới là người có ưu thế hơn về mặt thể lực. Đây là một
trong những nguyên nhân gây ra tình trạng bất bình đẳng giới
b. Về mặt xã hội
Hiện tượng bất bình đẳng tạo ra những hệ quả xã hội to lớn.
Ảnh hưởng từ quá trình tiếp cận nguồn lực của nam giới và phụ nữ
đến sự phát triển của xã hội là một thực tế đã được chứng minh.
Dưới dây là một số yếu tố ảnh hưởng dến các quan hệ giưói và bất
bình đẳng xã hội:
Các thể chế xã hội, các chuẩn mực xã hội, tập quán xã hội,
quyền hạn, luật lệ cũng như các thể chế kinh tế thị trường, … tác
động rất lớn đến loại nguồn lực mà họ được tiếp cận, hoạt động nào
mà giới nào được phép tham gia giới nào được phép tham gia nền
Như vậy, các thể chế xã hội, thể chế kinh tế, hộ gia đình và
các chính sách phát triển sẽ cùng nhau quyết định các cơ hội cuộc
sống – xét trên khía cạnh giới của con người. Chúng cũng thể hiện
những điểm đột phá quan trọng cho chính sách công cộng nhằm giải
quyết sự bất bình đẳng giới .
Nhóm 5 BBĐ giới ở nông thôn
16
III. CUỘC ĐẤU TRANH TIẾN ĐẾN BÌNH ĐẲNG GIỚI
1. Một số thành tựu
Trong những thập kỷ gần đây, Việt Nam đã đạt được những
tiến bộ nổi bật trong việc cải thiện điều kiện sống của nhân dân và
giảm chênh lệch giới, phản ánh các nỗ lực đáng kể của đất nước
trong xóa đói giảm nghèo và cam kết của Chính phủ tiến tới bình
đẳng giới. Việt Nam đứng thứ 109 trong số 177 quốc gia về chỉ số
phát triển con người của Chương trình phát triển liên hiệp quốc
(UNDP, 2006), và thuộc nhóm các quốc gia trung bình về phát triển
con người. Như được chỉ ra trong bảng 1, các chỉ số về tuổi thọ, tỷ
lệ biết chữ của người lớn và tỷ lệ trẻ em đến trường của Việt Nam
ngang hàng với mức trung bình của các nước Đông Á và Thái Bình
Dương lànhững nước mà đa số có bình quân thu nhập quốc dân
(GDP) cao hơn Việt Nam nhiều lần.
So sánh các chỉ số phát triển con người ở Đông Á Vi
ệ
t Nam
Đông Nam Á
ỉ
l
ệ
bi
ế
t ch
ữ
ở
ngư
ờ
i l
ớ
n
(%dân số tuổi từ 15 trở lên)
90.3
90.7
T
ỉ
l
ệ
đi h
ọ
đảm bảo sự tiến triển đúng hướng.
Vấn đề thứ nhất là sự tụt hậu của phụ nữ và trẻ em gái dân tộc
thiểu số so với nam giới dân tộc thiểu số và phụ nữ người
Kinh và Hoa trong tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục và các
cơ hội kinh tế.
Vấn đề thứ hai là khuôn mẫu giới cố hữu trong sách giáo
khoa thúc đẩy bất bìnhđẳng giới.
Phụ nữ trong nông nghiệp là vấn đề thứ ba, với thực tế một
số lượng khổng lồ phụ nữ Việt Nam tham gia vào nông
nghiệp và vai trò ngày càng quantrọng của họ trong lĩnh vực
này.
Cuối cùng là vấn đề gia tăng số lượng phụ nữ tham gia vào ra
quyết định còn tiến triển chậm và chưa nhất quán. Các đề
xuất nhằm đảm bảo duy trì sự tiến triển bao gồm:
- Xác lập các giải pháp đổi mới nhằm tăng cường khả năng
tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục và nông nghiệp ở các vùng có
người dân tộc thiểu số;
- Xây dựng các mô hình và tài liệu nhạy cảm về giới để sử
dụng trong trường học;
- Xây dựng các giải pháp sáng tạo nhằm hỗ trợ nữ nông dân
một cách chủ động hơn;
- Xây dựng lộ trình thay đổi chính sách, đào tạo, công cụ và
nguồn lực để tăng sốphụ nữ tham gia vào ra quyết định.
3. Giải pháp đề xuất
Bất bình đẳng giới đang còn tồn tại trong xã hội hiện nay, vì
vậy chủ trương của Đảng - Nhà nước và bản thân mỗi chúng ta cần
phải đưa ra các giải pháp tối ưu nhất nhằm giải quyết vấn đề này .
Nhóm 5 BBĐ giới ở nông thôn
18
chương trình dạy học tuyên truyền trong các trường về bất bình
đẳng giới. Sự tham gia của nam giới và trẻ em trai, giáo dục nam giới
và trẻ em trai cũng như nữ giới và trẻ en gái về lợi ích của bình
Nhóm 5 BBĐ giới ở nông thôn
19
đẳng giới và cùng đưa ra quyết định có thể giúp họ tạo ra mỗi quan
hệ tốt hơn cả hiện tại và sau này.
Nhóm 5 BBĐ giới ở nông thôn
20