KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG VÀ NHỮNG BÀI HỌC RÚT RA
Trong lịch sử phát triển tài chính, thâm hụt ngân sách nhà nước đã trở thành
một hiện tượng khá phổ biến trong các nước phát triển và các nước kinh tế chậm
phát triển. Kể từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008-2009, nợ công ở các nền
kinh tế phát triển đã tăng lên đáng kể. Nổi bật nhất trong khoảng thời gian vừa qua
là cuộc khủng hoảng nợ công ở khu vực Châu Âu. Nguy cơ Hy Lạp vỡ nợ là rất
cao. Cuộc khủng hoảng này không chỉ có những ảnh hưởng to lớn đến khu vực
Châu Âu mà còn ảnh hưởng đến nền kinh tế thế giới và đe dọa đến tiến trình phục
hồi kinh tế toàn cầu. Sau khi gia nhập WTO, kinh tế Việt Nam đã hội nhập khá sâu
vào kinh tế thế giới, thể hiện qua tỷ lệ xuất nhập khẩu và dòng vốn đầu tư nước
ngoài vào Việt Nam chiếm tỷ lệ khá cao. Nếu cuộc khủng hoảng nợ của Hy Lạp xảy
ra thì kinh tế của Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng nặng nề. Khủng hoảng nợ công
châu Âu cũng là một bài học cho Việt Nam khi nhìn lại vấn đề nợ công và mô hình
tăng trưởng của nền kinh tế.
Về bản chất, nợ công là hậu quả của vấn đề chi tiêu công bất hợp lý. Chi tiêu
công chính là các khoản chi của nhà nước (trung ương và chính quyền địa phương)
thực hiện thông qua ngân sách Nhà nước. Chi tiêu công bao gồm các khoản chi để
duy trì bộ máy nhà nước, chi đầu tư phát triển, chi các mục tiêu văn hóa-xã hội, chi
quốc phòng, chi trả nợ nước ngoài và dự phòng. Mỗi quốc gia đều phải cân đối mức
thu chi. Khi thu không đủ chi, nhà nước phải đi vay dẫn đến hình thành nợ công.
Nợ công (nợ chính phủ hoặc nợ quốc gia) là tổng giá trị các khoản tiền mà chính
phủ thuộc mọi cấp từ trung ương đến địa phương đi vay nhằm tài trợ cho các khoản
thâm hụt ngân sách.
Khủng hoảng nợ công tại Châu Âu được hình thành từ nhiều yếu tố, bao
gồm việc toàn cầu hóa hệ thống tài chính, tình trạng cho vay tín dụng tràn lan, bong
bóng đầu tư bất động sản và các chính sách giải cứu các ngân hàng làm ăn thua lỗ
và bắt đầu nhen nhóm từ cuối năm 2009 khi nhiều nước thành viên liên minh EU
bắt đầu bị hạ bậc xếp hạng tín dụng. Tháng 11/2009, Thủ tướng Hy Lạp cho biết
thâm hụt ngân sách năm 2009 sẽ ở mức 12,7% GDP, cao gấp đôi con số công bố
trước đó và sẽ cố gắng cứu Hy Lạp khỏi khả năng vỡ nợ. Nhưng ngược lại với
những cố gắng đó, đầu năm 2010, ba nước Châu Âu gồm Hi Lạp, Ireland và Bồ
Hi Lạp xuống 3C, mức thấp nhất thế giới. Hiện tỷ lệ nợ công tại quốc gia địa trung
hải này đang ở mức 143% GDP. Trước diễn biến phức tạp của cơn khủng hoảng nợ
công buộc lãnh đạo các nước thuộc Liên Minh EU phải can thiệp bằng những biện
pháp mạnh.
Vào tháng 10 năm 2011, Liên Minh EU thống nhất đưa ra gói giải cứu mới
nhằm ngăn chặn nguy cơ sụp đổ của khối sử dụng đồng tiền chung Châu Âu. Gói
giải cứu này bao gồm việc các ngân hàng chấp thuận xóa 50% trong khoản nợ 350
tỷ euro của Hy Lạp, bơm thêm tiền để nâng giá trị quỹ bình ổn tài chính Châu Âu
lên 1.000 tỷ Euro và yêu cầu các ngân hàng Châu Âu phải đạt tỷ lệ tư nhân hóa lên
9%. Ngoài ra, để củng cố niềm tin của các nhà đầu tư, lãnh đạo các nước Châu Âu
trừ Anh cũng đã nhất trí thông qua đề xuất thay đổi hiệp ước châu Âu nhằm siết
chặt giám sát đối với những nước thành viên chi tiêu quá trớn. Đề xuất bao gồm cơ
chế trừng phạt tự động đối với những thành viên Liên minh EU có mức thâm hụt
ngân sách vượt hơn GDP 3% và hình phạt chỉ được bãi bỏ khi được đa số nước
thành viên EU chấp nhận.
Trong năm 2012, sau khi Hy Lạp hoàn tất thỏa thuận hoán đổi nợ lịch sử với
các chủ nợ tư nhân vào ngày 12/3, các bộ trưởng tài chính khu vực đồng euro
(Eurozone) đã thông qua lần cuối đối với gói cứu trợ thứ hai trị giá 130 tỷ euro (170
tỷ USD) cho nước này và hai ngày sau đã quyết định giải ngân các khoản cho vay
đầu tiên 39,4 tỷ euro. Ngày 15/3, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cũng thông qua khoản
vay 28 tỷ euro cho Hy Lạp như một phần của gói cứu trợ và sẽ giải ngân ngay lập
tức 1,65 tỷ euro. Sự phê chuẩn này của IMF đã kết thúc nhiều tháng lo âu của Hy
Lạp, khi đất nước cận kề nguy cơ phá sản, với nghĩa vụ thanh toán 14,5 tỷ euro vào
ngày 20/3. Trong khi các khoản cứu trợ bắt đầu được rót cho Hy Lạp, các cơ quan
xếp hạng tín nhiệm cũng đã xem xét lại mức tín nhiệm nợ của nước này. Standard &
Poor's ngày 15/3 đã đánh giá độ tín nhiệm của số trái phiếu mới của Hy Lạp được
phát hành sau thỏa thuận hoán đổi nợ ở mức CCC. Trước đó, Fitch Ratings vào
ngày 13/3 cũng đã nâng mức tín nhiệm của Hy Lạp từ "vỡ nợ hạn chế" lên B-, với
triển vọng ổn định. Ngày 17/5/2012, hãng xếp hạng tín nhiệm Fitch Ratings đã hạ
một bậc tín nhiệm của Hy Lạp từ B- xuống CCC, là mức “dễ vỡ nợ”, do rủi ro ngày
Italy -5.3 116,7 49.0 5.7 -2.5
Tây Ban Nha -10.1 66.3 37.0 5.8 -6.0
Anh -12.9 80.3 22.1 3.3 -2.0
Mỹ -12.5 93.6 26.4 8.3 -2.6
Theo qui định của Khối sử dụng đồng tiền chung Châu Âu, tỷ lệ nợ công tối đa đối
với một quốc gia thành viên là 60% GDP, thâm hụt ngân sách hàng năm không được
vượt quá 3% GDP. Tuy nhiên, trên thực tế, hầu hết các quốc gia thuộc khu vực đồng
tiền Euro không đáp ứng đầy đủ những tiêu chí đề ra. Năm 2009, Hy Lạp có số nợ lên
tới 115,1% GDP và thâm hụt ngân sách ở mức 13,6% GDP. Tình trạng thu không đủ
chi cũng diễn biến tại Tây Ban Nha với mức thâm hụt tương đương 11,2% GDP.
Trong khi đó, nếu so sánh riêng về tỷ lệ nợ quốc gia với tổng thu nhập, Italia thậm chí
bi quan hơn cả Hy Lạp.
Vậy nguyên nhân của cuộc khủng hoảng nợ công Châu Âu bắt nguồn từ
đâu? Trước hết, nợ công là hậu quả của chính sách tiền tệ siêu quốc gia thống nhất
của EU, được xây dựng dựa trên cơ sở phối hợp các chính sách kinh tế của các
nước nhưng không tính đến sự khác biệt về trình độ phát triển của mỗi nước thành
viên. Điều đó khiến cho việc nâng cao năng lực cạnh tranh ở những nước có vấn đề
về tài chính tại Nam Âu như Hy Lạp, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha trở nên khó
khăn. Một tác nhân khác là sự tích lũy những khoản nợ lớn do thói quen xài sang
của người dân nhiều nước châu Âu. Các hộ gia đình thích vay tín dụng thế chấp để
tiêu dùng, trong khi các ngân hàng lại vung tay cho vay và mua cổ phiếu bằng
nguồn tiền từ bên ngoài và các nhà nước thì lỏng lẻo trong khâu quản lý ngân sách.
Trên bình diện quốc gia, cuộc khủng hoảng nợ công bùng phát với nhiều nguyên
nhân khác nhau. Tại Hy Lạp, đó là hậu quả của nhiều năm quản trị tài chính công
yếu kém và chi tiêu bừa bãi, trong khi tại Ireland, nguyên nhân chính là do sự mất
kiểm soát hoạt động cho vay của một số ngân hàng. Trên bình diện khu vực, cuộc
khủng hoảng có nguồn gốc sâu xa là chế độ phúc lợi được xây dựng từ sau Chiến
tranh thế giới lần thứ II theo hướng "chi nhiều hơn thu." Thói quen kéo dài nhiều
thập kỷ qua khiến các chính phủ châu Âu dễ dàng vay mượn để đối phó với cuộc
khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, song sự vhi tiêu quá mức không tương
xuất hàng tiêu dùng của Mỹ. Việc tiếp tục gia tăng bất ổn ở thị trường tài chính và
các điều kiện tín dụng thắt chặt ở châu Âu có thể làm giảm ý chí của các công ty cho
vay, cho thuê của Mỹ, vì vậy tác động đến khôi phục kinh tế của Mỹ. Cuộc khủng
hoảng nợ châu Âu đã kéo theo một loạt hệ quả tất yếu: Tốc độ phục hồi kinh tế thế
giới chậm lại, có thể theo hình chữ W thay vì chữ V; tình hình thất nghiệp và lạm
phát tăng cao, đồng euro mất giá; tăng trưởng GDP giảm sút, làm cho thu nhập thực
tế người dân và cầu tiêu dùng với hàng nhập khẩu giảm mạnh. Thứ năm, khủng
hoảng nợ công châu Âu có thể tạo ra hai tác động trái chiều hoàn toàn với luồng vốn