LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, việc thu hút đầu tư nước ngoài đang trở thành bộ phận chủ yếu, quan
trọng của quan hệ kinh tế thế giới. nó là nhân tố quan trọng hàng đầu của nhiều nước
nhằm hỗ trợ và phát huy lợi thế của mỗi quốc gia phát triển và là đói hỏi khách quan
của quá trình phát triển kinh tế xã hội của mỗi nước. Đối với các nước đang phát triển,
đầu tư nước ngời là một nhân tố chủ yếu cho sự tăng trưởng kinh tế, là một trong
những chỉ số căn bản đánh giá khả năng phát triển. Mở rộng hoạt động kinh tế đối
ngợi, phát triển ngoại thương, thực hiện tốt chương trình hang xuất khẩu thu hút đầu tư
nước ngoài vào Việt Nam là những nhiệm vụ có tầm chiến lược quan trọng trước mắt
và lâu dài của Đảng và Nhà nước ta.
Cùng với hoạt động thương mại quốc tế , hoạt động đầu tư nước ngoài ngày
càng phát triển mạnh mẽ, hợp thành những dòng trào lưu có tính quy luật trong liên
kết kinh tế toàn cầu hiện nay. Sự phát triển của đầu tư nước ngoài bắt nguồn từ một số
nguyên nhân chủ yếu sau:
- Xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình tự
do hóa thương mại và đầu tư quốc tế.
- Sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học công nghệ và những
tiến bộ vượt bậc trong lĩnh vực thông tin, truyền thông đã thúc đẩy mạnh mẽ
quá trình đổi mới cơ cấu kinh tế của các nước tạo nên sự chuyển dịch vốn giữa
các quốc gia.
- Sự thay đổi các yếu tố sản xuất, kinh doanh ở các nước sở hữu vốn tạo
nên “lực đẩy” đối với đầu tư quốc tế.
- Nhu cầu vốn đầu tư để thực hiện công nghiệp hóa ở các nước đang phát
triển là rất lớn, tạo nên “ sức hút” mạnh mẽ với nguồn vốn đầu tư nước ngoài.
Chính vì vậy thu hút đầu tư nói chung và thu hút vốn đầu tư nước ngoài nói
riêng là vô cùng quan trọng đối với các địa phương trong cả nước. Trong khuôn khổ
bài thảo luận này, nhóm e xin trình bày về “một số giải pháp chủ yếu về quản lý nhà
nước nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài để phát triển kinh tế xã hội của huyện
Đại Từ - Thái Nguyên”.
Nội dung thảo luận gồm ba chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về vốn đầu tư nước ngoài
vì các khoản đầu tư này thường là các khoản cho vay không lãi suất hoặc lãi suất thấp
với thời gian cho vay dài. Đôi khi còn gọi là viện trợ. Gọi là phát triển vì mục tiêu
danh nghĩa của các khoản đầu tư này là phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi ở nước
được đầu tư. Gọi là Chính thức vì nó thường là cho nhà nước vay.
2. Các hình thức đầu tư nước ngoài
2.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI
2.1.1 Đặc điểm đầu tư trực tiếp nước ngoài
Về thực chất, đầu tư trực tiếp nước ngoài là sự đầu tư của các công ty nhằm
xây dựng các cơ sở , chi nhánh ở nước ngoài và làm chủ toàn bộ hay từng phần cơ sở
đó. FDI có đặc điểm sau:
2
- Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng g óp một số tối thiểu vào vốn pháp
định, tùy theo luật doanh nghiệp của mỗi nướcđể giành quyền kiểm soát hoặc
tham gia kiểm soát doanh nghiệp nhận đầu tư.
- Quyền điều hành, quản lý doanh nghiệp phụ thuộc vào mức vốn của các
bên trong tổng số vốn pháp định. Vốn góp càng cao nhà đầu tư càng có quyền
tham gia vào việc quản lý doanh nghiệp.
- Lợi nhuận của nhà đầu tư nước ngoài thu được phụ thuộc vào kết quả
kinh doanh của doanh nghiệp. Lợi nhuận và lỗ xảy ra được phân chia theo tỷ lệ
góp vốn của các bên trong vốn pháp định sau khi đã nộp thuế và các chi phí
khác cho nước nhận đầu tư.
- FDI được xây dựng thong qua việc xây dựng doanh nghiệp mới, mua lại
toàn bộ hay từng phần doanh nghiệp đang hoạt động hoặc mua cổ phiếu để thôn
tính hay sáp nhập các doanh nghiệp với nhau.
2.1.2 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trong thực tiễn, FDI được thực hiện theo nhiều hình thức khác nhau, trong đó
những hình thức được áp dụng phổ biến bao gồm
- Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh
- Doanh nghiệp liên doanh
- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
kinh tế - xã hội ở trong nước như nạn thất nghiệp, lạm phát, nâng cao hiệu quả sử dụng
các nguồn tài nguyên, khai thác một cách có hiệu quả nguồn lao động, từ đó góp phần
mở rộng tích luỹ và đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế (tăng quy mô GDP), làm tăng
nguồn thu ngân sách thông qua thuế
b) Nhược điểm
* Đối với nước chủ đầu tư
- Có thể gặp rủi ro cao nếu không hiểu rõ về môi trường đầu tư
- Dễ để mất bản quyền sở hữu công nghệ, bí quyết sản xuất trong quá trình
chuyển giao dẫn tới có thể xảy ra tình trạng chảy máu chất xám
- Có xu hướng bị suy thoái, tụt hậu về kinh tế của quốc gia
- Không khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với
quốc gia
- Có thể làm thay đổi chính sách thuế của nước chủ nhà
- Phải gánh chịu nhiều khó khăn trong cán cân thanh toán và việc làm do hoạt
động của các công ty đa quốc gia
* Đối với nước nhận đầu tư
- Khó chủ động trong việc bố trí cơ cấu đầu tư theo ngành và theo vùng lãnh
thổ.
- Nếu không thẩm định kỹ sẽ dẫn đến sự du nhập của các loại công nghệ lạc
hậu, công nghệ gây ô nhiễm môi trường với giá đắt làm thiệt hại lợi ích của nước sở
tại
- Có thể phải chịu sự thống trị của các công ty đa quốc gia
- Khi lãi suất trong nước quá thấp, các công ty đa quốc gia sẽ cho nước ngoài
vay tiền làm thất thoát vốn và phá vỡ các điều kiện tín dụng chặt chẽ của nước sở tại
4
- Có thể làm thay đổi thị hiếu của dân chúng sở tại
- Có thể gây ra sự lệ thuộc về kỹ thuật
- Gây ra hiện tượng ‘chảy máu chất xám’
2.2 Đầu tư gián tiếp nước ngoài FPI.
2.2.1 Đặc điểm của đầu tư gián tiếp
5
- Vốn đầu tư được phân tán trong vô số những người mua cổ phiếu, trái phiếu
và đưa đến các địa chỉ khác nhau. Chủ đầu tư có thể phân tán được rủi ro trong kinh
doanh
- Phần lớn là các khoản vốn ưu đãi và viện trợ nên thời gian sử dụng dài, lãi
suất thấp, khối lượng vốn lớn, nên thường được sử dụng đầu tư vào các công trình cần
nhiều vốn, thời gian dài như xây dựng và hiện đại hoá cơ sở hạ tầng, các công trình
công cộng… để tạo điều kiện và môi trường nhằm thu hút và sử dụng có hiệu quả vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI
b) Nhược điểm:
- Hạn chế khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài vì tỷ lệ góp vốn của chủ đầu
tư nước ngoài bị khống chế ở mức độ góp vốn tối đa. Ngoài ra phạm vi đầu tư cũng bị
hạn chế do chủ đầu tư nước ngoài chỉ chọn các doanh nghiệp có triển vọng kinh doanh
để đầu tư
- Hiệu quả sử dụng vốn thường không cao do nước tiếp nhận vốn có toàn quyền
sử dụng, mà các nước này thường là các nước đang và kém phát triển nên kinh
nghiệm và trình độ sử dụng vốn đầu tư còn hạn chế
- Dù là vốn ưu đãi nhưng vẫn phải trả nên dễ dẫn đến tình trạng nợ nước ngoài
quá lớn, thậm chí có nước không có khả năng trả nợ dẫn tới dễ bị các chủ nợ trói buộc
vào vòng ảnh hưởng chính trị của họ
- Hạn chế khả năng tiếp thu kỹ thuật công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên
tiến
2.3 Hỗ trợ phát triển chính thức ODA
2.3.1 Các hình thức của ODA
- ODA không hoàn lại: là hình thức cung cấp vốn không phải hoàn lại cho nhà
tài trợ (cho không bên nhận)
- ODA cho vay ưu đãi (tín dụng ưu đãi) là hình thức cung cấp vốn dưới dạng
cho vay với lãi suất và điều kiện ưu đãi
- ODA hỗn hợp: là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc các khoản vay ưu
đãi được cung cấp đồng thời với các khoản tín dụng thương mại, nhưng tính chung lại
- Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (OECD)
- Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
- Các tổ chức tài chính quốc tế
+ Ngân hàng phát triển Châu á – ADB
+ Quỹ các nước xuất khẩu dầu mỏ - OPEC
+ Ngân hàng đầu tư Bắc âu – NIB
+ Quỹ phát triển Bắc âu - NDF
+ Quỹ cô-oét
2.3.4 Các lĩnh vực ưu tiên sử dụng ODA
Nhìn chung ODA thường được sử dụng dựa trên kế hoạch phát triển của nước
tiếp nhận và gắn với tính chất của nguồn vốn cung cấp. Do phần lớn là các khoản vốn
ưu đãi và viện trợ nên thời gian sử dụng dài, lãi suất thấp, khối lượng vốn lớn, nên
7
thường được sử dụng đầu tư vào các công trình cần nhiều vốn, thời gian dài như xây
dựng và hiện đại hoá cơ sở hạ tầng, các công trình công cộng… để tạo điều kiện và
môi trường nhằm thu hút và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI
1- Vốn ODA không hoàn lại thường được ưu tiên sử dụng cho những chương
trình, dự án thuộc các lĩnh vực sau:
+ Y tế, dân số và phát triển
+ Giáo dục, phát triển nguồn nhân lực
+ Các vấn đề xã hội (tạo việc làm, cấp nước sạch sinh hoạt, phòng chống dịch
bệnh, phòng chống các tệ nạn xã hội)
+ Bảo vệ môi trường, bảo vệ phát triển các nguồn tài nguyên thiên nhiên,
nghiên cứu khoa học và công nghệ, nâng cao năng lực nghiên cứu và triển khai
+Nghiên cứu chuẩn bị các chương trình, dự án phát triển
+ Cải cách hành chính, tư pháp, tăng cường năng lực cơ quan quản lý nhà nước
ở trung ương, địa phương và phát triển thể chế
+ Một số lĩnh vực khác theo quyết định của thủ tướng chính phủ
2-Vốn ODA vay thường được sử dụng cho các chương trình, dự án thuộc các
lĩnh vực:
Có quyền kiểm soát,
có trách nhiệm đối với
doanh nghiệp nhận đầu tư
Không có quyền
kiểm soát, không có trách
nhiệm với doanh nghiệp
nhận đầu tư
Không có quyền
kiểm soát với số vốn đã
đầu tư
Phải gánh chịu thuế
cho các doanh thu có được
từ hoạt động đầu tư
Phải chịu thuế Không chịu thuế
Có tính cố định nhà
đầu tư không thể đột ngột
rút vốn
Rất linh hoạt, nhà
đầu tư có thể tăng hoặc
giảm cũng như rút vốn tùy
theo mục đích của họ
Không thể rút vốn
thậm chí họ có thể từ bỏ
quyền rút vốn của họ vì
mục đích của hình thức đầu
tư này không vì lợi nhuận
3. Quan điểm về thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
Nhiều người thường hiểu chính sách thu hút đầu tư một cách đơn giản là những
chủ trương, chế độ mà nhà nước ban hành nhằm thu hút vốn đầu tư điều đó đúng như
chưa đủ. Nếu không có việc thực thi chính sách để đạt được những kết quả nhất định
vào nước đầu tư.
- Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội. Việc quy hoạch tổng thể
cần được minh bạch và công khai để các nhà đầu tư biết được rõ ràng yên tâm đầu tư
vào một khu vực trong nước.
- Nâng cao cơ sở hạ tầng của đất nước, bên cạnh đó tạo môi trường
trong sạch, và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh các lĩnh vực hiện tại
có khả năng thu hút cao như các ngành công nghiệp, dịch vụ
10
Chương 2
THỰC TRẠNG VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI CỦA
TỈNH THÁI NGUYÊN
1. Giới thiệu khái quát về tỉnh Thái Nguyên
Đặc điểm về diều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên
a) Vị trí địa lý
Tỉnh Thái Nguyên có diện tích 3.562,82 km² phía bắc tiếp giáp với tỉnh Bắc
Kạn, phía tây giáp với các tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, phía đông giáp với các
tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang và phía nam tiếp giáp với thủ đô Hà Nội. Tỉnh Thái
Nguyên trung bình cách sân bay quốc tế Nội Bài 50 km, cách biên giới Trung
Quốc 200 km, cách trung tâm Hà Nội 75 km và cảng Hải Phòng 200 km. Với vị trí
địa lý là một trong những trung tâm chính trị, kinh tế,giáo dục của khu Việt
Bắc nói riêng, của vùng trung du miền núi phía bắc nói chung, Thái Nguyên là cửa
ngõ giao lưu kinh tế - xã hội giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc
Bộ. Việc giao lưu đã được thực hiện thông qua hệ thống đường bộ, đường sắt,
đường sông hình rẻ quạt mà thành phố Thái Nguyên là đầu nút.
b) Điều kiện địa hình
Thái Nguyên có nhiều dãy núi cao chạy theo hướng bắc-nam và thấp dần xuống
phía nam. Cấu trúc vùng núi phía bắc chủ yếu là đa phong hóa mạnh, tạo thành nhiều
hang động và thung lũng nhỏ.
Phía bắc Thái Nguyên gồm rừng núi và đồng lầy. Về phía đông có những dãy
núi cao nằm giữa những ngọn núi đá vôi ở phố Bình Gia. Về phía đông bắc, có cao
bình hàng năm khoảng 2.000 đến 2.500 mm; cao nhất vào tháng 8 và thấp nhất vào
tháng 1. Nhìn chung khí hậu tỉnh Thái Nguyên thuận lợi cho phát triển ngành nông,
lâm nghiệp.
d) Đất đai thổ nhưỡng
Tỉnh Thái Nguyên có tổng diện tích là 356.282 ha. Cơ cấu đất đai gồm các loại
sau:
• Đất núi chiếm 48,4% diện tích tự nhiên, có độ cao trên 200 m, hình
thành do sự phong hóa trên các đá Macma, đá biến chất và trầm tích. Đất núi thích
hợp cho việc phát triển lâm nghiệp, trồng rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, rừng
kinh doanh nhưng cũng thích hợp để trồng cây ăn quả, một phần cây lương
thực cho nhân dân vùng cao.
• Đất đồi chiếm 31,4% diện tích tự nhiên chủ yếu hình thành trên cát
kết, bột kết phiến sét và một phần phù sa cổ kiến tạo. Đây là vùng đất xen giữa
nông và lâm nghiệp. Đất đồi tại một số vùng như Đại Từ, Phú Lương ở từ độ cao
150 m đến 200 m có độ dốc từ 50 đến 200 phù hợp đối với cây công nghiệp và cây
ăn quả lâu năm, đặc biệt là cây chè (trà) (một đặc sản của Thái Nguyên)
12
• Đất ruộng chiếm 12,4% diện tích đất tự nhiên, trong đó một phần phân
bố dọc theo các con suối, rải rác, không tập trung, chịu sự tác động lớn của chế độ
thủy văn khắc nghiệt (lũ đột ngột, hạn hán ) khó khăn cho việc canh tác.
Trong tổng quỹ đất 356.282 ha, đất đã sử dụng là 246.513 ha (chiếm 69,22%
diện tích đất tự nhiên) và đất chưa sử dụng là 109.669 ha (chiếm 30,78% diện tích tự
nhiên). Trong đất chưa sử dụng có 1.714 ha đất có khả năng sản xuất nông nghiệp và
41.250 ha đất có khả năng sản xuất lâm nghiệp.
e) Sông ngòi thủy văn
Sông Cầu là con sông chính của tỉnh và gần như chia Thái Nguyên ra thành hai
nửa bằng nhau theo chiều bắc nam. Sông bắt đầu chảy vào Thái Nguyên từ xã Văn
Lăng, huyện Đồng Hỷ và đến địa bàn xã Hà Châu, huyện Phú Bình, sông trở thành
ranh giới tự nhiên giữa hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Giang và sau đó hoàn toàn ra
khỏi địa bàn tỉnh ở xã Thuận Thành, huyện Phổ Yên. Ngoài ra Thái Nguyên còn có
a) Kết cấu hạ tầng
Thái Nguyên hiện có 3 tuyến quốc lộ đi qua là Quốc lộ 3, Quốc lộ 1B, Quốc lộ
37. Tuyến quốc lộ 3 vốn chỉ có 2 làn xe và hiện được cho là quá tải, tuyến đường này
đang được đầu tư để mở rộng song song với việc xây dựng tuyến đường cao tốc Hà
Nội - Thái Nguyên với 4 làn xe dự kiến hoàn thành vào năm 2013. Đường cao tốc có
mặt đường rộng 34,5m và dài hơn 61 km có điểm đầu là Quốc lộ 1A mới thuộc xã
Ninh Hiệp (Gia Lâm, Hà Nội) và điểm cuối là tuyến đường tránh thành phố Thái
Nguyên, tuyến đường này sẽ nằm về bên phải quốc lộ 3 cũ trừ đoạn từ xã Lương Sơn
(TPTN) đến tuyến đường tránh thành phố. Hiện tuyến đường đã được quy hoạch xây
dựng với chiều rộng 4 km. Bên cạnh đó, tỉnh Thái Nguyên cũng nằm trong Dự án
đường vành đai 5 Hà Nội, một tuyến đường đang được "nghiên cứu quy hoạch" và dự
kiến đi quan nhiều tỉnh thành phố lân cận thủ đô, cũng theo nghiên cứu thì sẽ có Hầm
Tam Đảo giữa hai tỉnh Thái Nguyên-Vĩnh Phúc trên tuyến đường này. Nếu dự án được
khởi công và hoàn thành sẽ giảm bớt thời gian di chuyển từ tỉnh Thái Nguyên tới Vĩnh
Phúc và một số tỉnh thành khác. Mặc dù từng được kỳ vọng là sẽ tiến hành khởi công
hầm vào dịp Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội song cho đến nay dự án hầm
vẫn chưa được triển khai.
Thái Nguyên cũng có một số tỉnh lộ, trong đó nổi bật là như tỉnh lộ 261 kết nối
hai huyện Đại Từ và Phổ Yên, tỉnh lộ 260 kết nối phía tây thành phố Thái Nguyên và
huyện Đại Từ, tỉnh lộ 264 kết nối hai huyện Định Hóa và Đại Từ, tỉnh lộ 254 kết nối
huyện Định Hóa với Quốc lộ 3. Ngoài ra còn có các tỉnh lộ 242, 259, 262. Thái
Nguyên là một trong những địa phương đi đầu cả nước về phong trào vận động nhân
dân hiến đất giải phóng mặt bằng để làm đường giao thông, do vậy, kinh phí để hoàn
thành các tuyến đường đã được giảm xuống.
Toàn tỉnh Thái Nguyên có 3.422,7 km đường bộ. Trong đó đường do Trung
ương quản lý dài 80,1 km, chiếm 2,34%; đường do tỉnh quản lý dài 271 km, chiếm
7,91%; đường do huyện quản lý dài 759,6 km, chiếm 22,19%; đường do xã quản lý dài
14
2.312 km, chiếm 67,54%. Về chất lượng, đường cấp phối, đường đá dăm là 350,5 km,
chiếm 10%; đường nhựa và bê tông nhựa là 379,7 km, chiếm 11%; đường đất là
binh của ông.
15
Ngoài ra Thái Nguyên có nhiều dân tộc còn giữ được bản sắc văn hóa dân tộc
đặc sắc như dân tộc Tày, H’Mông, Dao có thể khai thác thành các điểm du lịch cho
khách tham quan.
Năm 2010, tỉnh Thái Nguyên có 14 khách sạn đạt tiêu chuẩn từ một đến 3 sao.,
trong đó có hai khách sạn có tiêu chuẩn ba sao là Khách sạn Dạ Hương II và Khách
sạn Thái Dương. Số cơ sở lưu trú, nhà hàng thuộc mọi thành phần kinh tế trong tỉnh
tăng bình quân 15%/năm, hiện có 135 cơ sở, đáp ứng nhu cầu cho các đối tượng từ
bình dân đến cao cấp với công suất phục vụ trên 3.000 lượt khách/ngày-đêm. Riêng 9
tháng đầu năm 2011, tổng số lượt khách đến Thái Nguyên đạt 1.149.100 lượt người,
trong đó khách quốc tế đạt 18.360 lượt người, đạt 109% so với cùng kỳ năm trước,
khách lưu trú đạt 481.800 lượt người, tổng doanh thu toàn xã hội về du lịch đạt 768 tỷ
đồng, công suất sử dụng buồng phòng đạt 67%.
c) Đặc điểm cơ bản về kinh tế
Thái Nguyên có tổ hợp Gang Thép được thành lập năm 1959, là nơi đầu tiên và
duy nhất tại Việt Nam có dây chuyền sản xuất liên hợp khép kín từ khai thác quặng sắt
đến sản xuất gang, phôi thép và cán thép. Khu công nghiệp đầu tiên của Thái Nguyên
là Khu công nghiệp Sông Công và hiện tỉnh này đã được chính phủ Việt Nam chấp
thuận để hình thành 6 khu công nghiệp là KCN Sông Công I (220ha); KCN Sông
Công II (250ha) thuộc thị xã Sông Công; KCN Nam Phổ Yên (200 ha), KCN Tây Phổ
Yên (200ha) thuộc huyện Phổ Yên; KCN Điềm Thuỵ (350ha) thuộc huyệnPhú Bình và
KCN Quyết Thắng (200ha) thuộc thành phố Thái Nguyên, đều tập trung ở khu vực
trung-nam của tỉnh. Ngoài ra, tỉnh Thái Nguyên cũng quy hoạch một số cụm công
nghiệp tại nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh. Đến hết năm 2010 đã có 18 cụm công
nghiệp được phê duyệt qui hoạch chi tiết với diện tích 620 ha (6,2 km²), trong đó diện
tích đất công nghiệp là 407,6 ha (4,076 km²).
Trong giai đoạn 2006-2010, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Thái Nguyên đạt
trung bình 11,11% mỗi năm, trong khi giai đoạn 2001-2006 trước đó là 9,14% mỗi
năm. Trong thời kỳ 2006-2010, khu vực công nghiệp - xây dựng tăng trưởng bình
Dân số đô thị
(người)
Tỷ lệ so với
dân số dân
tộc
Tỷ lệ dân số
nông thôn so
với dân số dân
tộc (người)
Kinh
821.083 73,1% 249.305 30,4% 69,6%
Tày
123.197 11% 21.319 17,3% 82,7%
Nùng
63.816 5,7% 7.716 12,1% 87,9%
Sán dìu
44.134 3,9% 3.941 8,9% 91,1%
Sán
Chay
32.483 2,9% 1.101 3,4% 96,6%
Dao
25.360 2,3% 1.186 4,7% 95,3%
17
H’Mông
7.230 0,6% 237 0,03% 99,97%
Hoa
2.064 0,18% 712 34,5% 65,5%
b) Y tế
Theo thống kê năm 2010, tỉnh Thái Nguyên có 1 bệnh viện trực thuộc Bộ Y
tế là Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên, cùng với 15 bệnh viện trực thuộc
Năm 2009, Thái Nguyên có 441 trường phổ thông, trong đó có 227 trường tiểu
học, 181 trường trung học cơ sở, 33 trường trung học phổ thông. Số học sinh phổ
thông là 184.505 người với 6243 phòng học. Số giáo viên giảng dậy tại bậc phổ thông
là 10748 người
2. Thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài của tỉnh Thái Nguyên trong
những năm gần đây
2.1 Khái quát về những dự án đầu tư trên địa bàn
Trong những năm qua, cùng với sự cố gắng, nỗ lực của Đảng bộ, Chính quyền
và nhân dân các dân tộc tỉnh Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã được sự quan tâm
giúp đỡ về nhiều mặt của Đảng, Nhà nước và Chính phủ nên sự tăng trưởng kinh tế
liên tục đạt mức cao và thu hút được nguồn vốn đầu tư trong nước và nước ngoài
lớn.Các dự án đầu tư được đăng ký và thực hiện trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên ngày
càng nhiều cả về số lượng và quy mô đầu tư. Tính đến 30/6/2010, trên địa bàn tỉnh
Thái Nguyên ước có 73 dự án được giới thiệu địa điểm, chấp thuận đầu tư và cấp giấy
chứng nhận đầu tư (GCNĐT) với tổng vốn đầu tư đăng ký gần 5.500 tỷ đồng. Trong
đó, số dự án được cấp GCNĐT ước khoảng 17 dự án với số vốn đầu tư đăng ký
khoảng 1.000 tỷ đồng, được giới thiệu địa điểm, chấp thuận đầu tư là 56 dự án với vốn
đầu tư đăng ký 4.500 tỷ đồng. Số các dự án đầu tư có quy mô lớn cả về diện tích đất sử
dụng và vốn đăng ký tập trung nhiều vào lĩnh vực đầu tư khu du lịch sinh thái, đường
giao thông, khu đô thị. Việc nhiều nhà đầu tư tập trung vốn đầu tư vào lĩnh vực xây
dựng trung tâm thương mại, khách sạn cao cấp, khu dân cư đô thị, thể hiện sự đánh giá
cao của các nhà đầu tư về tương lai phát triển ngành dịch vụ trên địa bàn. Các dự án
đầu tư nước ngoài vào tỉnh Thái Nguyên với số lượng không nhiều; Tổng số dự án
FDI được cấp GCNĐT còn hiệu lực trên địa bàn tỉnh tính đến tháng 6 năm 2010 ước
có 24 dự án, với tổng vốn đăng ký là 243 triệu USD; Tổng vốn đầu tư thực hiện dự án
ước đạt 172,9 triệu USD tương ứng 71,15% vốn đầu tư; Riêng 6 tháng đầu năm 2010,
tổng vốn đầu tư thực hiện dự án ước đạt 8,035 triệu USD. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh
Thái Nguyên có 16 dự án ODA đang thực hiện, ước giải ngân 6 tháng đạt 75 tỷ đồng
tương ứng 40% kế hoạch đề ra năm 2010; Dự kiến vốn đầu tư nước ngoài thực hiện
năm 2010 là 28 triệu USD. Về hoạt động tiếp xúc, sau một năm 2009 thành công với
triển khai công tác bồi thường GPMB với giá trị đã lập phương án 1.126.748 triệu
đồng, phê duyệt và chi trả cho dân được 884.013 triệu đồng, khối lượng còn lại tiếp
tục triển khai thực hiện trong năm 2010. Lĩnh vực công nghiệp có nhiều dự án đầu tư
được thực hiện đã làm tốt công tác giải phóng mặt bằng, kết quả nổi bật phải nói đến
dự án đầu tư xây dựng nhà máy công nghiệp Shinwon tại thị xã Sông Công tỉnh Thái
Nguyên với diện tích bị thu hồi 80.000m
2
, vốn đầu tư trên 20 triệu USD. Dự án đã
được thực hiện giải phóng mặt bằng trong thời gian ngắn nhất từ trước tới nay (dự án
được chấp thuận đầu tư cuối tháng 9/2009, đã được khởi công vào đầu tháng 11/2009).
20
Danh mục dự án đầu tư 6 tháng đầu năm 2012
T
T
Tên dự án Chủ đầu tư
Địa
điểm thực
hiện dự án
1
xây dựng siêu thị và
văn phòng cho thuê
Công ty TNHH Phương
Nhung
phường
Gia Sàng,
TPTN
2
Dự án đầu tư khu
dân cư Phú Đại Cát
Cty TNHH thương mại
6
Khu đô thị Thịnh
Quang và đường Việt Bắc –
TPTN
Liên danh cty CP Sơn
dầu khí Việt Nam, cty CPTM
địa ốc Thế Giới Lê, Cty CP
BĐS& hoá chất Á Châu, cty
CPTM Tân An Phú
TPTN
7
Dự án xây dựng tổ
hợp dịch vụ và văn phòng
công ty TNHH Vũ Tần
cty TNHH Vũ Tần
8
dự án đầu tư xây
dựng khu trồng và trưng bày
cây cảnh
Cty cổ phần đầu tư BMD tại khu
đất quy hoạch
cây xanh trong
khu tái định cư
đê Sông Cầu,
phường Túc
Duyên, TPTN
21
9
dự án đầu tư xây
Cty CP Mỹ Long Thành
1
3
dự án Khu đô thị
sinh thái sân golf Long Sơn
công ty CP bất động sản
QNK và Công ty CP tập đoàn
T&T;
xã
Lương Sơn,
TPTN (Khu vực
phía Nam)
1
4
Công ty CP thương mại
sông hồng Thủ Đô - chi nhánh
TN
xã
Lương Sơn,
TPTN (Khu vực
phía Bắc)
1
5
Dự án đầu tư xây
dựng Khu tập thể Tân Trung
cho cán bộ Trung tâm
Trung tâm nghiên cứu
gia cầm Thụy Phương - Viện
chăn nuôi
Huyện
dựng xưởng nghiền xỉ luỵện
kim sản xuất vật liệu xây
dựng
Cty TNHH Hồng Hưng
Xã La
Hiên - Võ Nhai
–TN
1
9
dự án đầu tư nâng
cấp, cải tạo công trình bến
xe khách Đình Cả, huyện
Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
theo hình thức BOT
Doanh nghiệp Xưởng
Anh
TT Đình
Cả, huyện Võ
Nhai, tỉnh Thái
Nguyên
2
0
dự án đầu tư Khu
liên hiệp nhà ở cho người có
thu nhập thấp – nhà ở công
nhân Khu công nghiệp tại
phường Mỏ Chè, thị xã
Sông Công, tỉnh Thái
Nguyên
Công ty Cổ phần đầu tư
2
3
Dự án xây dựng mở
rộng nhà máy sản xuất thuốc
thú y
Cty CP thuốc thú y Đức
Hạnh Marphavet
xóm
Thanh Tân -
Trung Thành -
Phổ Yên – TN
2
4
Dự án xây dựng siêu
thị và văn phòng cho thuê
VNF1
Cty CP phân phối bán lẻ
VNF1
Phường
Trưng Vương –
TPTN
2
5
Dự án xây dựng nhà
máy linh kiện điện tử
Bujeon
Công ty TNHH Bujeon
Electronics
P. Tân
Lập, P. Phú Xá
9
Dự án đầu tư xây
dựngdự án xây dựng cửa
hàng xăng dầu
công ty CP Luyện Kim
Đen
xã Nam
Hoà - Đồng Hỷ
3
0
Dự án xây dựng nhà
xưởng kho bãi
cty TNHH bê tông Long
Giang
P.Phú
Xá, TP Thái
Nguyên
Chỉ tính 6 tháng đầu năm 2012 toàn tỉnh có 30 dự án đầu tư nhưng chủ yếu vẫn
là các dự án đầu tư trong nước, số dự án đầu tư nước ngoài không nhiều. Tỉnh đến nay,
tỉnh Thái nguyên có 2 dự án đầu tư nước ngoài lớn nhất là: Dư án Núi Pháo của công
ty trách nhiệm hữu hạn khai thác và chế biến khoáng sản tập đoàn Masan. Thứ hai là
dự án của công ty trách nhiệm hữu hạn Sam sung.
2.2 Một số dự án tiêu đầu tư nước ngoài tiêu biểu
2.2.1 Dự án Núi Pháo
Dự án Núi Pháo Vica bắt đầu triển khai từ năm 2004 với số vốn đầu tư ban đầu
gần 150 triệu USD. Dự án Núi Pháo là dự án lớn nhất từ trước đến nay trong lĩnh vực
khai khoáng của Việt Nam do công ty liên doanh khai thác và chế biến khoáng sản Núi
Pháo - doanh nghiệp liên doanh giữa công ty Tiberon Minerals của Canada cùng hai
đối tác Việt Nam là công ty Cổ phần xuất nhập khẩu Thái Nguyên và công ty Cổ phần
xuất nhập khẩu - đầu tư Thái Nguyên làm chủ đầu tư.
khác.
Cho dù cơ cấu kinh tế của Thái Nguyên đã có sự chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng
các ngành công nghiệp - xây dựng, dịch vụ và giảm tỷ trọng của ngành nông lâm
nghiệp, nhưng mọi việc vẫn cứ diễn ra khá “đều đều”. Trong khi Vĩnh Phúc, Bắc Ninh
hay Hải Dương bứt tốc, những hạn chế về hạ tầng và thể chế đã níu chân Thái Nguyên
trong nhiều năm liền.
Tuy nhiên, sự có mặt của tập đoàn Samsung với việc khởi công xây dựng tổ hợp tại
khu công nghiệp Yên Bình vào tháng 3/2013 đã đem lại cho Thái Nguyên một diện
mạo mới. Cho đến nay, không có nhiều thông tin được tiết lộ quanh việc vì sao
Samsung lại chọn Thái Nguyên, nhưng có một điều chắc chắn là việc Thái Nguyên
kéo được Samsung về đã khiến nhiều tỉnh thành phải “ghen tỵ”.
25