MỤC LỤC :
A. LỜI MỞ ĐẦU .............................................................................................1
B. NỘI DUNG :.................................................................................................2
I. VỀ KHÁI NIỆM HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG THEO LUẬT TỔ CHỨC
TÍN DỤNG VÀ KHÁI NIỆM DỊCH VỤ TÀI CHÍNH THEO QUAN ĐIỂM
CỦA WTO ..........................................................................................................2
1. Luật tổ chức tín dụng hiện hành với ghi nhận về khái niệm “hoạt động
ngân hàng”....................................................................................................2
2. Về khái niệm “dịch vụ tài chính” theo quan điểm của WTO ......................4
II. MỘT SỐ NHÌN NHẬN VỀ HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG VÀ CÁC
HOẠT ĐỘNG KHÁC CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG THEO LUẬT
CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG NĂM 2010 VỚI KHÁI NIỆM DỊCH VỤ
TÀI CHÍNH CỦA WTO và NHỮNG CƠ HỘI, THÁCH THỨC CỦA
VIỆT NAM TRONG LĨNH VỰC NÀY TRƯỚC THỀM HỘI
NHẬP .............................................................................................................7
1. Về hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác của các tổ chức tín
dụng theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 so với khái niệm dịch vụ
tài chính của WTO ............................................................................7
2. Những cơ hội và thách thức đối với một số lĩnh vực trong thị trường
dịch vụ tài chính Việt Nam trước thềm hội nhập...............................12
a. Những cơ hội và thách thức đối với dịch vụ bảo hiểm và các dịch vụ liên
quan đến bảo hiểm ......................................................................................12
b. Những cơ hội và thách thức đối với dịch vụ ngân hàng..............................13
C. LỜI KẾT......................................................................................................15
1
A. LỜI MỞ ĐẦU :
Ngày 11-1-2007, Việt Nam trở thành thành viên 150 của tổ chức Thương mại thế
giới (WTO). Hơn ba năm qua, trên con đường hội nhập quốc tế, nước ta đã tham
gia đầy đủ các định chế kinh tế toàn cầu, mở rộng thị trường hàng hóa dịch vụ, đầu
tư quốc tế, đổi mới mạnh mẽ hơn và đồng bộ hơn các thể chế, đồng thời cũng dần
dần hoàn thiện hệ thống luật pháp và cải tiến nền hành chính quốc gia theo hướng
niệm để nhận dạng và phân biệt với các hoạt động khác .
Theo khoản 12 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 có giải thích : “Hoạt
động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các
nghiệp vụ sau đây :
a; Nhận tiền gửi;
b; Cấp tín dụng;
c; Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
Trước hết cần phải nhận định rõ khái niệm “hoạt động ngân hàng” hoàn toàn khác
với cụm từ chỉ hoạt động của ngân hàng (hay hoạt động của các tổ chức tín dụng).
Theo đó, có thể nhận dạng hoạt động ngân hàng theo quy định của luật này bằng
các đặc điểm đó là :
Thứ nhất, hoạt động ngân hàng là việc “kinh doanh, cung ứng một cách thường
xuyên”, như vậy có thể hiểu rằng đây là một hoạt động kinh doanh trong nền kinh
tế nhằm mục đích sinh lời từ việc buôn bán, cung cấp dịch vụ nhằm đáp ứng nhu
cầu của khách hàng thông qua việc thực hiện các công việc có tính chuyên môn.
Hoạt động này phải được diễn ra một cách liên tục, ổn định và phải được thực hiện
bởi các tổ chức tín dụng theo đúng các quy định của pháp luật, đầy đủ điều kiện để
có thể kinh doanh, cung ứng các nghiệp vụ đặc thù. Đây là một lĩnh vực kinh
doanh tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế, các chủ thể thực hiện hoạt động ngân
hàng có ảnh hưởng đặc biệt tới nhau, sự sụp đổ của một chủ thể có kinh doanh các
hoạt động này có thể đồng thời kéo theo sự ảnh hưởng nghiêm trọng tới các chủ
thể khác và tới nền kinh tế của đất nước.
3
Thứ hai, đối tượng của hoạt động kinh doanh, cung ứng này có thể là một hoặc
một số các nghiệp vụ : nhận tiền gửi; cấp tín dụng; cung ứng dịch vụ thanh toán
qua tài khoản. Có thể thấy rằng, đây là một hoạt động kinh doanh có những đặc
trưng khác biệt so với các hoạt động kinh doanh dịch vụ đời sống, sản xuất hàng
hóa khác bởi đây là những hoạt động mang tính chuyên môn. Đối tượng của lĩnh
vực kinh doanh này tập trung tới một đối tượng đặc biệt nhất của nền kinh tế, đó
chính là tiền tệ, những hoạt động mang tính chuyên môn đó đều xoay quanh nhu
được phạm vi và đối tượng hoạt động chính đã được ghi nhận. Tuy nhiên với thời
điểm hiện tại, khi các hoạt động kinh doanh, dịch vụ trong nền kinh tế thị trường
ngày một đa dạng thì hoạt động ngân hàng cũng đòi hỏi phải có những thay đổi và
mở rộng để bảo đảm có thể là chất xúc tác thúc đẩy được các hoạt động kinh
doanh, sản xuất khác. Với cách giải thích như luật hiện hành, có thể thấy nhiều
vấn đề đã được mở rộng hơn so với các văn bản trước đó.
2) Về khái niệm “dịch vụ tài chính” theo quan điểm của WTO :
Dịch vụ tài chính( Financial Services) được xem là một hệ thống cấu thành của
loại hình dịch vụ mang tính chất thương mại, nói cách khác, đây là loại dịch vụ
kinh doanh có tính chất thị trường bao gồm: dịch vụ ngân hàng, dịch vụ bảo hiểm,
dịch vụ chứng khoán, tư vấn đầu tư… Tuy nhiên trên thế giới hiện nay chưa có một
định nghĩa chính xác thống nhất nào về dịch vụ tài chính mặc dù thuật ngữ này đã
được sử dụng rất phổ biến và có tính quy phạm.
Năm 1997 các nước thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO đã ký kết
một thoả thuận về dịch vụ tài chính như là một phần trong hiệp định chung về
thương mại dịch vụ (GATS). Trong phần các nghĩa vụ và quy định chung, Hiệp
định điều chỉnh thương mại tất cả các loại dịch vụ . Như vậy, GATS được áp dụng
cho tất cả các loại dịch vụ được trao đổi trên thế giới, chẳng hạn như các dịch vụ
ngân hàng, viễn thông, du lịch, các dịch vụ chuyên nghiệp ... Hiệp định cũng định
nghĩa 4 phương thức trao đổi dịch vụ:
- Một nước cung ứng dịch vụ cho một nước khác (chẳng hạn các cuộc gọi quốc tế),
được gọi tên chính thức là “cung ứng dịch vụ qua biên giới” (hay “phương thức 1”
theo ngôn từ của WTO)
- Người tiêu dùng hoặc doanh nghiệp sử dụng dịch vụ tại một nước khác (ví dụ
như du lịch), được gọi tên chính thức là “tiêu dùng dịch vụ ở nước ngoài”
(“phương thức 2”)
- Doanh nghiệp nước ngoài lập chi nhánh hoặc công ty con tại một nước nhằm
cung ứng dịch vụ tại nước đó (chẳng hạn các giao dịch của ngân hàng nước ngoài
tại một nước), được gọi tên chính thức là “hiện diện thương mại” (“phương thức
3”)
a – Dịch vụ bảo hiểm và liên quan đến bảo hiểm. bao gồm :
• dịch vụ bảo hiểm nhân thọ, tai nạn y tế;
• Dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ;
• Tái bảo hiểm và nhượng tái bảo hiểm;
6