Đề cương dẫn luận ngôn ngữ chi tiết - Pdf 14

Đề cương Dẫn luận ngôn ngữ
Lý thuyết:
Câu 1: Khái niệm ngôn ngữ , các đơn vị ngôn
ngữ, các quan hệ ngôn ngữ.
Trả lời:
Ngôn ngữ là một hệ thống các đơn vị (âm vị, hình vị, từ, câu) và những quy tắc kết hợp
để tạo thành lời nói trong giao tiếp. Những đơn vị ngôn ngữ và quy tắc kết hợp các đơn vị
ngôn ngữ để tạo thành lời nói được cộng đồng sử dụng ngôn ngữ ấy quy ước và được
phản ánh trong ý thức của họ.
-> ngôn ngữ là 1 hệ thống tín hiệu âm thanh đặc biệt, là phương tiện giao tiếp cơ bản và
quan trọng nhất của các thành viên trong cộng đồng. Đồng thời cũng là phương tiện để
phát triển tư duy, truyền đạt truyền thống lịch sử từ thế hệ này san thế hệ khác.
- các đơn vị ngôn ngữ: âm vị, hình vị, từ và ngữ, câu, văn bản.
+ Âm vị: là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ mà người ta không thể chia nhỏ hơn.
Vd: các âm [b ], [t], [v]….hoàn toàn không thể chia nhỏ chúng hơn được nữa.
Âm vị không có nghĩa nhưng lại có chức năng khu biệt nghĩa của từ. Âm vị là thành tố
tạo nên hình vị.
Ví dụ: bào có nghĩa là “ một dụng cụ của thợ mộc để làm mòn, nhẵn gỗ” còn vào có
nghĩa là “ một hành động đi từ ngoài tới trong”. Bào có nghĩa khác với vào do sự đối lập
giữa âm /b/ và /v/.
Tương tự, màn có nghĩa khác với bàn nhờ có sự đối lập giữa âm vị /b/ và âm vị /m/, do
vậy chúng khu biệt nghĩa của hai từ này.
+ Hình vị: Là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa nhưng không có khả năng hoạt động độc lập, là
chuỗi kết hợp các âm vị tạo thành.Hình vị có thể mang ý nghĩa từ vựng ( hình vị thực )
hoặc có thể mang ý nghĩa ngữ pháp (hình vị hư).
Hình vị đứng ở vị trí khác nhau có ý nghĩa khác nhau là hình vị độc lập
Vd: đo đỏ, may đo
Hình vị là thành tố để tạo nên từ.
Ví dụ: Ví dụ: “Quốc kỳ” được tạo bởi 2 hình vị là “Quốc” và “kỳ” kết cấu với nhau theo
quan hệ chính phụ, kiểu hán việt. Hai hình vị này đều biểu thị nghĩa : Quốc: nước, kỳ:
cờ.Trong tiếng Anh, từ Unkind có 2 hình vị, từ boxes có 2 hình vị: 1 hình vị từ vựng và 1

xâm lược của thực dân Pháp vào cuối năm 1946.
- Các quan hệ trong ngôn ngữ
Ngôn ngữ là một hệ thống
Sự tồn tại của hệ thống kết cấu ngôn ngữ được xác định không chỉ dựa vào các
yếu tố( các loại đơn vị ) mà còn dựa vào mối quan hệ chung nhất giữa chúng. Đó
là mối quan hệ tồn tại trong hệ thống bao gồm quan hệ ngang,dọc và quan hệ cấp
bậc.
+quan hệ tuyến tính( quan hệ ngang hay quan hệ ngữ đoạn )
Là quan hệ nối kết các đơn vị ngôn ngữ thành chuỗi khi ngôn ngữ đi vào hoạt
động.
Cơ sở của quan hệ này là tính hình tuyến bắt buộc các đơn vị phải kết nối với
nhau lần lượt trên một trục nằm ngang.
Trên trục này chỉ những đơn vị đồng hạng mới kết hợp trực tiếp với nhau: từ kết
hợp với hình vị, hình vị kết hợp với âm vị
Vd: Cái cò lặn lội bờ sông
Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non.
Không nhất thiết những đơn vị ở gần nhau thì phải có quan hệ với nhau.
Quan hệ này là điều kiện để xác định mối liên quan giữa các ngôn ngữ chi phối
các hành động của ngôn ngữ.
+quan hệ liên tưởng ( quan hệ dọc )
Là quan hệ giữa các yếu tố có thể thay thế cho nhau trong một vị trí của chuỗi lời
nói. Các yếu tố tham gia vào quan hệ liên tưởng phải nằm trong cùng một trường
liên tưởng( cùng trường nghĩa, đồng nghĩa, trái nghĩa )
Ví dụ: trong câu “ nhân dân ta rất anh hùng” .Vị trí của từ nhân dân có thể thay
bằng quân đội, phụ nữ, thanh niên…Vị trí của từ ta có thể thay bẳng Lào,
Campuchia…Vị trí anh hùng có thể thay bằng dũng cảm, cần cù, thông minh
Quan hệ liên tưởng giúp chúng ta lựa chọn từ một cách chính xác trong chuỗi lời
nói.
Ví dụ: để diễn đạt hành động đã và đang diễn ra trong tiếng Anh, tiếng Pháp và
tiếng Việt, các đơn vị ngôn ngữ được kết hợp theo quan hệ liên tưởng sau:

quan hệ : quan hệ cấp bậc và quan hệ ngang, dọc
Câu 2 :Nguồn gốc của ngôn ngữ
Một số giả thiết về nguồn gốc của ngôn ngữ:
- ngôn ngữ do đấng siêu nhiên tạo ra
Trong kinh thánh cho rằng ngôn ngữ là do chúa trời tạo ra.Những niềm tin tương
tự có thể thấy hầu khắp các nơi trên thế giới.
Vd: Người Ai Cập cho rằng đấng sáng tạo ra ngôn ngữ là thần Nabu.
Người Hindu cho rằng chúng ta có được ngôn ngữ của mình là nhờ thần
Sanasvati.
- Ngôn ngữ do con người tạo ra.
Thuyết tượng
thanh
Thuyết cảm
thán
Thuyết tiếng
kêu trong lđ
Thuyết khế
ước xã hội
Thuyết ngôn
ngữ cử chỉ.
Thời
gian
Mạnh nha từ
thời cổ đại, phát
Phát triển
mạnh vào tk
Phát triển
mạnh vào tk 19
Bắt đầu thời cổ
đại và phát

thán từ
Đời sống tập
thể và đời sống
trong lao động
hiện nay
Nội
dung
Toàn bộ ngôn
ngữ nói cung và
các từ riêng biệt
của nó đều do ý
muốn tự giác
hay không tự
giác của con
người bắt chước
âm thanh của
thế giới xung
quanh.
Ngôn ngữ
loài người có
được là do
âm thanh của
sự mừng, vui,
buồn, tủi: ôi,
chao ôi, ái, a
ha
Ngôn ngữ có
được bắt nguồn
từ tiếng kêu
gọi của người

Sai và trẻ con
mới sinh và
động vật có
thể biểu lộ
cảm xúc = âm
thanh nhưng
nó k phải là
ngôn ngữ.
Sai vì động vật
có thể phát ra
tiếng kêu cũng
có đời sống tập
thể nhưng
chúng k có
ngôn ngữ.
Sai vì muốn có
thoả thuận phải
có ngôn ngữ
trước.Người
nguyên thủy
chưa có ngôn
ngữ k thể bàn
bạc với nhau
về phương ấn
tạo ra ngôn
ngữ.
Sai vì không
phải tất cả mọi
người đều là
đạo sĩ mà ngôn

có thể phát sinh. Có thể nói lao động để chuẩn bị và “tạo cơ sở vật chất” để loài
người có những cơ quan thích hợp cho việc sản sinh tiếng nói.
Kết luận : Nhờ có lao động bằng công cụ mà con người dần có dáng đi đứng
thẳng, đôi tay khéo léo, tư duy của con người phát triển.Nhưng tư duy không thể
tồn tại trần trụi, thoát khỏi ngữ liệu thì tư duy được hình thành dẫn đến sự ra đời
của ngôn ngữ. Vậy. Ngôn ngôn ngữ tồn tại cổ xưa như ý thức.
Ngôn ngữ chỉ nảy sinh do nhu cầu, do sự cần thiết phải giao tiếp, nhu cầu giao tiếp
ấy cũng đang do lao động quyết định.
Lao động giúp hoàn thiện cơ quan phát âm của con người.
Câu 3: bản chất xã hội của ngôn ngữ
- Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội.
Một số giả thiết về bản chất của ngôn ngữ:
+ ngôn ngữ là 1 hiện tượng tự nhiên
Qđ1: Do ảnh hưởng thuyết tiến hoá của Đacuyn, một số người xem ngôn ngữ giống như
một cơ thể sống. Ngôn ngữ hoạt động và phát triển theo quy luật của tự nhiên, nghĩa là
ngôn ngữ ở mọi nơi mọi lúc phải trải qua các giai đoạn: nảy sinh, trưởng thành, hưng
thịnh, suy tàn và diệt vong. Để biện minh cho quan điểm này, người ta đã dẫn ra các hiện
tượng nhiều từ cũ và nghĩa cũ đã mất đi, nhiều từ mới và nghĩa mới đã được tạo ra trong
các ngôn ngữ, thậm chí một số ngôn ngữ đã trở thành tử ngữ như tiếng Latin, tiếng Phạn,
v, v.
->Sai:Thực ra quy luật phát triển của ngôn ngữ không giống quy luật phát triển của của
tự nhiên. Ngôn ngữ luôn kế thừa cái cũ và phát triển cái mới, không bao giời bị huỷ diệt
hoàn toàn.
Qđ2: Đồng nhất ngôn ngữ với bản năng sinh vật của con người, nghĩa là họ cho hoạt
động nói năng cũng có tính chất bản năng như các hoạt động ăn, khóc, cười, chạy, nhảy,
v.v. của con người.
->Sai:Thực ra những bản năng sinh vật như ăn, khóc, cười, v.v. có thể phát triển ngoài xã
hội, trong trạng thái cô độc, còn ngôn ngữ không thể có được trong những điều kiện như
thế.Nó chỉ có được và phát triển được trong môi trường xh loài người.
Qđ3: đồng nhất ngôn ngữ với những đặc trưng về chủng tộc, nghĩa là ngôn ngữ có tính

nguyện vọng của mỗi cá nhân . Sự thay đổi không đột biến mà từ từ và được xã hội thừa
nhận.
Chẳng những ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội như đã phân tích bên trên, mà
nó là một hiện tượng xã hội đặc biệt:
vì nó không thuộc cơ sở hạ tầng, không thuộc kiến trúc thượng tầng cũng không phải là
công cụ sản xuất và không mang tính giai cấp. Ngôn ngữ có một đặc thù riêng là phục vụ
xã hội, làm phương tiện giao tiếp giữa mọi người, làm phương tiện trao đổi ý kiến trong
xã hội, làm phương tiện giúp cho người ta hiểu biết lẫn nhau và cùng nhau tổ chức công
tác chung trên mọi lĩnh vực hoạt động.
+nó không thuộc cơ sở hạ tầng cũng không thuộc kiến trúc thượng tầng.
Trong các hiện tượng xã hội, Mác phân biệt cơ sở hạ tầng và kiến trúc tượng tầng :
Cơ sở hạ tầng là toàn bộ quan hệ sản xuất của xã hội ở một giai đoạn phát triển nhất
định.
Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ quan điểm chính trị, pháp quyền, tôn giáo…của xã hội
và các cơ quan tương ứng với chúng. Ví dụ: Pk: CSHT là tư hữu tư nhân về tư liệu sản
xuất kéo theo KTTT là người bóc lột người.
Hiện đại: CSHT: quốc hữu hoá tư liệu sản xuất kéo theo KTTT: Bình đẳng giữa người vs
người
Trong khi đó,ngôn ngữ không phải do CSHT nào sinh ra và cũng không thuộc kiến trúc
tượng tầng. Ngôn ngữ có một đặc thù riêng là phục vụ xã hội, làm phương tiện giao tiếp
giữa mọi người, làm phương tiện trao đổi ý kiến trong xã hội, làm phương tiện giúp cho
người ta hiểu biết lẫn nhau và cùng nhau tổ chức công tác chung trên mọi lĩnh vực hoạt
động.
+ kiến trúc thượng tầng luôn phục vụ cho một giai cấp nhất định còn ngôn ngữ phục vụ
chung cho mọi giai cấp,cho toàn xã hội.
+ cơ sở hạ tầng phục vụ xã hội về mặt kinh tế, kiến trúc thượng tầng phục vụ xã hội về
mặt chính trị, còn ngôn ngữ phục vụ xã hội với tư cách là 1 phương tiện giao tiếp,điều
này chỉ ngôn ngữ mới có. Gữa con người với con người, giữa tầng lớp này với tầng lớp ,
giữa các giai cấp đều phải có sự lien hệ với nhau về kinh tế và về tổ chức xã hội. Vì vậy
giữa họ phải có 1 phương tiện giao tiếp chung đó là ngôn ngữ. Ngôn ngữ có thể được các

tín hiệu, thế nhưng, nếu tách nó ra, đưa vào chùm đèn trang trí thì nó lại không phải là tín
hiệu nữa. Sở dĩ như thế là vì chỉ có nằm trong hệ thống tín hiệu đèn giao thông, nó mới
có tư các tín hiệu, được xác định cùng với đèn xanh, đèn vàng nhờ vào sự đối lập quy
ước giữa chúng với nhau.
Ngôn ngữ là một tín hiệu bởi nó thoả mãn các yêu cầu:
 Ngôn ngữ là một thuộc tính vật chất được cảm nhận qua giác quan của con
người (bằng chữ viết và âm thanh), kích thích đến giác quan của con người
và con người cảm nhận được.
 Trong ngôn ngữ, cái biểu hiện (âm thanh và chữ viết) có quan hệ hài hoà
với cái được biểu hiện (nội dung của ngôn ngữ).
 Ngôn ngữ là 1 hệ thống
Bản chất tín hiệu của ngôn ngữ
 Tính hai mặt:Tín hiệu ngôn ngữ thống nhất giữa hai mặt: cái biểu hiện và
cái được biểu hiện .cái biểu hiện là chữ viết, âm thanh thể hiện trên măt
giấy, cái đc biểu hiện là ý nghĩa của nó.
• Cái biểu hiện (hình thức của tín hiệu)
Là những dạng âm thanh khác nhau mà trong quá trình nói năng con người đã
thiết lập lên mã cụ thể cho mình, đó chính là đặc trưng âm thanh cụ thể của từng ngôn
ngữ.
• Cái được biểu hiện (nội dung của tín hiệu)
Là những thông tin, những thông điệp về những mảnh khác nhau của thế giới hiện
tại mà con người đang sống, hoặc những dấu hiệu hình thức để phân cắt tư duy, phân cắt
thực tại.
Ví dụ: Tín hiệu “cây” trong tiêng việt là sự kết hợp giữa lược đồ sau:
Âm thanh: Cây (cái biểu hiện)
Ý nghĩa: loài thực vật có lá (cái được biểu hiện )
->Cái biểu hiện và cái được biểu hiện của tín hiệu ngôn ngữ gắn bó khăng khít với nhau
không thể tách rời
 Tính võ đoán: Quan hệ giữa mặt biểu hiện và mặt được biểu hiện mang
tính quy ước và được xã hội chấp nhận vì thế mà có 2 trường hợp xảy ra

khác loại, đồng thời các đơn vị của ngôn ngữ thuộc nhiều cấp độ khác nhau.
- Tính nhiều tầng bậc: Các đơn vị thuộc cấp độ khác nhau có quan hệ cấp bậc. Do
đó, hệ thống ngôn ngữ là một hệ thống của nhiều hệ thống: Hệ thống âm vị, hệ
thống hình vị. hệ thống từ vựng, hệ thống câu…Các hệ thống này lại gồm các hệ
thống con khác.
Ví dụ: hệ thống từ vựng có thể chia ra hệ thống từ đơn và hệ thống từ ghép…
Ngôn ngữ
Âm vị
Đơn
ghépp
đơn
Phức
Ghép
láy
Từ
Hình vị

Thực
Câu
Phụ âm
Nguyên âm
Tính đa trị:
Trong các tín hiệu khác, mối quan hệ giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện có tính đơn
trị, tức là mỗi cái biểu hiện bằng 1 cái đc biểu hiện và ngược lại.
Trong ngôn ngữ có khi một cái biểu hiện tương ứng với nhiều cái được biểu hiện khác
nhau (hiện tượng đa nghĩa) có khi có một cái được biểu đạt tương ứng với nhiều cái biểu
đạt khác như các từ đồng nghĩa. Mặt khác, chức năng giao tiếp và tư duy của ngôn ngữ
đòi hỏi tín hiệu phải có nhiều chức năng tương ứng: chức năng thông báo, chức năng biểu
cảm, chức năng tổ chức các tín hiệu trong hệ thống ngôn ngữ. Cụ thể là tính đa giá trị
nghĩa từ vựng, nghĩa cấu trúc trong hoạt động giao tiếp.

Phát triển từ mới phù hợp với nhiều khái niệm, nhiều sự vật hiện tượng mới xuất hiện:
hiệu ứng nhà kính, thủng tầng ôzn, mạng internet.
- Tính bất biến:
Xuất phát từ tính võ đoán của tín hiệu ngôn ngữ nên cá nhân sử dụng nó không thể
tự mình thay đổi được gì trong hệ thống tín hiệu ngôn ngữ, dù chỉ thay đổi một từ.
Thậm chí, quần chúng sử dụng ngôn ngữ đó đều phải tuân theo những quy luật
ngôn ngữ đã được quy ước trong trạng thái đương đại của nó. Hơn nữa, ở bất cứ
thời đại nào, ngôn ngữ vẫn thể hiện ra như di sản của thời đại trước đó mà con
người thừa hưởng và chấp nhận sự hình thành của nó. Các nhân tố sau đây có thể
giải thích sự bất biến của tín hiệu ngôn ngữ:
Tính võ đoán của tín hiệu ngôn ngữ đã bảo vệ sự bất biến của nó trong cộng đồng
người sử dụng. Bởi vì khi ngôn ngữ đã được phổ cập hoá trong quần chúng thì
không có cá nhân nào có thể thay đổi được dù chỉ là 1 tín hiệu (1 từ).
- Số lượng tín hiệu để tạo nên một ngôn ngữ quá lớn không thể thay đổi được
ngôn ngữ
- Xuất phát từ tính chất phức tạp của hệ thống tín hiệu ngôn ngữ nên quần
chúng không có khả năng thay đổi ngôn ngữ.
- Tập quán sử dụng ngôn ngữ của quần chúng đã gây khó khăn trong canh
tân ngôn ngữ
- Trong tất cả các thiết chế xã hội, ngôn ngữ là thiết chế ít chịu tác động của
sáng kiến. Nó đi sâu vào tập quán, sinh hoạt của xã hội. Bởi vậy, ngôn ngữ
đóng vai trò bảo thủ trong sự canh tân ngôn ngữ
. Tính khả biến:
Tính kế thừa, tính võ đoán, tính xã hội, tính phức tạp đã làm cho tín hiệu ngôn
ngữ bất biến. Tuy nhiên, tín hiệu ngôn ngữ có thể biến đổi vì tự thân nó kế tục trong thời
gian. Sự biến hoá của tín hiệu ngôn ngữ trong thời gian đã dẫn đến sự di chuyển của mối
quan hệ biểu đạt: hình thức ân thanh lẫn khái niệm đều thay đổi hoặc đôi khi mối quan hệ
giữa tín hiệu và ý niệm bị lỏng lẻo đi.
Ví dụ: Trong tiếng La Tinh từ necăre chuyển sang tiếng Pháp thành noyer (chết
đuối). Trong tiếng Việt từ: Bẩm -> Kính (kính thưa) có sự thay đổi lẫn âm và nghĩa.

+ Chức năng giải trí: giao tiếp sẽ giúp con người giải toả những lo toan,
phiền muộn, giảm căng thẳng
+ Chức năng tự biểu hiện: Qua giao tiếp, con người tự biểu hiện mình ,
bày tỏ quan điểm, sở thích, ưu nhược điểm…
Nếu cuộc giao tiếp có hiệu quả, các chức năng trên đây đều được phối
hợp xem xét đánh giá trong sản phẩm NN.
+ chức năng hành động:
Các nhân tố giao tiếp gồm có: NV giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, nội
dung giao tiếp, mục đích giao tiếp và phương tiện giao tiếp
 Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người: nhờ ngôn
ngữ mà con người có thể hiểu nhau trong quá trình sinh hoạt và lao động,
mà ta có thể diễn đạt tư tưởng, tình cảm,trạng thái và nguyện vọng của mình.
Có hiểu biết lẫn nhau , con người mới có thể đồng tâm hiệp lực chinh phục
thiên nhiên, chinh phục xã hôi, làm cho xã hội ngày càng tiến lên.
2. NN là phương tiện của tư duy: Chức năng giao tiếp của NN gắn liền
với chức năng thể hiện tư duy.Bởi vì NN là hiện thực trực tiếp của tư duy.
Nhưng không thể đồng nhất 2 chức năng với nhau vì chức năng giao tiếp
chỉ thực hiện được khi có giao tiếp, tức là dùng ngôn ngữ với
nhau.Nhưng trong thực tế người ta có thể nói 1 mình, viết 1 mình, tức là
không tư duy mà giao tiếp. Vậy, chức năng tư duy độc lập với chức năng
giao tiếp, giao tiếp phụ thuộc vào tư duy.
Chức năng tư duy của ngôn ngữ được thể hiện ở hai khía cạnh: ngôn ngữ
trực tiếp tham gia vào quá trình hình thành tư tưởng, ngôn ngữ là hiện
thực trực tiếp của tư tưởng.
a. NN là hiện thực trực tiếp của tư duy : không có từ nào, câu nào không
biểu hiện dưới dạng khái niệm tư tưởng, ngược lại ngôn ngữ tư tưởng
được hình thành từ ngôn ngữ.
b. NN trực tiếp tham gia vào quá trình hình thành tư duy: moi ý nghĩ tư
duy chỉ rõ ràng khi bộc lộ bằng ngôn ngữ,còn những tưu duy chưa bộc lộ
ra bằng ngôn ngữ là chưa rõ ràng.

toàn thể khí quản phát âm”
-cơ bản do tiếng động tạo
nên
- Có đường cong biểu
diễn không tuần hoàn
- Được tạo nên do sự cản
trở không khí
-Bộ máy cấu âm chỉ
“căng thẳng cục bộ”
Luồng hơi Khi phát âm luồng hơi cần cho
nguyên âm yếu
Khi phát âm luồng hơi
cần cho phát âm bao giờ
cũng mạnh( dù chỉ là
tương đối)
Khả năng tự
cấu thành âm
tiết, từ
có không
Câu 7: Cấu tạo từ
Ba bộ phận cấu tạo của ngôn ngữ là từ vựng, ngữ âm và ngữ pháp.
KN: Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa và có khả năng hoạt động độc lập.
Đặc điểm: là đơn vị hiển nhiên sẵn có cơ bản của mỗi ngôn ngữ
Có hình thức ngữ âm và ngữ nghĩa
Có tính chất cố định và bắt buộc
• Cấu tạo
1.Đơn vị cấu tạo
- Đơn vị cấu tạo: đơn vị cấu tạo từ gọi là hình vị ( từ tố, nguyên vị )
- Đây là đơn vi nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ
- Chia thành 2 loại

nhau về chức năng định danh, chức năng tham gia tạo câu.
Việc nghiên cứu cụm từ cố định của tiếng Việt tuy chưa thật sâu sắc và toàn diện nhưng
đã có không ít kết quả công bố trong một số giáo trình giảng dạy trong nhà trường đại
học và tạp chí chuyên ngành.
Nếu tạm thời chấp nhận tên gọi mà chưa xác định ngay nội dung khái niệm của chúng,
thì có thể tóm tắt một trong những bức tranh phân loại cụm từ cố định tiếng Việt như sau:
Dưới đây là một số miêu tả cụ thể:
Thành ngữ
Định nghĩa
Thành ngữ là cụm từ cố định, hoàn chỉnh về cấu trúc và ý nghĩa. Nghĩa của chúng có tính
hình tượng hoặc/và gợi cảm.Các cụm từ cố định (thành ngữ) như thế đều thoả mãn định
nghĩa nêu trên. Chúng là những thành ngữ điển hình.
Có nhiều cách phân loại thành ngữ. Trước hết, có thể dựa vào cơ chế cấu tạo (cả nội dung
lẫn hình thức) để chia thành ngữ tiếng Việt ra hai loại: thành ngữ so sánh và thành ngữ
miêu tả ẩn dụ.
Quán ngữ
Quán ngữ là những cụm từ được dùng lặp đi lặp lại trong các loại diễn từ (discourse)
thuộc phong cách khác nhau. Chức năng của chúng là để đưa đẩy, rào đón, để nhấn mạnh
hoặc để liên kết trong diễn từ.
Thật ra, tính thành ngữ và tính ổn định cấu trúc của quán ngữ không được như thành ngữ.
Dạng vẻ của cụm từ tự do còn in đậm trong các cụm từ cố định thuộc loại này. Chỉ có
điều, do nội dung biểu thị của chúng được người ta thường xuyên nhắc đến cho nên hình
thức và cấu trúc của chúng cũng tự nhiên ổn định dần lại và rồi người ta quen dùng như
một đơn vị có sẵn.
Có thể phân loại các quán ngữ của tiếng Việt dựa vào phạm vi và tính chất phong cách
của chúng, như sau:
Những quán ngữ hay dùng trong phong cách hội thoại, khẩu ngữ
Những quán ngữ hay dùng trong phong cách viết (khoa học, chính luận, ) hoặc diễn
giảng
Ngữ cố định định danh

Thế nhưng, ngay ở khu vực thành ngữ cũng có những đơn vị trung gian được cấu tạo
theo lối thành ngữ nhưng tính tự do, kém ổn định vẫn còn rõ nét.
Có những đơn vị đã đạt được tính thành ngữ khá cao nhưng tính bền chắc, tính chỉnh thể
về cấu trúc lại còn kém ổn định. Nghĩa là số thành tố cấu tạo nên chúng có thể còn tăng
hay giảm được một cách tuỳ nghi.
Rất nhiều cụm từ cấu tạo theo kiểu thành ngữ so sánh, là như thế: Nhức như búa bổ, Đắt
như vàng, Gầy như gọng vó, Buồn như cha chết, Hôi như chuột chù, Bẩn như hủi, Lôi
thôi như ổ chó,
Ngược lại, có những đơn vị khác, tính ổ định về cấu trúc khá bảo đảm, tức là không thể
thêm bớt các thành tố cấu tạo một cách tuỳ nghi, nhưng tính thành ngữ, tính nhất thể về
nghĩa vẫn chưa cao. Nghĩa của cả cụm từ vẫn là nghĩa được hiểu nhờ từng thành tố cộng
lại. Ví dụ: Bàn mưu tính kế, Đi ra đi vào, Buôn gian bán lận, Suy đi tính lại, Nghĩ tới
nghĩ lui, Gìn vàng giữ ngọc, Trăng tủi hoa sầu, Chân mây cuối trời, Than thân trách
phận, Ăn thô nói tục, Yêu trẻ kính già,
Những đơn vị như thế, đã, đang và chắc sẽ còn được tạo lập trong tiếng Việt. Đó là
những sản phẩm được tạo ra trong đời sống hoạt động ngôn ngữ. Trả lời cho câu hỏi
"Chúng có trở thành thành ngữ hay không?" thật là khó. Hẳn rằng còn phải qua thời gian,
qua thực tế sử dụng, qua rất nhiều tác động của các nhân tố trong và ngoài ngôn ngữ
nữa, mới có thể kết luận được.
Câu 8: ý nghĩa ngữ pháp- phương thức ngữ pháp
Định nghĩa phạm trù ngữ pháp: Phạm trù ngữ pháp là thể thống nhất của những ý
nghiã ngữ pháp, được thể hiện ở những dạng thức đối lập nhau. Chẳng hạn phạm trù số
có 2 mặt đối lập nhau, đó là số ít và số nhiều. Phạm trù thời có các mặt đối lập ở
hiện tại, quá khứ, tương lai.
Ý nghĩa ngữ pháp là ý nghĩa chung cho hàng loạt đơn vị ngôn ngữ và được thể hiện bằng
những phương tiện ngữ pháp nhất định.Ý nghia ngữ pháp mang tính khái quát còn ý
nghĩa từ vựng mang tính cụ thể riêng từng từ.
Ví dụ: Ý nghĩa chỉ "sự vật" của các từ: cái bàn, cái ghế, con gà, đoá hoa, v.v.
Ý nghĩa chỉ "số nhiều" của danh từ tiếng Anh
Các loại ý nghĩa ngữ pháp

Lưu ý: Trường hợp này hoàn toàn khác trường hợp phụ tố cấu tạo từ. Phụ tố cấu tạo từ
là dùng phụ tố để tạo ra từ mới với nghĩa mới.
- Có thể mang nghĩa người làm (sau động từ).
Ví dụ: Teacher , worker , singer , v.v.
- Có thể mang nghĩa trừu tượng (sau danh từ).
Ví dụ: neighborhood , childhood , friendship
- Có thể mang nghĩa:đầy đủ, nhiều (sau danh từ).
Ví dụ: hopeful , beautiful , v.v.
Trường hợp "s" trong cách sở hữu không phải phương thức phụ tố, mà nó được xem là
một hư tư.
Ví dụ: The king`s hat, "s" là một hư từ chứ không phải là phụ tố vì ta có thể chen thêm
một vài từ giữa "king" và "s".
Chẳng hạn: The king of England`s hat.
- It is raining now.
- He is always asking questions.
2. 2. Phương thức biến dạng chính tố (infixation)
Phương thức biến dạng chính tố là phương thức biến đổi một phần hình thức ngữ âm
của chính tố để biểu hiện ý nghĩa ngữ pháp.
Ví dụ: tooth ->teeth
tooth -> danh từ số nhiều
- I ask the dentist to pull out my bad teeth.
- Goose-> geese
- Man> men
- Woman> women
- Mouse > mise
- Ox> oxen
2. 3. Phương thức thay chính tố
Phương thức thay chính tố là phương thức biến đổi hoàn toàn hình thức ngữ âm của
chính tố để biểu hiện ý nghĩa ngữ pháp.
Ví dụ: (To)be "là, nguyên thể"

để thể hiện ý nghĩa ngữ pháp.
Ví dụ: Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều.
V c trạng ngữ
8. Phương thức ngữ điệu
Ngữ điệu được xem là một phương thức ngữ pháp khi người ta sử dụng nó để biểu thị
các ý nghĩa tình thái của câu.
Ví dụ: But I`m a worker, I am not a teacher. Are you drunk?
Câu 9: Các ngôn ngữ đơn lập
Phân loại ngôn ngữ theo loại hình
Cơ sở phân loại
Phân loại các ngôn ngữ theo quan hệ loại hình là cách phân loại ngôn ngữ theo
cấu trúc và chức năng của chúng. Kết quả phân loại cho ta những loại hình ngôn
ngữ. Loại hình ngôn ngữ không phải là một ngôn ngữ cụ thể nào, cũng không
phải là một tổng hoặc một tập các ngôn ngữ. Loại hình ngôn ngữ là tổng thể của
những đặc điểm hoặc thuộc tính về cấu trúc và chức năng vốn có của các ngôn
ngữ thuộc nhóm đó, phân biệt nhóm đó với các nhóm ngôn ngữ khác. Trong mỗi
ngôn ngữ có thể thấy ba nhóm thuộc tính:thuộc tính phổ quát, tức là thuộc tính
chung, vốn có đối với tất cả các ngôn ngữ thế giới,thuộc tính riêng biệt là thuộc
tính chỉ có ở ngôn ngữ đó, thuộc tính loại hình là thuộc tính đặc trưng cho từng
nhóm ngôn ngữ nhất định. Thuộc tính loại hình được dùng làm tiêu chuẩn để
quy định vị trí của một ngôn ngữ nao đó trong khi phân loại.
Phương pháp so sánh loại hình
Nếu phương pháp so sánh–lịch sử hướng vào sự phát triển lịch sử của các ngôn
ngữ thân thuộc thì phương pháp so sánh–loại hình lại hướng vào hiện tại, vào
hoạt động của kết cấu ngôn ngữ. Nhiệm vụ trung tâm của phương pháp so sánh
này là tìm hiểu những cái giống nhau và khác nhau trong kết cấu của hai hoặc
nhiều ngôn ngữ. Khi so sánh, người ta có thể xuất phát từ các mặt khác nhau
của ngôn ngữ như ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp. Nhưng sự so sánh các cấu trúc
ngữ pháp có ý nghĩa to lớn nhất, bởi vì cấu trúc ngữ pháp và vốn từ cơ bản là cơ
sở của các ngôn ngữ, tạo nên tính tiêng biệt của chúng. Ngữ pháp lại bao gồm

- Những từ có ý nghĩa đối tượng, tính chất, hành động không phân biệt với nhau
về mặt cấu trúc. Tất cả đều được diễn đạt bằng các từ không biến đổi. Ví
dụ: cưa "dụng cụ để xẻ gỗ" và cưa "hành động xẻ gỗ". Chính vì vậy, một số nhà
ngôn ngữ học cho rằng trong các ngôn ngữ đơn lập không có cái gọi là "các từ
loại".
Bài tập
Có 3 dạng bài tập là:
1: Xác định các nhân tố giao tiếp
Các nhân tố giao tiếp: Nhân vật giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp( hẹp và rộng), muc
đích giao tiếp(chính, phụ ), nội dung giao tiếp, phương tiện giao tiếp.
2.Xác định phương thức cấu tạo từ phân loại theo cấu tạo: Phương thức từ hóa hình
vị, phương thức ghép, phương thức láy.
3. Xác định từ loại: Từ đơn, từ phái sinh, từ phức ( từ láy, từ ghép).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status