MỤC LỤC
Phần một: Mở đầu 1
Phần hai: Nội dung 1
I. Khái quát chung về hoạt động huy động vốn bằng phát hành giấy tờ có giá của
tổ chức tín dụng
1. Khái quát về hoạt động huy động vốn 1
2. Huy động vốn bằng phát hành giấy tờ có giá 2
3. Vai trò của hoạt động huy động vốn bằng phát hành giấy tờ có giá đối với hoạt
động huy động vốn của tổ chức tín dụng 4
II. Pháp luật điều chỉnh hoạt động huy động vốn thông qua phát hành giấy tờ có
giá của các tổ chức tín dụng
1. Quy định chung về giấy tờ có giá 5
2. Chủ thể phát hành 6
3. Đối tượng được mua giấy tờ có giá 7
4. Điều kiện để phát hành giấy tờ có giá 7
5. Cơ chế xác lập giao dịch phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng
a. Quy trình xác lập 10
b. Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể 11
III. Nhận xét, đánh giá về huy động vốn thông qua hoạt động phát hành giấy tờ
có giá của tổ chức tín dụng
1. Tích cực 11
2. Hạn chế 13
3. Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về huy động vốn thông qua
hoạt động phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng 16
Phần ba: Kết luận 17
1
Phần một: Mở đầu:
Hoạt động huy động vốn của các tổ chức tín dụng (TCTD) là một
trong những hoạt động ngân hàng đặc thù, có liên quan đến lợi ích đông đảo
của người dân trong xã hội, liên quan đến sự ổn định tiền tệ quốc gia, sự an
toàn của hệ thống ngân hàng, sự ổn định và phát triển của nền kinh tế xã
Hai là, TCTD là doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh chính, chủ yếu,
thường xuyên và mang tính nghề nghiệp là hoạt động ngân hàng. Đây là hoạt
động kinh doanh tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cao do tính chất kéo dài của các quan hệ
kinh doanh.
Ba là, TCTD là loại hình doanh nghiệp chịu sự quản lý nhà nước của Ngân
hàng Nhà nước (NHNN) và thuộc phạm vi áp dụng của luật ngân hàng.
Hoạt động của TCTD rất phong phú và đa dạng. Các hoạt động này đã góp
phần quan trọng trong việc luân chuyển nguồn vốn trong nền kinh tế và tạo ra
những tiện ích nhất định cho người dân. Một trong những hoạt động đầu tiên và
được biết tới một cách phổ biến, luôn gắn liền với các tổ chức tín dụng là hoạt
động huy động vốn.
Hiện tại trong các văn bản pháp luật chưa nêu ra khái niệm cụ thể của hoạt
động huy động vốn của các TCTD mà mới chỉ ra các hình thức huy động vốn
được phép của từng loại hình TCTD. Tuy nhiên, một cách khái quát có thể hiểu
hoạt động huy động vốn của TCTD là việc TCTD tập trung các khoản tiền từ các
tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế thông qua bốn hình thức huy động vốn cơ bản:
nhận tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá, vay vốn giữa các TCTD, vay vốn của
Ngân hàng Nhà nước.
2. Huy động vốn bằng phát hành giấy tờ có giá:
Hiện nay, việc huy động vốn bằng hình thức phát hành giấy tờ có giá của
các TCTD chủ yếu được điều chỉnh trong Quy chế phát hành giấy tờ có giá của
TCTD để huy động vốn trong nước ban hành kèm theo quyết định số
07/2008/QĐ-NHNN. Theo đó thì “giấy tờ có giá là chứng nhận của TCTD phát
hành để huy động vốn trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong
3
một thời gian nhất định, điều kiện trả lãi và các điều khoản cam kết khác giữa
TCTD và người mua”. Về bản chất, giấy tờ có giá là một công cụ vay nợ trên thị
trường tiền tệ, thị trường vay vốn dưới hình thức giấy nhận nợ hoặc chứng chỉ
tiền gửi, trong đó TCTD cam kết trả gốc, lãi cho người mua sau một thời gian
nhất định.
trình huy động vốn, thông qua chức năng “tạo tiền” của tổ chức tín dụng. Trên
thực tế, các chứng thư nhận nợ do tổ chức tín dụng phát hành ra công chúng có
thể là chứng khoán nợ ngắn hạn – có thời hạn thanh toán dưới 1 năm, ví dụ
chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn; kỳ phiếu ngân hàng hay tín phiếu của tổ chức tín
dụng, hoặc là chứng khoán nợ dài hạn (có thời hạn thanh toán từ 1 năm trở lên,
ví dụ chứng thư tiền gửi dài hạn hoặc trái phiếu ngân hàng…). Sự phân biệt giữa
hai loại chứng thư nhận nợ này chủ yếu nhằm xác định cơ chế phát hành và lưu
thông chúng như thế nào sau khi đã được phát hành trên thị trường bởi tổ chức
tín dụng (phát hành và bán lại cho ai, ở đâu và bằng cách nào?).
Ba là, về tư cách pháp lý, khi phát hành các giấy tờ có giá để vay nợ của
khách hàng, tổ chức tín dụng có tư cách là người vay hay người mắc nợ, còn
khách hàng “mua” giấy tờ có giá có tư cách là người cho vay hay chủ nợ của tổ
chức tín dụng. Mặc dù có tư cách là người cho vay nhưng do giao dịch này được
tổ chức tín dụng và khách hàng xác lập, thực hiện thông qua một hợp đồng cho
vay có thời hạn xác định nên về nguyên tắc, khách hàng cho vay không thể rút
vốn về trước kỳ hạn như trong trường hợp họ gửi tiền có kỳ hạn tại tổ chức tín
dụng (bằng cách chịu lãi suất phạt với tổ chức tín dụng nhận tiền gửi). Nếu muốn
thu hồi vốn về trước kỳ hạn, cách duy nhất là người sở hữu giấy tờ có giá (bên
cho vay) ký hợp đồng chuyển nhượng chứng thư đó cho người khác (chẳng hạn,
có thể “bán” cho ngân hàng thương mại theo phương thức chiết khấu hoặc bán
cho các tổ chức, cá nhân khác theo phương thức thông thường trên thị trường
tiền tệ hoặc thị trường chứng khoán).
3. Vai trò của hoạt động huy động vốn bằng phát hành giấy tờ có giá đối với
hoạt động huy động vốn của tổ chức tín dụng:
5
Bằng cách huy động vốn, TCTD có khả năng tập trung một khối lượng
vốn lớn trong thời gian ngắn. Hình thức huy động vốn này thường được sử dụng
sau khi TCTD đã tiếp nhận được những dự án vay vốn lớn, với thời hạn giải
ngân cụ thể của khách hành.
Trong huy động vốn dưới hình thức phát hành giấy tờ có giá, các TCTD
danh. Hình thức chứng chỉ ghi danh áp dụng đối với người mua là cá nhân. Hình
thức chứng chỉ vô danh áp dụng đối với người mua là cá nhân và tổ chức. Hình
thức ghi sổ áp dụng đối với người mua là tổ chức có tài khoản tiền gửi tại TCTD
phát hành. Trường hợp phát hành giáy tờ có giá theo hình thức ghi sổ, TCTD
phát hành phải cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu giấy tờ có giá cho người mua.
Các giấy tờ có giá do TCTD phát hành được chuyển nhượng quyền sở hữu
dưới các hình thức mua, bán, tặng, cho, trao đổi, thừa kế hoặc người sở hữu giấy
tờ có giá có thể dùng làm vật cầm cố.
2. Chủ thể phát hành:
Theo Điều 2 Quy chế phát hành giấy tờ có giá trong nước của TCTD (ban
hành kèm theo Quyết định số 07/2008/QĐ-NHNN ngày 24/3/2008 của Thống
đốc NHNN), các chủ thể phát hành giấy tờ có giá bao gồm:
- Các TCTD được thành lập, hoạt động theo Luật các TCTD, Luật sửa đổi
bổ sung một số điều của Luật các TCTD và đáp ứng các điều kiện theo quy định
của quy chế này, bao gồm:
+ Các TCTD Nhà nước.
+ Các TCTD cổ phần.
+ Quỹ tín dụng nhân dân trung ương.
+ Các TCTD liên doanh.
+ Các TCTD 100% vốn nước ngoài và các chi nhánh ngân hang nước ngoài
được phép hoạt động tại Việt Nam.
- Riêng công ty tài chính và công ty cho thuê tài chính, loại giấy tờ có giá
và thời hạn giấy tờ có giá được phép huy động thực hiện theo quy định hiện hành
về tổ chức và hoạt động của công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính.
7