phân tích, đánh giá hàm lượng (po4)3- trong nước bằng phương pháp quang phổ hấp thụ phân tử uv-vis. qua đó, đánh giá sự phú dưỡng nguồn nước bàu thạc gián – vĩnh trung, thành phố đà nẵng - Pdf 14

1


KHOA H
    Phân tích, đánh giá hàm lượng PO43- trong
nước bằng phương pháp quang phổ hấp thụ
phân tử UV – VIS. Qua đó, đánh giá sự phú
dưỡng nguồn nước Bàu Thạc Gián – Vĩnh
Trung, thành phố Đà Nẵng
 GVHD : 

7
O
24
.4H
2
O.
+ Kaliđihiđrogenphotphat: KH
2
PO
4
.
+ SnCl
2
tinh khiết loại phân tích.
+ FeCl
3
.6H
2
O.
+ NaF tinh khiết phân tích.
+ Nước cất.

 Nghiên cứu quy trình xác định PO
4
3-
trong nước bằng phương pháp quang
phổ hấp thụ phân tử UV-VIS.
3
 Tìm điều kiện thích hợp cho quá trình phân tích đánh giá hàm lượng PO
4

trong nước, qua đó đánh giá sự phú dưỡng nguồn nước Bàu Thạc Gián – Vĩnh
Trung, thành phố Đà Nẵng.
 ThS. Phạm Thị Hà, Giảng viên bộ môn hóa phân tích -
Khoa Hóa – Trường Đại Học Sư Phạm – Đại Học Đà Nẵng.
Ngày
6. Ngày hoàn thành:

 
PGS   

Sinh viên đã hoàn thành và nộp báo cáo cho Khoa ngày 25 tháng 5 năm 2012.
Kết quả điểm đánh giá:…
Ngày …tháng 05 năm 2012

(Ký và ghi rõ họ tên)

4 

 Hàm lượng các chất dinh dưỡng ở mức cho phép và nguy hiểm……….13
 Bảng giá trị xây dựng đường chuẩn……………………………… … 32
 Giá trị mật độ quang của dãy dung dịch chuẩn………… ……………37
 Giá trị mật độ quang của dung dịch PO
4
3-

…… 44
 Kết quả độ chính xác của phương pháp xác định PO
4
3-
… 45
 Kết quả phân tích một số mẫu ở Bàu Thạc Gián – Vĩnh Trung đợt 1 46
B Kết quả phân tích một số mẫu ở Bàu Thạc Gián – Vĩnh Trung đợt 2 47

5  

Hình 1.1. Sơ đồ máy đo quang 2 chùm tia 18
Hình 1.2. Sơ đồ chu trình photpho…………………… …………………………22
Hình 1.3. Bản đồ hồ Thạc Gián – Vĩnh Trung……………… ………………… 25
Hình 1.4. Quang cảnh hồ Thạc Gián – Vĩnh Trung…………… ……………… 26
Hình 2.1. Sơ đồ vị trí lấy mẫu……………… ………………………………… 36
Hình 2.2. Sơ đồ mặt cắt vị trí lấy mẫu……………… ………………………… 36
Hình 3.1. Đồ thị đường chuẩn xác định PO
4

-
……………………………………………………… …… 42

6 
Cũng như không khí và ánh sáng, nước không thể thiếu được trong đời sống
con người. Trong quá trình hình thành sự sống trên Trái Đất thì nước và môi trường
nước đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Nước tham gia vào vai trò tái sinh thế giới
hữu cơ (tham gia quá trình quang hợp). Trong quá trình trao đổi chất nước đóng vai
trò trung tâm. Những phản ứng lý hóa học diễn ra với sự tham gia bắt buộc của
nước.
Nước phục vụ cho mục đích sinh hoạt của con người và đóng vai trò cực kì
quan trọng trong sản xuất. Đối với cây trồng, nước là nhu cầu thiết yếu, đồng thời
có vai trò điều tiết các chế độ nhiệt, ánh sáng, chất dinh dưỡng, vi sinh vật, độ
thoáng khí trong đất… Tuy nhiên, do hoạt động của con người mà làm cho môi
trường nước ngày càng bị ô nhiễm. Nguyên nhân từ các loại chất thải và nước thải
công nghiệp được thải ra lưu vực các con sông mà chưa qua xử lý đúng mức, các
loại phân bón hóa học và thuốc trừ sâu ngấm vào nguồn nước ngầm và nước ao hồ,
nước thải sinh hoạt được thải ra từ các khu dân cư ven sông. Điều đó dẫn đến sự ô

trong nước bằng phương pháp quang phổ
hấp thụ phân tử UV-VIS.
2. Tìm điều kiện thích hợp cho quá trình phân tích đánh giá hàm lượng PO
4
3-
trong
nước bằng phương pháp quang phổ hấp thụ phân tử UV-VIS.
3. Phân tích và đánh giá hàm lượng PO
4
3-
trong nước, qua đó đánh giá sự phú
dưỡng nguồn nước Bàu Thạc Gián – Vĩnh Trung, thành phố Đà Nẵng.

hay hậu quả rõ rệt gọi là sự ô nhiễm nguồn nước”.
9
Sự có mặt của các chất độc hại trong nước thải xả vào nguồn nước sẽ làm
phá vỡ cân bằng sinh học tự nhiên của nguồn nước phụ thuộc vào các điều kiện xáo
trộn và pha loãng của nước thải và nước nguồn. Sự có mặt của các vi sinh vật, trong
đó có vi khuẩn gây bệnh sẽ đe dọa tính an toàn vệ sinh nguồn nước.
 [4]
Có nhiều nguồn gây ô nhiễm nước bề mặt. Hầu hết các nguồn gây ô nhiễm là
do hoạt động sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp, nông nghiệp, ngư nghiệp, giao
thông vận tải, dịch vụ du lịch và sinh hoạt của con người tạo nên. Ô nhiễm nước do
yếu tố tự nhiên có thể là nghiêm trọng nhưng không thường xuyên mà nguyên nhân
chính gây suy thoái chất lượng nước toàn cầu là do các nguồn nhân tạo.
 Sự ô nhiễm có nguồn gốc tự nhiên: Đó là do mưa, tuyết tan, lũ lụt, gió
bão… hoặc do các sản phẩm hoạt động sống của sinh vật, kể cả xác chết của chúng
có thể là nghiêm trọng nhưng đây không phải là nguyên nhân chính gây suy thoái
chất lượng nước toàn cầu.
 Sự ô nhiễm có nguồn gốc nhân tạo: Chủ yếu do nguồn nước thải từ các vùng
dân cư, khu công nghiệp, hoạt động giao thông vận tải, do sử dụng thuốc trừ sâu
diệt cỏ và phân bón trong nông nghiệp vào các nguồn nước sẵn có.
1.2.3. Các tác nhân 
1.2.3.1. 
Nhiều ion vô cơ có nồng độ rất cao trong nước tự nhiên, đặc biệt là trong
nước biển. Trong nước thải đô thị luôn chứa một lượng lớn các ion Cl
-
, SO
4
2-
, PO
4
3-

chất. Trong chu trình nitơ, các chất này có thể chuyển hóa qua lại lẫn nhau.
Khi phân tích hàm lượng nitơ trong nước:
 Nếu nước chứa hầu hết các hợp chất hữu cơ chứa nitơ ở dạng amoni và các
amoni hydroxyt (NH
4
OH) thì chứng tỏ nước mới bị ô nhiễm. Amoniac trong nước
sẽ ảnh hưởng độc hại đối với cá và vi sinh vật.
 Nếu nước chứa chủ yếu hợp chất nitơ ở dạng nitrit là nước đã bị ô nhiễm
trong một thời gian dài.
 Nếu nước chứa chủ yếu hợp chất nitơ ở dạng nitrat chứng tỏ quá trình oxi
hóa đã kết thúc.
Nitrit là một sản phẩm trung gian trong cả hai quá trình: oxi hóa NH
3
thành
nitrat và quá trình khử nitrat.
Nitrat là thành phần tự nhiên của nước, là sản phẩm cuối cùng của sự phân
hủy các hợp chất chứa nitơ trong nước. Tuy nhiên, các nitrat chỉ bền ở điều kiện
hiếu khí. Trong điều kiện yếm khí, chúng nhanh chóng bị khử thành nitơ tự do tách
ra khỏi nước, loại trừ sự phát triển của tảo và các thực vật khác sống dưới nước.
Khi hàm lượng nitrat cao thì nó gây hiện tượng phú dưỡng làm cho thực vật
phát triển nhanh, tiếp theo là chúng chết hàng loạt gây giảm DO và tăng BOD rồi
bốc mùi các khí thối. Mặt khác, khi hàm lượng nitrat cao có thể gây độc hại đối với
người vì khi vào cơ thể trong điều kiện thích hợp ở hệ tiêu hóa chúng sẽ chuyển hóa
thành nitrit, kết hợp với hồng cầu tạo thành chất không vận chuyển oxi gây bệnh
cho người như xanh xao, thiếu máu. Trẻ sơ sinh dưới 6 tháng tuổi rất dễ mắc bệnh
vì trong cơ thể lượng enzim ức chế methemoglobin rất thấp. Methemoglobin được
tạo thành do hemoglobin trong tế bào máu bị oxi hóa, mà methemoglobin không có
11
khả năng vận chuyển oxi nên gây ra triệu chứng xanh xao. Ngoài ra, còn gây bệnh
ung thư dạ dày do nitrit tạo ra kết hợp với một amin thứ sinh (xuất hiện khi phân

O
10
có nhiều trong các chất tẩy rửa, chất phụ gia trong thực
phẩm và photpho hữu cơ có nhiều trong phân súc vật, trong nước thải của một số
ngành sản xuất phân lân và thực phẩm. Photpho bị kết tủa dưới dạng muối sắt,
canxi, nhôm sau đó chúng được giải phóng rất chậm. Đây là nguồn dinh dưỡng cho
thực vật dưới nước, chúng cũng gây ô nhiễm và góp phần thúc đẩy hiện tượng phú
dưỡng ở các ao, hồ.
Nguồn dinh dưỡng khác tạo nên sự dư thừa này từ nông nghiệp là các trang
trại chăn nuôi, đặc biệt là nuôi tăng sản. Lượng photpho do gia súc thải ra gấp bốn
lần lượng photpho do con người thải ra.
Ngoài ra các ngành công nghiệp chế biến thực phẩm nói chung và những
ngành công nghiệp len yêu cầu nhiều công đoạn rửa, nước thải chứa nhiều
polyphotphat là thành phần chính của các chất tẩy rửa.
 Sunfat (SO
4
2-
):
Các nguồn nước tự nhiên, đặc biệt nước biển và nước phèn, thường có nồng
độ sulfat cao. Sulfat trong nước có thể bị vi sinh vật chuyển hóa tạo ra sulfit và axit
sulfuric có thể gây ăn mòn đường ống và bê tông. Ở nồng độ cao, sulfat có thể gây
hại cho cây trồng.
 Clorua (Cl
-
):
Là một trong các ion quan trọng trong nước và nước thải. Clorua kết hợp với
các ion khác như natri, kali gây ra vị cho nước. Nguồn nước có nồng độ clorua cao
có khả năng ăn mòn kim loại, gây hại cho cây trồng, giảm tuổi thọ của các công
trình bằng bê tông, Nhìn chung clorua không gây hại cho sức khỏe con người,
nhưng clorua có thể gây ra vị mặn của nước do đó ít nhiều ảnh hưởng đến mục đích

hữu cơ.

 Các chất hữu cơ dễ bị phân huỷ sinh học (các chất tiêu thụ oxi):
Cacbonhidrat, protein, chất béo… thường có mặt trong nước thải sinh hoạt, nước
thải đô thị, nước thải công nghiệp chế biến thực phẩm là các chất hữu cơ dễ bị phân
huỷ sinh học. Chất hữu cơ dễ bị phân huỷ sinh học thường ảnh hưởng có hại đến
nguồn lợi thuỷ sản, vì khi bị phân huỷ các chất này sẽ làm giảm oxy hoà tan trong
nước, dẫn đến chết tôm cá.
 Các chất hữu cơ bền vững:
13
Các chất hữu cơ có độc tính cao thường là các chất bền vững, khó bị vi sinh
vật phân huỷ trong môi trường. Một số chất hữu cơ có khả năng tồn lưu lâu dài
trong môi trường và tích luỹ sinh học trong cơ thể sinh vật. Do có khả năng tích luỹ
sinh học, nên chúng có thể thâm nhập vào chuỗi thức ăn và từ đó đi vào cơ thể con
người. Các chất này thường có trong nước thải công nghiệp, nước chảy tràn từ đồng
ruộng (có chứa nhiều thuốc trừ sâu, diệt cỏ, kích thích sinh trưởng…). Các hợp chất
này thường là các tác nhân gây ô nhiễm nguy hiểm, ngay cả khi có mặt với nồng độ
rất nhỏ trong môi trường.

Dầu mỡ là chất khó tan trong nước, nhưng tan được trong các dung môi hữu
cơ. Dầu mỡ có thành phần hóa học rất phức tạp. Do đó, dầu mỡ thường có độc tính
cao và tương đối bền trong môi trường nước. Độc tính và tác động của dầu mỡ đến
hệ sinh thái nước không giống nhau mà phụ thuộc vào loại dầu mỡ.
Hầu hết các loại động thực vật đều bị tác hại của dầu mỡ. Các loại động thực
vật thủy sinh dễ bị chết do dầu mỡ ngăn cản quá trình hô hấp, quang hợp và cung
cấp năng lượng.

Nước nguyên chất không có màu, nhưng nước trong tự nhiên thường có màu
do các chất có mặt trong nước như:
- Các chất hữu cơ do xác thực vật bị phân hủy, sắt và mangan dạng keo hoặc

của khí quyển,
bicacbonat và các vật liệu hữu cơ phân hủy sinh học.
Tổng lượng các nguyên tố phú dưỡng có thể bao gồm lượng nguyên tố phú
dưỡng bên ngoài từ sự ô nhiễm các nguồn nước chảy vào hồ, do xóa mòn và rửa trôi
đất nông nghiệp, đồng thời bao gồm lượng nguyên tố phú dưỡng bên trong do các
nguyên tố photpho và nitơ được tái tạo từ các lắng đọng đáy hồ.

Trong tự nhiên các hồ nguyên thủy đều nghèo dinh dưỡng, khi “già” đi nước
cạn dần, các loại tảo nước giảm dần nhưng mật độ cao, chủ yếu là tảo lam, hiện
tượng tảo nở hoa xảy ra nhiều, hồ trở nên phú dưỡng hóa. Sự phú dưỡng đó được
xem là tự nhiên. Nhưng hiện nay do các hoạt động sống của con người đã làm
nguồn nước ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng đặc biệt là ô nhiễm dinh dưỡng do các
chất dinh dưỡng gây nên hiện tượng phú dưỡng các nguồn nước, đó được gọi là sự
15
phú dưỡng nhân tạo. Sông hồ bị phú dưỡng nguồn nước do phải tiếp nhận chất dinh
dưỡng từ các nguồn sau: 
Các chất dinh dưỡng từ các nguồn đô thị có thể từ nước thải sinh hoạt, nước
thải công nghiệp và nước thoát đi sau khi mưa. Bột giặt chứa photpho trở thành
nguồn photpho rất quan trọng trong nước thải sinh hoạt. Tùy vào ngành công
nghiệp và mức độ xử lý mà lượng nước thải chứa nitơ và photpho khác nhau.
Ngành chế biến thực phẩm nói chung và ngành công nghiệp len yêu cầu có những
công đoạn rửa rất nhiều thường nước thải có chứa nhiều nitơ và photpho.
Đặc điểm cơ bản của nước thải sinh hoạt đó là có chứa 40-80% là chất hữu
cơ không bền vững, dễ bị phân hủy sinh học, trong đó chứa 40-60% là protein còn
lại là cacbonhydrat, chất béo, các hợp chất nitơ và photpho.
Protein là chất hữu cơ đóng vai trò quan trọng trong việc đưa nitơ vào nước ở
dạng thức ăn thừa. Trong nước nó sẽ phân hủy thành axitamin, axit béo….làm cho

nitơ (Thomann và Meuller, 1987).
Sawyer (1947) cho rằng, nồng độ photpho trong nước lớn hơn 0,015mg/l và
nồng độ nitơ lớn hơn 0,3mg/l đủ gây sự phát triển của tảo. Trên cơ sở đó,
Vollenweider (1975) cho rằng nồng độ P = 0,01mg/l là chấp nhận được đối với
nước hồ và 0,02mg/l sẽ gây ra dư thừa P. Mà tảo lại được sử dụng làm thức ăn của
động vật phù du. Một số loài cá nhỏ ăn động vật phù du và rong tảo. Các loại cá lớn
ăn thịt cá nhỏ. Từ đó, ta thấy năng suất của dây chuyền thực phẩm trong nước phụ
thuộc vào lượng N, P có mặt trong nước.
Do hoạt động của con người, nước thải đô thị, nước thải sản xuất, nước từ
đất canh tác dư thừa phân bón đã làm tăng cao chất dinh dưỡng kích thích sự phát
triển của thủy sinh vật, đặc biệt là tảo lam và làm giảm chất lượng nước. Sự phát
triển bùng nổ của tảo làm cho nước đục, tảo chết sẽ kết thành khối nổi trên mặt
nước, quá trình phân hủy chúng làm phát sinh mùi và làm giảm lượng oxi hòa tan.
Mặt khác, tảo bị phân hủy lắng xuống đáy hồ làm cho nước hồ ngày càng giàu dinh
17
dưỡng, lớp bùn đáy càng ngày càng dày và chứa nhiều N, P gây nên hiện tượng yếm
khí và cạn lòng hồ.

 Hậu quả chung của sự phú dưỡng hóa:
1. Sự đa dạng của các loài sinh vật bị giảm đi, loài thống trị thay đổi.
2. Sinh khối thực vật và động vật tăng lên.
3. Độ đục tăng lên.
4. Tốc độ lắng tăng, tuổi thọ tối đa của hồ giảm.
5. Có thể dẫn đến thiếu oxi.
 Từ những hậu quả trên có thể dẫn đến những vấn đề phải đối đầu sau:
1. Nước có màu, mùi vị xử lý nước uống khó khăn.
2. Nước có thể gây hại cho sức khỏe.
3. Giá trị để vui chơi giảm.
4. Dòng chảy và đi lại có thể bị cản trở.
5. Các loài có giá trị thương mại (nước ngọt) có thể bị mất đi.

đẩy rong tảo phát triển gây suy giảm chất lượng nước.
Trong các hồ nghèo dinh dưỡng, nồng độ photpho thấp và có xu hướng giảm.
Hơn nữa khi tỷ lệ nitơ và photpho lớn hơn 16:1, khi đó sự phú dưỡng hóa là do
photpho khống chế và việc đưa photpho vào hồ là chỉ số then chốt để đánh giá vấn
đề phú dưỡng có xảy ra hay không. Như vậy, đối với hồ chứa nồng độ photpho là
thông số giới hạn để đánh giá sự phú dưỡng do tác nhân ô nhiễm không bền vững.
Giá trị nhập vào của N, P có thể chấp nhận được cho hồ có độ sâu khác nhau
và giá trị có thể gây nguy hại đến hồ được trình bày ở bảng 1.1.
 Hàm lượng các chất dinh dưỡng ở mức cho phép và nguy hiểm
STT
Độ sâu
trung
bình (m)
Giá trị nhập cho phép
Giá trị nhập nguy hiểm
N(g/m
2
.năm)
P(g/m
2
.năm)
N(g/m
2
.năm)
P(g/m
2
.năm)
1
5
1,0

9,0
0,60
18,0
1,20
Nếu tỷ lệ N/P

16/1 thì photpho là nguyên tố giới hạn. Nếu ngược lại thì
nitơ là nguyên tố giới hạn. Mối tương quan đơn giản giữa lượng nhập và độ sâu
được phát triển tiếp bằng cách đưa thêm vào các thông số như lượng nhập từ bên
trong và chiều dài bờ hồ).

Rast và Holland đề ra đề cương cơ bản có tính chất thực dụng cho sự phát
triển chiến lược sự phú dưỡng hóa:
1. Xác định các vấn đề phú dưỡng hóa xác lập mục đích quản lý.
2. Đánh giá quy mô của thông tin sẵn có của hồ và đầm.
3. Xác định phương pháp kiểm soát phú dưỡng hóa khả thi sẵn có.
4. Phân tích tất cả các chi phí và lợi nhuận dự tính của các sách lược quản lý.
5. Phân tích sự đầy đủ của cơ cấu tổ chức và điều chỉnh đang tồn tại để thực
hiện chính sách quản lý.
6. Lựa chọn sách lược kiểm soát và phổ biến cho những bên quan tâm.
7. Sử dụng cơ chế tổ chức để giảm bớt các vấn đề do phú dưỡng hóa trong
tương lai.
Thực tế cho thấy cần thực hiện cả hai nhóm thao tác sau một cách đồng thời:
1. Giảm nguồn dinh dưỡng từ bên ngoài vào: Việc đổ nước thải phú dưỡng
hóa và chất thải động vật vào các dòng nước và hồ là nguồn chủ yếu của các vấn đề,
trong khi bột giặt là nguồn photpho quan trọng nhất cho nước thải. Việc loại bỏ
photpho trong bột giặt có thể giảm đến 50% tổng lượng photpho chảy vào hồ. Do
đó, để giảm lượng photpho từ bột giặt cần kiểm soát nước thải sinh hoạt.
2. Photphat có thể kết tủa bằng vôi tôi tại các bể lắng đọng. Quá trình này có
thể kiểm soát tới 90-95% lượng photphat.

Khi này: D = lg
l
I
I
0
=
Cl


Trong đó: I
0
: cường độ ánh sáng tới.
I
l
: cường độ ánh sáng sau khi đi qua dung dịch.
ε: hệ số tắt phân tử hay hệ số hấp thụ phân tử, ε là đại lượng xác
định, phụ thuộc vào bản chất của chất hấp thụ, vào bước sóng λ của bức xạ đơn sắc
và vào nhiệt độ.
l: chiều dày của dung dịch mà ánh sáng đi qua (cm).
C: nồng độ dung dịch màu (mol/l).
D: mật độ quang.
Vậy: Với một dung dịch xác định, đo trong một cuvet có bề dày nhất định.
D = K.C
Vậy nguyên tắc chung của phương pháp là: để phân tích xác định một chất
người ta đưa chúng về dạng phức màu bằng thuốc thử thích hợp rồi đo mật độ
quang của dung dịch, từ đó có thể xác định nồng độ của chất phân tích.
g pháp
21
-Bia


phân tích cụ thể.
22
1.4
max

Các chất hấp thụ bức xạ đơn sắc một cách chọn lọc, giá trị D lớn nhất ta đo
dược gọi là mật độ quang cực đại D
max
lúc này kết quả phân tích cho độ nhạy và độ
chính xác cao nhất. Bước sóng tương ứng với D
max
gọi là bước sóng tối ưu λ
max.


Nếu thuốc thử là axit mạnh thì giá trị pH của môi trường không ảnh hưởng
đến độ bền của phức. Chỉ cần một lượng axit vừa đủ để tạo phức và ion kim loại
khỏi phân hủy là được.
Nếu thuốc thử là những axit yếu thì giá trị pH lúc bắt đầu tạo phức phải khác
so với giá trị pH mà phức bắt đầu đổi màu. Biến động pH càng lớn thì càng tốt.
Mỗi loại thuốc thử thích hợp với một môi trường pH nhất định.

Trong mẫu nước thường chứa nhiều ion lạ gây ảnh hưởng đến kết quả phân
tích.
Ion lạ có thể tác dụng với chất phân tích hoặc tương tác với thuốc thử phân
tích. Do đó, phải tìm cách loại trừ.
Trong thực tế để loại trừ ảnh hưởng các ion lạ, người ta sử dụng phương
pháp che, chiết, tách….

Một số phức màu có độ bền màu phụ thuộc vào thời gian, vì vậy thời gian

kết quả

Detectơ
Nguồn
bức xạ
liên tục
Bộ phận
tạo tia
đơn sắc
Cuvet
đựng
dung dịch
24
6- Gương
7- Tế bào quang điện
8- Điện kế chuẩn hóa 100%T
1.4.4. 
- Phương pháp có độ nhạy cao, thường có thể xác định, định lượng các nồng
độ nhỏ hơn 10
-7
M. Do đó, được ứng dụng trong hai lĩnh vực.
Thứ nhất là trong lĩnh vực phân tích lượng vết, phép đo phổ trắc quang trong
vùng phổ tử ngoại và khả kiến cho phép định lượng các cấu tử của mẫu có hàm
lương cỡ 1ppm về khối lượng.
Thứ hai là trong lĩnh vực vi phân phân tích có thể xác định, định lượng các
cấu tử chính trong mẫu có kích thước rất nhỏ.
- So với phương pháp chuẩn độ và trọng lượng truyền thống thì phép phổ
trắc quang là một phương pháp thực hiện nhanh và thuận lợi.
- Nhờ có phần lớn máy quang phổ hiện đại mà có thể tiến hành phép đo từ 5
đến 10 mẫu trong 1 phút. Ngoài ra dễ dàng tự động hóa phương pháp đo phổ trắc

4
,

D
5
,

D
6
của các dung dịch chuẩn tại bước
sóng 
max
đã khảo sát
- Xây dựng đường chuẩn D = f(C).
- Chuẩn bị mẫu trong điều kiện tương tự, đo mật độ quang D
x
.
- Dựa vào đường chuẩn suy ra nồng độ C
x
.

D
6

D
5

D
4


Lấy cùng một lượng dung dịch cần phân tích (C
X
) vào 2 bình định mức 1 và
2. Thêm vào bình 2 một lượng của chất phân tích C
a
. Thực hiện phản ứng hiện màu
ở cả hai bình trong điều kiện thích hợp hoàn toàn như nhau. Đem đo quang của 2
dung dịch ở
max

. Từ đó ta có:
- Mật độ quang của dung dịch phân tích D
x
.
- Mật độ quang D
x+a
từ các giá trị đo được, xác định nồng độ của mẫu C
x
.
xax
xa
x
ax
x

dihidrophotphat. Anion PO
4
3-
có cấu tạo tứ diện đều.
Phân tử H
3
PO
4
có P ở trạng thái lai hóa sp
3
nên gốc PO
4
3-
có cấu tạo tứ diện,
trong dung dịch tứ diện đó nó được bảo vệ, giữ nguyên nhờ liên kết hidrô với nước.
Điều đó ngăn cản P
5+
trong H
3
PO
4
không thể tham gia oxi hóa.
Khi đun nóng H
3
PO
4
đến 260
0
C thì hai phân tử H
3

)
n
+ H
2
O
+H
2
O


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status