TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA TÍN DỤNG
BÀI TIỂU LUẬN
TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI:
KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA
NÓ TỚI TÀI CHÍNH TIỀN TỆ 2009 - 2011
Giáo viên hướng dẫn: Hồ Thúy Ái
Lớp: EC012_1_111_T07
Nhóm thực hiện: Nhóm 7
Họ và tên MSSV
1. Phạm Văn Tiến
0301 2509 0881
2. Nguyễn Đức Huy
0301 2509 0250
3. Đỗ Thùy Linh
0301 2509 0410
4. Phạm Thị Hồng Thắm
0301 2509 0843
5. Trần Thục Ngân
0301 2509 0543
1
DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM
Họ và tên MSSV Nhiệm vụ
Phạm Văn Tiến 0301 2509 0881
Tình hình nợ công của thế
giới, giải pháp cho nợ công
của việt nam, tổng kết bài
Word, làm slide, thuyết trình
Nguyễn Đức Huy 0301 2509 0250
Nợ công và khủng hoảng nợ
2
TP.HCM, ngày …… tháng …… năm 2010
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU...........................................................................................................5
LỜI MỞ ĐẦU
Khủng hoảng tài chính đang diễn ra ngày càng liên tục với cường độ mạnh và
diễn biến phức tạp gây ra những hậu quả rất nặng nề đối với cả quốc gia công nghiệp
phát triển lẫn các nước đang phát triển. Bên cạnh khủng hoảng tài chính, ngày nay
người ta còn đề cập nhiều và nghiên cứu một cách nghiêm túc hơn một loại khủng
hoảng mới “Khủng hoảng nợ công”. Tình trạng nợ công gia tăng liên tục ở cả các
nước phát triển vượt quá sự tăng trưởng của nền kinh tế (GDP) gây ra tình trạng mất
kiểm soát trong khả năng chi trả của quốc gia. Điển hình là cuộc khủng hoảng nợ
công ở Iceland, Argentina, và gần đây nhất là một số nước trong khu vực EU như Hy
Phân theo loại lãi suất bao gồm: lãi suất cố định; lãi suất thả nổi.
Phân theo chủ nợ và nhóm chủ nợ: chủ nợ chính thức; chủ nợ tư nhân.
Phân theo công cụ nợ bao gồm: thỏa thuận vay; tín phiếu; trái phiếu; công
trái và các công cụ nợ khác.
1.1.3. Chỉ tiêu xác định tình trạng nợ công và ngưỡng an toàn nợ công:
Các chỉ tiêu giám sát về nợ công, nợ nước ngoài của quốc gia bao
gồm:Nợ công so với GDP(chủ yếu);Nợ nước ngoài của quốc gia so với
GDP;Nghĩa vụ trả nợ nước ngoài của quốc gia so với tổng kim ngạch xuất nhập
khẩu..
Ngưỡng an toàn của nợ công:
4
• Theo công trình nghiên cứu năm 2010 của Cơ quan nghiên cứu kinh tế quốc gia Mỹ
(NBER): khi tỷ lệ nợ/GDP vượt ngưỡng 90% thì nó tác động xấu đến tăng trưởng
kinh tế và làm giảm đi 4% trong tăng trưởng kinh tế của quốc gia đó.
• Theo qui định của Khối sử dụng đồng tiền chung Châu Âu, tỷ lệ nợ công tối đa đối
với một quốc gia thành viên là 60% GDP, thâm hụt ngân sách hàng năm không được
vượt quá 3% GDP
• Tuy nhiên để xét một cách toàn diện thì cần đặt trong mối liên hệ với hệ thống các chỉ
tiêu kinh tế vĩ mô của nền kinh tế quốc dân, nhất là: tốc độ và chất lượng tăng trưởng
kinh tế, hiệu quả sử dụng vốn... cũng như những tiêu chí như: cơ cấu nợ công, tỷ
trọng các loại nợ, cơ cấu lãi suất, thời gian trả nợ… cũng cần được phân tích kỹ
lưỡng khi đánh giá tính bền vững nợ công.
1.2. Khủng hoảng nợ công:
1.2.1. Thế nào là khủng hoảng nợ công?
Khủng hoảng nợ công là tình trạng nợ công tăng cao (vỡ nợ), làm chao đảo
nền kinh tế do sự mất cân đối giữa thu và chi ngân sách quốc gia. Nhu cầu chi nhiều
quá, trong khi thu không đáp ứng nổi, chính phủ đi vay tiền thông qua nhiều hình
thức như phát hành công trái, trái phiếu, hiệp định tín dụng,… để chi, từ đó dẫn đến
tình trạng nợ. Thâm hụt ngân sách kéo dài làm cho nợ công gia tăng. Nợ không trả
sớm, để lâu thành "lãi mẹ đẻ lãi con" và ngày càng chồng chất thêm.
phiếu chính phủ thì giá trái phiếu chính phủ giảm, lãi suất trái phiếu tăng vì chính
phủ phải nâng lãi suất trái phiếu thì mới huy động được người mua.
Khi cán cân ngân sách thâm hụt, ngân hàng trung ương sẽ tài trợ thâm hụt bằng
cách phát hành thêm tiền làm tăng khối cung tiền gây ra áp lực lạm phát.
Bên cạnh đó, việc cắt giảm chi tiêu, tăng thuế sẽ làm giảm đầu tư trực tiếp, kìm
hãm kinh tế, làm chậm tốc độ tăng trưởng (thể hiện ở tốc độ tăng trưởng GDP
giảm sút chỉ số nợ/GDP tăng). Việc giảm chi tiêu, giảm đầu tư sẽ dẫn đến tình
trạng việc làm giảm, thất nghiệp gia tăng.
Mặt khác, cán cân ngân sách thâm hụt đã gây ra sự mất lòng tin của người dân và
của nhà đầu tư mới đối với các nền kinh tế quốc gia khiến đồng tiền quốc gia sụt
giá. Điều đó có thể dẫn tới một đợt tháo chạy với quy mô lớn trên thị trường trái
phiếu và cổ phiếu làm giá chứng khoán bị sụt giảm.
6
1.4. Vỡ nợ dưới con mắt của kinh tế học: tại sao Hy Lạp và Ireland không
tuyên bố vỡ nợ?
Khi khủng hoảng nợ xảy ra với qui mô lớn thì mục đích của ngân hàng chủ nợ và
các nước phát triển là tránh không để bất cứ một quốc gia nào tuyên bố vỡ nợ, đồng
thời thường thì các nước con nợ không bao giờ muốn tuyên bố vỡ nợ vì chi phí thanh
toán nợ thường thấp hơn các phí tổn phải chịu khi tuyên bố vỡ nợ.
Những phí tổn liên quan tới lợi ích quốc gia:
Thứ nhất: mất khả năng vay nợ trong tương lai: khi 1 quốc gia tuyên bố võ nợ thì
đồng nghĩa với việc từ bỏ khả năng vay nợ nước ngoài trong tương lai: từ các nước ,
IMF ,World Bank,..=>tốc độ tăng truỏng kinh tế bị kìm hãm.
Thứ hai:giảm lợi ích từ thương mại quốc tế: các nước chủ nợ sẽ áp dụng những biện
pháp bảo hộ thương mại để trừng phạt, xuất khẩu bị tịch thu khi chạm đến biên giới
quốc tế, khó khăn trong nhập khẩu.=>khối lượng ngoại thương giảm.
Thứ ba:tịch thu những tài sản hải ngoại: các chủ nợ sẽ thuyết phục chính phủ phong
tỏa hay tịch thu những tài sản của nước con nợ còn nằm trên lãnh thổ của nước chủ
nợ.
Giả sử ta goi những lợi ích ròng từ việc vỡ nợ là NRT còn những phí tổn liên
công lên thêm 2.400 tỷ USD so với mức cũ là 14.300 tỷ USD.Chính vì những khoản
nợ khổng lồ đó mà Standard & Poor’s (S&P) (tổ chức xếp hạng tín dụng thế giới) đã
hạ bậc tín dụng của Mỹ từ AAA xuống AA+.
Còn nếu tính theo Tỉ lệ Public debt/ GDP thì chúng ta sẽ giật mình khi nhìn
vào con số của nhật bản là 220,3% và mức thâm hụt ngân sách 7.04% (năm 2010).
Trận động đất và sóng thần hồi đầu tháng 3-2011 sẽ góp phần làm tình trạng nợ công
của nhật bản thêm trầm trong hơn nữa, theo một thống kê mới nhất của IMF thì hiện
tại nợ công của Nhật Bản đã lên tới khoảng 229% GDP.
Nhưng vấn đề nợ công lớn nhất trong đợt khủng hoảng này lại nằm ở “lục địa
già” nơi tập trung những nền kinh tế lâu đời, phát triển ổn định nhất trên thê giới.
Xem xét mạng lưới nợ công chính phủ thì 5 nước Hy Lạp – Ireland - Tây Ban Nha
– Bồ Đào Nha – Italia đang ở trên bờ vực của sự phá sản. tình hình tồi tệ nhất cho
tới hiện nay nằm ở hai nước đó là Hy lạp và Ireland chúng ta sẽ xem xét ở phần sau.
Theo tờ The New York Times đánh giá: "nguy cơ thực sự nằm ở Tây Ban Nha và
Italia".
Ngày 03/8, các thị trường tài chính Italia và Tây Ban Nha đã đứng trước một
"cơn sốt mới" khi lãi suất vay mượn của chính phủ tăng cao tới mức kỷ lục kể từ khi
lưu hành đồng euro:
- Tại Tây Ban Nha, lãi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm tăng lên tới
6,45%, mức cao nhất kể từ khi đồng euro được lưu hành đầu năm 1999
- Cùng ngày, tại Italia, lãi suất trái phiếu kỳ hạn 10 năm cũng lên tới 6,18% , cao
hơn mức được ghi nhận vào ngày 21/7, khi Liên minh châu Âu (EU) thông báo
về kế hoạch ngăn chặn khủng hoảng nợ, trong đó có gói cứu trợ tài chính thứ
hai cho Hy Lạp.
Cuộc khủng khoảng nợ công còn xảy ra ở những nước có nền kinh tế đang phát
triển cực thịnh mà chúng ta không ngờ tới. con số báo cáo tỷ lệ Public debt/ GDP năm
2010 của Ấn Độ chỉ là 69,2% nhưng theo các chuyên gia thì thực tế con số này có thể
lên tới hơn 80%. Sự minh bạch về các con số nhạy cảm như vậy còn đáng lo Ngại
8
hơn ở Trung Quốc, nước đang là chủ nợ lớn nhất của Mỹ và nhiều nước có nền Kinh
đánh giá nghiêm trọng bằng Hy Lạp (Hình 2.3). Sở dĩ như vậy vì các nước này có
nền kinh tế tương đối lớn, ngân sách lớn, khả năng kiểm soát nợ trong nước cao hơn,
9
các chỉ số về cơ cấu nợ cũng như các biến số về phát triển kinh tế vĩ Mô tốt hơn hy
lạp.
Tính theo thời gian Với mức vay nợ như trên, Hy Lạp phải đối mặt với khoản
nợ đến hạn phải thanh toán 8,5 tỉ euro (tương đương 11,3 tỉ đô la Mỹ) trái phiếu chính
phủ vào ngày 19-5-2010. Chưa đến một năm, một đợt trả nợ kế tiếp diễn ra vào tháng
3/2011, với số tiền 8.6 tỷ Euro.
Hầu hết các khoản nợ của Hy Lạp là ngắn hạn, trong đó, số nợ phải trả trong
năm 2010 là 16% tổng nợ (Hình 2.4).
2.2.1.3. Thâm hụt cán cân vãng lai trong một thời gian dài.
Hy lạp thâm hụt cán cân vãng lai trong một thời gian dài, ngay từ khi đã gia
nhập vào khu vực đồng tiền chung Euro, nhưng tình trạng thâm hụt vẫn không được
cái thiện mà có xu hướng ngày càng tăng, đến tháng tám năm 2011,Hy Lạp báo cáo
thâm hụt tài khoản vãng lai tương đương với 145 triệu EUR. (Hình 2.5)
Sự thâm hụt cán cân vãng lai của Hy Lạp bắt nguồn từ sự thâm hụt thương mại
của nước này, cũng như tình trạng cán cân vãng lai, cán cân thương mại của Hy Lạp
luôn trong tình trạng thâm hụt, đến tháng tám năm nay, Hy Lạp báo cáo thâm hụt
thương mại tương đương với 2.169 triệu EUR. (Hình 2.6)
2.2.1.4. Tình trạng thâm hụt ngân sách:
Trong những năm qua, tình trạng thâm hụt ngân sách của Hy Lạp ngày càng
gia tăng, đặc biệt là trong giai đoạn từ 2008-2009. Năm 2009, mức thâm hụt ngân
sách là 15.4% GDP vượt ngưỡng an toàn là 5% GDP và vượt mức cho phép của khu
vực đồng tiền chung là 3%/GDP. Để bù đắp thâm hụt ngân sách, Chính phủ Hy Lạp
đã vay nợ dưới nhiều hình thức.
Với tình trạng thâm hụt ngân sách như vậy, đến năm 2010, sau khi thực hiện
các biện pháp “thắt lưng buộc bụng”, thì tình trạng thâm hụt của Hy Lạp đã giảm
xuống ở mức 10,5%GDP, tuy nhiên đây cũng còn là một con số khá cao so với chỉ
tiêu mà khu vực đồng tiên chung này đề ra. (Hình 2.7)
“ngồi chơi xơi nước” chiếm tới 1/3. Tính đến năm 2009, lượng công chức ở Hy Lạp
chiếm tới 1/4 số người làm công ăn lương ở nước này.. Lương đã cao, thưởng vào
cuối năm cũng cao, công chức còn được lĩnh tới 16 tháng lương. Nhiều công chức Hy
Lạp được nghỉ hưu trước năm 60 tuổi với mức lương hưu bằng 3/4 mức lương khi
còn đi làm.
Vay tiền để... nâng lương nhân viên chính phủ và tổ chức Thế vận hội.
Thế vận hội Athens 2004 là một cơ hội không thể nào tốt hơn để Hy Lạp gia
tăng các dự án đồ sộ của mình và tiếp tục đi vay nợ thoải mái vì mục tiêu Thế vận
hội.
Việc không tuân thủ chặt chẽ các quy định trong liên minh tiền tệ.
Thật vậy, theo Hiệp ước Maastricht, để tham gia vào khu vực đồng tiền chung,
các quốc gia thành viên phải đáp ứng nhiều chuẩn mực, trong đó có quy định mức bội
11
chi của ngân sách phải nhỏ hơn hoặc bằng 3% GDP, có xem xét trường hợp mức thâm
hụt đang trong xu hướng được cải thiện hoặc mức thâm hụt lớn hơn 3% nhưng mang
tính tạm thời, không đáng kể, không là mức bội chi cơ cấu; nợ chính phủ nhỏ hơn
hoặc bằng 60% GDP, có xem xét các trường hợp đang điều chỉnh.
Theo quy định này, Hy Lạp chưa đủ điều kiện tham gia khu vực đồng tiền
chung châu Âu vào tháng 5-1998. Nhưng hai năm sau, ngày 1-1-2001, mặc dù vẫn
chưa đủ chuẩn, Hy Lạp cũng được chấp thuận gia nhập vào khu vực đồng tiền chung
với điều kiện phải nỗ lực cải thiện mức thâm hụt ngân sách và nợ chính phủ. Tuy
nhiên, đến nay, các ràng buộc trên vẫn chỉ là lời hứa của Hy Lạp. Bội chi ngân sách
và nợ nước ngoài không những không được cải thiện mà có xu hướng ngày càng tăng.
Tác động tiêu cực của tiến trình hội nhập kinh tế khu vực
Quá trình hình thành đồng tiền chung được chia thành ba giai đoạn nhằm giúp
các quốc gia điều chỉnh nền kinh tế theo hướng hội nhập toàn diện và sâu rộng - hàng
hóa, vốn và sức lao động được tự do hóa hoàn toàn. Tuy nhiên, hội nhập cũng có mặt
trái của nó. Đối với các quốc gia nhỏ, năng lực cạnh tranh yếu thì đây thực sự là thách
thức.
Với một quốc gia có nguồn tài nguyên hạn hẹp, lợi thế thương mại thấp, năng
Ngân hàng thương mại quốc tế mất niềm tin, từ đó rút vốn làm cho nguy cơ vỡ nợ
của Hy lạp thêm trầm trọng.
2.2.3. Tác động của nợ công đến tình hình tài chính tiền tệ:
2.2.3.1. Xếp hạng tín dụng:
Ngày 15/6/2010, Tổ chức xếp hạng tín dụng Moody’s đã hạ 4 bậc xếp hạng tín
dụng của Hy Lạp xuống mức không đầu tư và cảnh báo, việc Hy Lạp giảm thâm hụt
ngân sách sẽ tạo ra nhiều hậu quả xấu về kinh tế.
Theo hãng tin Bloomberg, xếp hạng tín dụng của Hy Lạp bị hạ xuống mức Ba1
từ mức A3. Trong tuyên bố xếp hạng tín dụng, Moody’s đã nhiều lần nhắc đến những
rủi ro đối với tăng trưởng kinh tế bởi những biện pháp thắt chặt ngân sách liên quan
đến gói giải cứu 110 tỷ EUR (136 tỷ USD).
Dù được EU và IFM hứa hẹn “bơm” tiền nhưng hình ảnh của Hy Lạp vẫn
chưa được cải thiện trong mắt các tổ chức xếp hạng độc lập, vào 14/7/2011, hãng xếp
hạng Fitch đã hạ 3 bậc đối với mức tín dụng của Hy Lạp từ B+ xuống CCC, thấp nhất
trong thang xếp hạng của Fitch. Lý giải cho việc này, Fitch cho rằng các chương trình
tài trợ mà các tổ chức tài chính quốc tế dành cho Hy Lạp chỉ đơn thuần là tài chính
chứ không đưa ra những giải pháp đầy đủ và đáng rin cậy.
Cũng theo Fitch , vai trò của khu vực tư nhân trong các chương trình cải cách
tại Hy Lạp cũng chưa thực sự rõ ràng, trong khi triển vọng kinh tế vĩ mô không lấy
làm chắc chắn. Chính vì vậy, mức xếp hạng CCC (cận kề phá sản) mới được đưa ra.
Vào ngày 28/07/2011 Standard $ Poor’s (S&P) nhận định rằng hy lập sẽ phá
sản một phần sau khi các quan chức châu âu thúc đẩy kế hoạch tái cơ cấu nợ trong gói
cứu trợ 2. Chính vì vậy S&P đã hạ tiếp hạng tín dụng của Hy Lạp từ CCC xuống CC
chỉ trên mức vỡ nợ 2 bậc với đánh giá triển vọng tiêu cực.
13
S&P cho biết, việc cơ cấu lại nợ của Chính phủ Hy Lạp có thế nói là một trao
đổi gây ra hậu quả tiêu cực vì nó có nguy cơ gây thiệt hại cho chủ nợ.
2.2.3.2. Giá trái phiếu giảm và lãi suất tăng:
Từ năm 1998 đến năm 2011 Trái phiếu Chính phủ Hy Lạp có lãi trung bình
5,21%, đạt mức cao lịch sử 11,39 % trong tháng 12 năm 2010 và một mức thấp kỷ lục
tăng từ 61 lên 65.
14
• Tư hữu hóa chính phủ: chính phủ Hy Lạp sẽ tiến hành tư nhân hóa các doanh
nghiệp quốc doanh trong đó có OPAP, Hellenic Postbank, Hellenic Telecom.
Bên cạnh đó cũng sẽ bán cổ phần tại Athens Water, công ty dầu khí Hellenic
Petroleum, công ty điện PPC và lender ATEbank và một số hải cảng, sân bay,
đường cao tốc, quyền sở hữu đất và khai khoáng.
• Sa thải công chức: trong năm 2011, cư 10 công chức sẽ có một người bị sa
thải. Còn trong những năm tới, tỷ lên sa thải sẽ là cứ 5 người thì sẽ sa thải 1
người.
• Giảm chi tiêu y tế: trong năm 2011, chi tiêu cho y tế sẽ bị cắt giảm 310 triệu
Euro và từ 2012 đến 2015 sẽ giảm 1,81 triệu euro.
2.2.3.4. Đầu tư trực tiếp FDI:
Chính phủ Hy Lạp đang thực hiện các biện pháp thắt lưng buộc bụng nhằm đảm
bảo cam kết giảm thâm hụt ngân sách của Chính phủ Hy Lạp để nhận được sự trợ
giúp từ EU và IMF. Vì thực hiện chính sách giảm chi tiêu, tăng thuế nên dẫn đến tình
hình đầu tư FDI vào Hy Lạp giảm mạnh.
Như mô tả trong đồ thị I, trong thời gian 2006-2008 FDI vào Hy Lạp đã liên tục
duy trì mức độ cao hơn so với giai đoạn năm 2003 - 2005, mặc dù biến động. (Hình
2.9) Có nhiều yếu tố, chẳng hạn như cải thiện cơ sở hạ tầng, đã đóng một vai trò quan
trọng trong sự gia tăng đáng kể khối lượng FDI.
Trong năm 2009 tổng luồng vốn vào Hy Lạp đạt 4,5 tỷ Euro, và luồng vốn ròng
vượt quá 2,4 tỷ Euro. So với năm 2008, dòng chảy FDI vào Hy Lạp sụt giảm 21% do
hậu quả của cuộc khủng hoảng nợ công.
2.2.3.5. Tốc độ tăng trưởng GDP giảm:
Hy Lạp đã quản lý để đạt được một nền kinh tế phát triển nhanh chóng sau khi
thực hiện chính sách ổn định kinh tế trong những năm gần đây, ít nhất, trước cuộc
khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009. Từ năm 1998 đến năm 2008, GDP tăng
dần qua các năm và đạt mức cao nhất vào tháng 12 năm 2008 với 355.88 tỉ $.
Cuối năm 2009, khi khủng hoảng nợ công xảy ra làm cho các nhà đầu tư lo ngại
GDP. Ireland là nước có thâm hụt ngân sách cao nhấy khu vực Eurozone.
Suốt 3 năm qua, giá nhà giảm 50-60% khiến cho tỷ lệ nợ xấu (đặc biệt là nợ của
các công ty phát triển bất động sản) tăng đến mức báo động. Hệ thống ngân hàng,
theo đó bị đặt trước nguy cơ đổ vỡ khiến Chính phủ phải ra tay can thiệp, cho dù cái
giá phải trả là nợ công tăng cao.Năm 2009, chính phủ quốc hữu hóa Anglo Irish Bank.
Trong đề xuất về gói hỗ trợ từ EU và IMF, Chính phủ Ireland còn tiếp tục dùng một
phần trong khoản tiền đó để quốc hữu hóa hai ngân hàng lớn của nước này là Bank of
Ireland và Allied Irish Bank, tiếp tục bơm tiền để tái cấp vốn cho nhiều ngân hàng để
tăng tỷ lệ an toàn vốn của các tổ chức này.
2.3.1.3. Thâm hụt cán cân vãng lai
Ireland báo cáo thặng dư thương mại tương đương với 4.113 triệu EUR vào
tháng Chín năm 2011. Xuất khẩu vẫn là động cơ chính cho sự tăng trưởng của
Ireland. Ireland đã đạt được thặng dư thương mại tương đối cao nhất so với GDP của
EU. Trong thời kì khủng hoảng nợ công hoành hành, tình hình xuất khẩu của Ireland
giảm mạnh, tuy nhiên cán cân thương mại vẫn ở trạng thái thặng dư. Trong năm 2010
16
và 2011 tình hình đã có phần cải thiện do những nỗ lực từ phía chính phủ nước này.
(hình 2.14)
Tuy vậy, cán cân vãng lai của Ireland vẫn thâm hụt dài hạn. Cán cân vãng lai
thâm hụt nặng nhất vào quý I/2008, ở mức 4000 triệu EUR. Đến quý I/2011 mức
thâm hụt đã giảm xuống tương đương với 1031 triệu EUR. Những chuyển biến xấu
trong cán cân dịch vụ, cán cân thu nhập và chuyển giao vãng lai một chiều đã gây nên
tình trạng thâm hụt cán cân vãng lai bất chấp cán cân thương mại thặng dư. (hình
2.15)
2.3.1.4. Cơ cấu nợ nước ngoài và nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng nợ công.
(hình 2.16) Từ năm 2003 đến nay, nợ nước ngoài của Ireland tăng nhanh liên
tục. Trong năm 2009, 2010 tỉ trọng nợ của các tổ chức tài chính tiền tệ có phần giảm
xuống và bù lại tỉ trọng nợ đầu tư trực tiếp từ nước ngoài và nợ trong các lĩnh vực
khác tăng lên. Trong cơ cấu nợ của Ireland, nợ của các tổ chức tài chính tiền tệ luôn
chiếm tỉ trọng lớn nhất, những khoản nợ này cũng tăng rất nhanh trong giai đoạn