MỤC LỤC
Mở đầu
Nội dung
I. Pháp luật huy động vốn thông qua hoạt động phát hành giấy tờ có
giá của tổ chức tín dụng
1. Khái niệm
a) Giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng phát hành
b) Phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng
2. Chủ thể
3. Trình tự phát hành giấy tờ có giá
4. Phương thức phát hành giấy tờ có giá
II. Cơ chế xác lập giao dịch phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín
dụng
III. Một vài nhận xét về pháp luật huy động vốn thông qua phát hành
giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng.
Kết luận
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
MỞ ĐẦU
Vốn kinh doanh của các tổ chức tín dụng chủ yếu là từ nguồn vốn huy
động. Vì vậy, nghiệp vụ huy động vốn là nghiệp vụ kinh doanh quan trọng
trong các nghiệp vụ kinh doanh của tổ chức tín dụng. Pháp luật quy định, tổ
chức tín dụng huy động vốn thông qua các hình thức: nhận tiền gửi, phát
hành giấy tờ có giá, vay vốn giữa các tổ chức tín dụng hoặc được vay vốn
của Ngân hàng nhà nước. Trong đó, hình thức huy động vốn bằng hình thức
phát hành giấy tờ có giá cũng rất quan trọng. Nghiên cứu vấn đề “Tìm hiểu
pháp luật huy động vốn thông qua hoạt động phát hành giấy tờ có giá của tổ
chức tín dụng và những đánh giá, nhận xét của tác giả về vấn đề nêu trên” sẽ
giúp chúng ta có cái nhìn sâu hơn về vấn đề này.
NỘI DUNG
I. PHÁP LUẬT HUY ĐỘNG VỐN THÔNG QUA PHÁT HÀNH
+ Mệnh giá
+ Thời hạn giấy tờ có
+ Ngày phát hành
+ Ngày đến hạn thanh toán
+ Lãi suất được hưởng, phương thức trả lãi, thời điểm, địa điểm trả lãi
+ Nội dung khác
- Giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng phát hành gồm giấy tờ có giá
ngắn hạn (thời hạn dưới 12 tháng như kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn
tín phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác) và giấy tờ có giá dài hạn (thời
3
hạn từ 12 tháng trở lên như trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi dài hạn và các giấy
tờ có giá dài hạn khác).
- Các giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng phát hành có thể thể hiện dưới
hình thức chứng chỉ hoặc ghi sổ, có thể là loại giấy tờ có ghi danh hoặc
không ghi danh. Hình thức chứng chỉ ghi danh áp dụng đối với người mua là
cá nhân. Hình thức chứng chỉ vô danh áp dụng đối với người mua là cá nhân
và tổ chức. Hình thức ghi sổ áp dụng đối với người mua là tổ chức có tài
khoản tiền gửi tại tổ chức tín dụng phát hành. Trường hợp phát hành giấy tờ
có giá theo hình thức ghi sổ, tổ chức tín dụng phát hành phải cấp chứng nhận
quyền sở hữu giấy từ có giá cho người mua.
Các giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng phát hành được chuyển nhượng
quyền sở hữu dưới các hình thức mua, bán, tặng, cho, trao đổi, thừa kế hoặc
người sở hữu giấy tờ có giá có thể dung làm vật cầm cố…
- Mệnh giá của giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng phát hành được quy
định như sau:
Mệnh giá của giấy tờ có giá ngắn hạn được in sẵn hoặc theo thoả
thuận của tổ chức tín dụng phát hành với người mua.
Mệnh giá của giấy tờ có giá dài hạn do tổ chức tín dụng phát hành
theo hình thức chứng chỉ bẳng đồng Việt Nam thì mệnh giá tối thiểu là một
triệu đồng và tối đa là mọt tỷ đồng. Nếu phát hành bằng ngoại tệ thì mệnh
này thực chất chưa hề có giá trị thực tế, nghĩa là không thể hoán đổi chúng
thành tiền hay các tài sản khác có giá trị tương đương với số tiền ghi trên
mệnh giá của chứng thư. Điều đó cho thấy, chỉ khi nào khách hàng chấp
5
nhận trao đổi chứng thư đó với tổ chức tín dụng bằng số tiền tương đương
mệnh giá của chứng thư thì khi đó, chứng thư này mới thực sự là có giá trị
và mới phản ánh đúng tên gọi của nó là “giấy tờ có giá” hay “tư bản giả”.
+ Hai là, về đối tượng của giao dịch, mặc dù tên gọi của giao dịch là
“phát hành các giấy tờ có giá” nhưng đối tượng của giao dịch này không
phải là các giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng phát hành, mà chính là các
khoản tiền vốn do khách hàng đồng ý chuyển quyền sở hữu cho tổ chức tín
dụng với điều kiện tổ chức tín dụng phải hoàn trả cho khách hàng sau một
thời hạn nhất định, kèm theo khoản lãi do các bên thoả thuận. Về lý thuyết,
tuy không phải là đối tượng của giao dịch nhưng các chứng thư này được coi
là hình thức pháp lý của giao dịch, đồng thời là chứng cứ chứng minh quyền
và nghĩa vụ pháp lý của các bên trong quan hệ giao dịch. Mặt khác, xét về
phương diện kinh tế, các chứng thư này cũng được coi là một loại “tiền ngân
hàng” nhưng không phải là tiền do Ngân hàng Trung ương phát hành, mà là
tiền được tạo ra bởi tổ chức tín dụng trong quá trình huy động vốn, thông
qua chức năng “tạo tiền” của tổ chức tín dụng. Trên thực tế, các chứng thư
nhận nợ do tổ chức tín dụng phát hành ra công chúng có thể là chứng khoán
nợ ngắn hạn - có thời hạn thanh toán dưới 1 năm, ví dụ chứng chỉ tiền gửi
ngắn hạn; kỳ phiếu ngân hàng hay tín phiếu của tổ chức tín dụng, hoặc là
chứng khoán nợ dài hạn (có thời hạn thanh toán từ 1 năm trở lên, ví dụ
chứng thư tiền gửi dài hạn hoặc trái phiếu ngân hàng…). Sự phân biệt giữa
hai loại chứng thư nhận nợ này chủ yếu nhằm xác định cơ chế phát hành và
lưu thông chúng như thế nào sau khi đã được phát hành trên thị trường bởi
tổ chức tín dụng (phát hành và bán lại cho ai, ở đâu và bằng cách nào?).
+ Ba là, về tư cách pháp lý, khi phát hành các giấy tờ có giá để vay nợ
của khách hàng, tổ chức tín dụng có tư cách là người vay hay người mắc nợ,