KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA NÓ TỚI TÀI CHÍNH TIỀN TỆ 2009 - 2011 (2). - Pdf 24

TP.HCM, ngày …… tháng …… năm 2010
Khi Hy lạp Vỡ Nợ
Hiệu ứng domino khủng hoảng và sụp đổ của các NH: Các NH KH đầu tiên chính là NH Hy Lạp, họ sẽ bị chính phủ quốc hữu hóa. Ngoài ra nó còn kéo theo hàng loạt các NH ở Châu Âu, MỸ và nhiều nước Khác rơi vào khủng hoảng.

Hiệu ứng domino vỡ nợ của các quốc gia và tăng trưởng Kinh tế: khiến nhà đầu tư mất lòng tin vào đồng tiền chung Euro. Một đợt tháo chạy với quy mô lớn trên thị trường trái phiếu và cổ phiếu các ngân hàng khu vực châu Âu là hoàn toàn có thể và gây hiệu ứng sụp đổ hàng loạt ở các Ngân Hàng và nền kinh tế yếu kém khác như như Bồ Đào Nha, Ý và Tây Ban Nha ..
Khi Hy lạp vỡ nỡ chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến nền kinh tế toàn cầu, tăng trưởng chắc chắn sẽ càng chậm lại. Điều này càng làm cho thu nhập (từ thuế)các nước vốn đã rơi vào tình trạng nợ nần ngày càng giảm, trong khi các chi phí khác lại tăng lên: đặc biệt là chi phí lãi vãy huy động vốn trên thị trường tài chính quốc tế, chí phí của các hợp đồng bảo hiểm tăng, chỉ sổ tín dụng giảm. điều này chắc chắn càng làm cho giá của trái phiếu và lãi suất càng tăng cao… tất cả những điều đó càng làm cho tình trạng nợ công của các nước khác như Ytalia, Ireland, Tây ban Nha, Bồ Đào Nha tồi tệ hơn.cuối cùng là tuyên bố phá sả
Khối Eurozone sụp đổ: Các nước vỡ nợ lần lượt rời khỏi Eurozone để tự cứu chính mình mà không phụ thuộc vào những nước khác.
Khủng hoảng kinh tế toàn cầu: Hệ thống các NH sụp đổ, Nhiều nước tuyên bố vỡ nỡ, khối eurozone tan vỡ quá đủ cho một cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới trong tất cả các linh vực tài chính, chứng khoán, bảo hiểm sản xuất…
Khủng hoảng chính trị xã hội: từ trước tới nay khi nền kinh tế sụp đổ luôn tạo ra những bất ổn sâu sắc trong xã hội và nguy cơ sụp đổ của các chính phủ. Đặc biệt ở nước tuyên bố vỡ nợ. các cuỗ biểu tình, bạo động sẽ diễn ra thường xuyên, chính phủ sẽ được thay mới liên tục, tồi tệ hơn có thể diễn ra đảo chỉnh
1
2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA TÍN DỤNG
BÀI TIỂU LUẬN
TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI:
KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA
NÓ TỚI TÀI CHÍNH TIỀN TỆ 2009 - 2011
Giáo viên hướng dẫn: Hồ Thúy Ái
Lớp: EC012_1_111_T07
Nhóm thực hiện: Nhóm 7
Họ và tên MSSV
1. Phạm Văn Tiến
0301 2509 0881
2. Nguyễn Đức Huy
0301 2509 0250
3. Đỗ Thùy Linh
0301 2509 0410
4. Phạm Thị Hồng Thắm
0301 2509 0843
5. Trần Thục Ngân

............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
4
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
MỤC LỤC

phương. Như vậy, Các khoản vay như vay vốn ODA, phát hành trái phiếu chính phủ
(trong cũng như ngoài nước), trái phiếu công trình đô thị hay một tập đoàn kinh tế
vay nợ nước ngoài được chính phủ bảo lãnh đều được xem là nợ công.
1.1.2. Phân loại nợ công:
 Phân theo nguồn vay bao gồm: vay trong nước; vay nước ngoài.
 Phân theo chủ thể đi vay bao gồm: Chính phủ; chính quyền địa phương;
doanh nghiệp và các tổ chức tài chính, tín dụng được Chính phủ bảo lãnh..
 Phân theo loại hình vay bao gồm: vay hỗ trợ phát triển chính thức (vay
ODA); vay ưu đãi; vay thương mại.
 Phân theo thời hạn vay bao gồm: vay ngắn hạn; vay trung – dài hạn;
 Phân theo loại lãi suất bao gồm: lãi suất cố định; lãi suất thả nổi.
 Phân theo chủ nợ và nhóm chủ nợ: chủ nợ chính thức; chủ nợ tư nhân.
 Phân theo công cụ nợ bao gồm: thỏa thuận vay; tín phiếu; trái phiếu; công
trái và các công cụ nợ khác.
1.1.3. Chỉ tiêu xác định tình trạng nợ công và ngưỡng an toàn nợ công:
 Các chỉ tiêu giám sát về nợ công, nợ nước ngoài của quốc gia bao
gồm:Nợ công so với GDP(chủ yếu);Nợ nước ngoài của quốc gia so với
GDP;Nghĩa vụ trả nợ nước ngoài của quốc gia so với tổng kim ngạch xuất nhập
khẩu..
6
 Ngưỡng an toàn của nợ công:
• Theo công trình nghiên cứu năm 2010 của Cơ quan nghiên cứu kinh tế quốc gia
Mỹ (NBER): khi tỷ lệ nợ/GDP vượt ngưỡng 90% thì nó tác động xấu đến tăng trưởng
kinh tế và làm giảm đi 4% trong tăng trưởng kinh tế của quốc gia đó.
• Theo qui định của Khối sử dụng đồng tiền chung Châu Âu, tỷ lệ nợ công tối đa
đối với một quốc gia thành viên là 60% GDP, thâm hụt ngân sách hàng năm không
được vượt quá 3% GDP
• Tuy nhiên để xét một cách toàn diện thì cần đặt trong mối liên hệ với hệ thống
các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô của nền kinh tế quốc dân, nhất là: tốc độ và chất lượng tăng
trưởng kinh tế, hiệu quả sử dụng vốn... cũng như những tiêu chí như: cơ cấu nợ công,

Cán cân ngân sách thâm hụt
Giá trái phiếu giảm và lãi suất tăng
Lạm phát tăng.
Các doanh nghiệp hạn chế đầu tư, tốc độ tăng trưởng GDP giảm.
Thất nghiệp tăng

Khủng hoảng nợ công, cán cân ngân sách thâm hụt, Chính phủ cần huy động để
trả nợ buộc phải vay của công chúng bằng cách phát hành trái phiếu, vay mượn ở
ngân hàng trung ương hoặc cầu viện cứu trợ từ các nước khác, từ các tổ chức
quốc tế như IMF...hoặc tăng thuế để bù đắp thâm hụt ngân sách bên cạnh đó phải
thực hiện chính sách “thắt lưng buộc bụng” để giảm chi tiêu. Việc phát hành thêm
trái phiếu chính phủ thì giá trái phiếu chính phủ giảm, lãi suất trái phiếu tăng vì
chính phủ phải nâng lãi suất trái phiếu thì mới huy động được người mua.
 Khi cán cân ngân sách thâm hụt, ngân hàng trung ương sẽ tài trợ thâm hụt
bằng cách phát hành thêm tiền làm tăng khối cung tiền gây ra áp lực lạm phát.
 Bên cạnh đó, việc cắt giảm chi tiêu, tăng thuế sẽ làm giảm đầu tư trực tiếp,
kìm hãm kinh tế, làm chậm tốc độ tăng trưởng (thể hiện ở tốc độ tăng trưởng GDP
8
giảm sút  chỉ số nợ/GDP tăng). Việc giảm chi tiêu, giảm đầu tư sẽ dẫn đến tình
trạng việc làm giảm, thất nghiệp gia tăng.
 Mặt khác, cán cân ngân sách thâm hụt đã gây ra sự mất lòng tin của người dân
và của nhà đầu tư mới đối với các nền kinh tế quốc gia khiến đồng tiền quốc gia
sụt giá. Điều đó có thể dẫn tới một đợt tháo chạy với quy mô lớn trên thị trường
trái phiếu và cổ phiếu làm giá chứng khoán bị sụt giảm.
1.4. V n d i con m t c a kinh t h c: t i sao Hy L p và Ireland khôngỡ ợ ướ ắ ủ ế ọ ạ ạ
tuyên b v n ?ố ỡ ợ
Khi khủng hoảng nợ xảy ra với qui mô lớn thì mục đích của ngân hàng chủ nợ và
các nước phát triển là tránh không để bất cứ một quốc gia nào tuyên bố vỡ nợ, đồng
thời thường thì các nước con nợ không bao giờ muốn tuyên bố vỡ nợ vì chi phí thanh
toán nợ thường thấp hơn các phí tổn phải chịu khi tuyên bố vỡ nợ.

khoản nợ.
Nhưng từ năm 2008 tới nay vấn đề nợ công lại xuất phát từ những nước phát
triển, những nền kinh tế hàng đầu thế giới mà không mấy ai ngờ tới. (Hình 2.1)
Kinh tế thế giới vừa trải qua cơn bão khủng hoảng dữ dội nhất kể từ sau cuộc
đại suy thoái 1929-1933 và đang chật vật hồi phục. Thế nhưng, sự hồi phục hiện nay
của kinh tế thế giới rất mong manh, bấp bênh và không loại trừ khả năng có thể bị suy
thoái trở lại bởi nhiều nguyên nhân, trong đó tình trạng nợ công tràn lan ở nhiều nước
là một nguyên nhân quan trọng.
Trong các nước đang bị các núi nợ đè lên thi nước Mỹ chính là con nợ lớn
thuộc loại hàng đầu thế giới với tổng số nợ lên tới 13.590 tỷ USD, chiếm khoảng
93.2% GDP năm 2010. Mới đây ngày 02/08/2011 quốc hội Mỹ đã thông qua trần nợ
công lên thêm 2.400 tỷ USD so với mức cũ là 14.300 tỷ USD.Chính vì những khoản
nợ khổng lồ đó mà Standard & Poor’s (S&P) (tổ chức xếp hạng tín dụng thế giới) đã
hạ bậc tín dụng của Mỹ từ AAA xuống AA+.
Còn nếu tính theo Tỉ lệ Public debt/ GDP thì chúng ta sẽ giật mình khi nhìn
vào con số của nhật bản là 220,3% và mức thâm hụt ngân sách 7.04% (năm 2010).
Trận động đất và sóng thần hồi đầu tháng 3-2011 sẽ góp phần làm tình trạng nợ công
của nhật bản thêm trầm trong hơn nữa, theo một thống kê mới nhất của IMF thì hiện
tại nợ công của Nhật Bản đã lên tới khoảng 229% GDP.
Nhưng vấn đề nợ công lớn nhất trong đợt khủng hoảng này lại nằm ở “lục địa
già” nơi tập trung những nền kinh tế lâu đời, phát triển ổn định nhất trên thê giới.
Xem xét mạng lưới nợ công chính phủ thì 5 nước Hy Lạp – Ireland - Tây Ban Nha
– Bồ Đào Nha – Italia đang ở trên bờ vực của sự phá sản. tình hình tồi tệ nhất cho
tới hiện nay nằm ở hai nước đó là Hy lạp và Ireland chúng ta sẽ xem xét ở phần sau.
Theo tờ The New York Times đánh giá: "nguy cơ thực sự nằm ở Tây Ban Nha và
Italia".
Ngày 03/8, các thị trường tài chính Italia và Tây Ban Nha đã đứng trước một
"cơn sốt mới" khi lãi suất vay mượn của chính phủ tăng cao tới mức kỷ lục kể từ khi
lưu hành đồng euro:
- Tại Tây Ban Nha, lãi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm tăng lên tới

Từ lúc bắt đầu tham gia sử dụng đồng tiền chung châu Âu (Euro) vào giữa
năm 2001 cho đến năm 2010, Hy Lạp luôn vượt chỉ tiêu nợ công theo quy định của
hiệp hội các nước thuộc khu vực EURO là 60%/ GDP, có lúc tỷ lệ nợ công của quốc
gia này lên đến 142,8% GDP vào năm 2010, nợ chính phủ lên đến 328,6 tỷ EUR
(năm 2010) vượt xa chỉ tiêu mà khu vực EURO cho phép, hiện nay số nợ của Hy lạp
ước tính đã lên tới hơn 350 tỷ EUR, chiếm khoảng 130,2%GDP. (Hình 2.2)
11
2.2.1.2. Tỷ trọng nợ công của Hy Lạp:
Rủi ro lớn nhất của Hy Lạp là nợ vay nước ngoài chiếm tỷ lệ lớn, có thể lên
đến 80%. Ước tính tỷ lệ trái phiếu do nước ngoài nắm giữ có thể lên tới 80% lượng
trái phiếu chính phủ phát hành. Chủ nợ phần lớn là các ngân hàng châu Âu. Các nước
Ý, Ireland cũng trong tình cảnh thâm hụt ngân sách và nợ công cao, nhưng không bị
đánh giá nghiêm trọng bằng Hy Lạp (Hình 2.3). Sở dĩ như vậy vì các nước này có
nền kinh tế tương đối lớn, ngân sách lớn, khả năng kiểm soát nợ trong nước cao hơn,
các chỉ số về cơ cấu nợ cũng như các biến số về phát triển kinh tế vĩ Mô tốt hơn hy
lạp.
Tính theo thời gian Với mức vay nợ như trên, Hy Lạp phải đối mặt với khoản
nợ đến hạn phải thanh toán 8,5 tỉ euro (tương đương 11,3 tỉ đô la Mỹ) trái phiếu chính
phủ vào ngày 19-5-2010. Chưa đến một năm, một đợt trả nợ kế tiếp diễn ra vào tháng
3/2011, với số tiền 8.6 tỷ Euro.
Hầu hết các khoản nợ của Hy Lạp là ngắn hạn, trong đó, số nợ phải trả trong
năm 2010 là 16% tổng nợ (Hình 2.4).
2.2.1.3. Thâm hụt cán cân vãng lai trong một thời gian dài.
Hy lạp thâm hụt cán cân vãng lai trong một thời gian dài, ngay từ khi đã gia
nhập vào khu vực đồng tiền chung Euro, nhưng tình trạng thâm hụt vẫn không được
cái thiện mà có xu hướng ngày càng tăng, đến tháng tám năm 2011,Hy Lạp báo cáo
thâm hụt tài khoản vãng lai tương đương với 145 triệu EUR. (Hình 2.5)
Sự thâm hụt cán cân vãng lai của Hy Lạp bắt nguồn từ sự thâm hụt thương mại
của nước này, cũng như tình trạng cán cân vãng lai, cán cân thương mại của Hy Lạp
luôn trong tình trạng thâm hụt, đến tháng tám năm nay, Hy Lạp báo cáo thâm hụt

luật “bất thành văn”, đó là việc, các quan chức tham nhũng, nhận hối lộ rất “mạnh
tay”, nhưng đến khi bị cơ quan điều tra phát hiện thì lại rất nhanh và “mạnh mồm”
tuyên bố từ chức, và sẽ không bị đưa ra xét xử nữa.
Nghiên cứu của Daniel Kaufmann thuộc Viện Brookings ở Mỹ cho rằng có
mối liên hệ chặt chẽ giữa tham nhũng và thâm hụt ngân sách. Thiệt hại mà tham
nhũng gây ra cho Hy Lạp được ước tính vào khoảng 8% GDP Nói cách khác, khoảng
hơn 50% số thâm hụt ngân sách năm 2009 của Hy Lạp là do tham nhũng mà ra.(VN
economy)
 Chi tiêu công “siêu thoáng”
Theo một nguồn tin từ Bộ Tài chính Hy Lạp, trong năm 2009, Bộ này đã tuyển
dụng tổng cộng khoảng 27.000 công chức mới, nhưng số công chức chỉ đến công sở
“ngồi chơi xơi nước” chiếm tới 1/3. Tính đến năm 2009, lượng công chức ở Hy Lạp
chiếm tới 1/4 số người làm công ăn lương ở nước này.. Lương đã cao, thưởng vào
cuối năm cũng cao, công chức còn được lĩnh tới 16 tháng lương. Nhiều công chức Hy
Lạp được nghỉ hưu trước năm 60 tuổi với mức lương hưu bằng 3/4 mức lương khi
còn đi làm.
 Vay tiền để... nâng lương nhân viên chính phủ và tổ chức Thế vận hội.
13
Thế vận hội Athens 2004 là một cơ hội không thể nào tốt hơn để Hy Lạp gia
tăng các dự án đồ sộ của mình và tiếp tục đi vay nợ thoải mái vì mục tiêu Thế vận
hội.
 Việc không tuân thủ chặt chẽ các quy định trong liên minh tiền tệ.
Thật vậy, theo Hiệp ước Maastricht, để tham gia vào khu vực đồng tiền chung,
các quốc gia thành viên phải đáp ứng nhiều chuẩn mực, trong đó có quy định mức bội
chi của ngân sách phải nhỏ hơn hoặc bằng 3% GDP, có xem xét trường hợp mức thâm
hụt đang trong xu hướng được cải thiện hoặc mức thâm hụt lớn hơn 3% nhưng mang
tính tạm thời, không đáng kể, không là mức bội chi cơ cấu; nợ chính phủ nhỏ hơn
hoặc bằng 60% GDP, có xem xét các trường hợp đang điều chỉnh.
Theo quy định này, Hy Lạp chưa đủ điều kiện tham gia khu vực đồng tiền
chung châu Âu vào tháng 5-1998. Nhưng hai năm sau, ngày 1-1-2001, mặc dù vẫn

đạo châu Âu đã không phản đối. Vì lý do chính trị, họ đã cho Hy Lạp tham gia đồng
Euro.
Đến năm 2004, bằng chứng về việc Hy Lạp công bố số liệu kinh tế giả mạo đã
được Eurostat thu thập đủ, nhưng các quan chức của châu Âu vẫn tuyên bố rằng, việc
trục xuất Hy Lạp khỏi Eurozone không phải là lựa chọn của họ và cho Hy Lạp thời
gian để sửa chữa. Đến năm 2007, ECB tuyên bố Hy Lạp đã có những biện pháp khắc
phục phù hợp, và thâm hụt của quốc gia này sẽ chỉ còn 2,6% GDP vào năm 2006 và
2,4% vào năm 2007. Ủy ban cũng đưa ra kết luận rằng “Cơ quan Thống kê của Hy
Lạp đã cải thiện quy trình làm việc của mình” và chất lượng số liệu thống kê của họ
đã tốt hơn. Tuy nhiên, đến năm 2009, thì một lần nữa câu hỏi về sự gian lận số liệu
của quốc gia này lại được lật lại. Chính điều này đã làm cho các nhà đầu tư và các
Ngân hàng thương mại quốc tế mất niềm tin, từ đó rút vốn làm cho nguy cơ vỡ nợ
của Hy lạp thêm trầm trọng.
2.2.3. Tác động của nợ công đến tình hình tài chính tiền tệ:
2.2.3.1. Xếp hạng tín dụng:
Ngày 15/6/2010, Tổ chức xếp hạng tín dụng Moody’s đã hạ 4 bậc xếp hạng tín
dụng của Hy Lạp xuống mức không đầu tư và cảnh báo, việc Hy Lạp giảm thâm hụt
ngân sách sẽ tạo ra nhiều hậu quả xấu về kinh tế.
Theo hãng tin Bloomberg, xếp hạng tín dụng của Hy Lạp bị hạ xuống mức Ba1
từ mức A3. Trong tuyên bố xếp hạng tín dụng, Moody’s đã nhiều lần nhắc đến những
rủi ro đối với tăng trưởng kinh tế bởi những biện pháp thắt chặt ngân sách liên quan
đến gói giải cứu 110 tỷ EUR (136 tỷ USD).
Dù được EU và IFM hứa hẹn “bơm” tiền nhưng hình ảnh của Hy Lạp vẫn
chưa được cải thiện trong mắt các tổ chức xếp hạng độc lập, vào 14/7/2011, hãng xếp
hạng Fitch đã hạ 3 bậc đối với mức tín dụng của Hy Lạp từ B+ xuống CCC, thấp nhất
trong thang xếp hạng của Fitch. Lý giải cho việc này, Fitch cho rằng các chương trình
tài trợ mà các tổ chức tài chính quốc tế dành cho Hy Lạp chỉ đơn thuần là tài chính
chứ không đưa ra những giải pháp đầy đủ và đáng rin cậy.
15
Cũng theo Fitch , vai trò của khu vực tư nhân trong các chương trình cải cách

• Đánh thuế vào một số mặt hàng nội địa: Thuế đánh vào các mặt hàng
nội địa như nhiên liệu, thuốc lá, thức uống có cồn sẽ tăng một phần ba.
• Giảm chi tiêu công: các chi tiêu trong khu vực công sẽ bị cắt 15%.
16
• Giảm chi tiêu quân sự: trong năm 2012 chi tiêu cho quân sự của Hy Lạp
sẽ bị cắt giảm 200 triệu Euro và từ năm 2013 đến 2015, sẽ cắt giảm mỗi năm
333 triệu Euro.
• Giảm chi tiêu giáo dục: chi tiêu cho giáo dục cũng bị cắt giảm bằng
cách đóng cửa hoặc sát nhập 1976 trường học.
• Giảm chi tiêu cho an sinh xã hội: trong năm 2011, 1,09 tỷ Euro sẽ được
cắt từ quỹ an sinh xã hội của Hy Lạp. Tiếp đến, từ năm 2012 đến 2015 số cắt
giảm lần lượt là 1,28tỷ; 1,03 tỷ; 1,01 tỷ và 700 triệu. Bên cạnh đó, độ tuổi về
hưu sẽ tăng từ 61 lên 65.
• Tư hữu hóa chính phủ: chính phủ Hy Lạp sẽ tiến hành tư nhân hóa các
doanh nghiệp quốc doanh trong đó có OPAP, Hellenic Postbank, Hellenic
Telecom. Bên cạnh đó cũng sẽ bán cổ phần tại Athens Water, công ty dầu khí
Hellenic Petroleum, công ty điện PPC và lender ATEbank và một số hải cảng,
sân bay, đường cao tốc, quyền sở hữu đất và khai khoáng.
• Sa thải công chức: trong năm 2011, cư 10 công chức sẽ có một người bị
sa thải. Còn trong những năm tới, tỷ lên sa thải sẽ là cứ 5 người thì sẽ sa thải 1
người.
• Giảm chi tiêu y tế: trong năm 2011, chi tiêu cho y tế sẽ bị cắt giảm 310
triệu Euro và từ 2012 đến 2015 sẽ giảm 1,81 triệu euro.
2.2.3.4. Đầu tư trực tiếp FDI:
Chính phủ Hy Lạp đang thực hiện các biện pháp thắt lưng buộc bụng nhằm đảm
bảo cam kết giảm thâm hụt ngân sách của Chính phủ Hy Lạp để nhận được sự trợ
giúp từ EU và IMF. Vì thực hiện chính sách giảm chi tiêu, tăng thuế nên dẫn đến tình
hình đầu tư FDI vào Hy Lạp giảm mạnh.
Như mô tả trong đồ thị I, trong thời gian 2006-2008 FDI vào Hy Lạp đã liên tục
duy trì mức độ cao hơn so với giai đoạn năm 2003 - 2005, mặc dù biến động. (Hình

các nền kinh tế khác trong EU.
2.3.1.1. Tỷ lệ nợ công trên GDP:
Nợ Chính phủ của Ireland lần cuối báo cáo năm 2010 ở mức 96,2% GDP. Và
theo số liệu gần đây nhất, tháng 11/2011, tỉ lệ này vào khoảng 99,4%GDP. Từ năm
1980 đến năm 2010, nợ Chính phủ trung bình trên GDP của Ireland là 68,95%, từng
đạt mức cao lịch sử 109,20% trong tháng 12 năm 1987 và ghi lại một mức thấp
khoảng 24,80% trong tháng 12 năm 2006 (hình 2.12).
2.3.1.2. Tình tr ng thâm h t ngân sách:ạ ụ (theo dõi hình 2.13)
Trước quý 1 năm 2008, ngân sách của chính phủ Ireland luôn ở trạng thái thặng
dư. Tuy nhiên từ thời điểm đó tới nay, tình trạng ngân sách của nước này ngày càng
xấu đi, theo báo cáo năm 2010 mức thâm hụt ngân sách đã lên đến con số 31,3%
GDP. Ireland là nước có thâm hụt ngân sách cao nhấy khu vực Eurozone.
Suốt 3 năm qua, giá nhà giảm 50-60% khiến cho tỷ lệ nợ xấu (đặc biệt là nợ của
các công ty phát triển bất động sản) tăng đến mức báo động. Hệ thống ngân hàng,
18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status