PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Hình thức thi trắc nghiệm khách quan (TNKQ) đã được đưa vào kỳ thi từ nhiều
năm nay, trong đó có môn Hóa học. Với hình thức thi trắc nghiệm, trong một khoảng
thời gian ngắn học sinh phải giải quyết được một lượng khá lớn các câu hỏi, bài tập.
Điều này không những yêu cầu học sinh phải nắm vững, hiểu rõ kiến thức mà còn
phải thành thạo trong kĩ năng giải bài tập và đặc biệt phải có phương pháp giải bài tập
trắc nghiệm hợp lí. Thực tế cho thấy có nhiều học sinh có kiến thức vững vàng nhưng
trong các kì thi vẫn không giải quyết hết các yêu cầu của đề ra. Lí do chủ yếu là các
em vẫn tiến hành giải bài tập hóa học theo cách truyền thống hoặc không phát hiện
được những điểm đặc biệt, mấu chốt của bài toán, vì vậy học sinh làm bài tập mất rất
nhiều thời gian nên từ đấy không tạo được hiệu quả cao trong việc làm bài thi trắc
nghiệm. Nhất là đối với loại bài tập tổng hợp phức tạp có nhiều hợp chất hữu cơ trong
một hỗn hợp mà mỗi chất một loại chức khác nhau, nếu có cùng loại chức thì số nhóm
chức lại khác nhau (tức là các hợp chất hữu cơ không cùng dãy đồng đẳng), loại bài
tập này được đặc trưng bởi những điểm đặc biệt riêng không phải học sinh nào cũng
nhận ra được, vì vậy việc xây dựng kinh nghiệm và phương pháp giải bài tập hợp lí là
một việc rất cần thiết để giúp các em học sinh đạt hiệu quả cao trong các kì thi. Tuy
nhiên trong phạm vi giới hạn một sáng kiến kinh nghiệm cá nhân tôi chỉ xin trình bày
một số kinh nghiệm nhỏ mà tôi đã áp dụng khi dạy học sinh rèn kĩ năng giải bài tập
dạng “ Hỗn hợp các hợp chất hữu cơ không cùng dãy đồng đẳng” qua đó phát huy
và nâng cao tính tích cực, sáng tạo trong giải toán hóa học, tạo ra sự tự tin và hiệu quả
khi làm bài thi, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường THPT
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Xuất phát từ thực tế giảng dạy hàng năm, qua quá trình ôn luyện cho học sinh thi
đại học, cao đẳng tôi thấy có rất nhiều bài tập về hỗn hợp các chất hữu cơ thường
xuyên xuất hiện trong đề thi, nhưng các bài tập mà tôi muốn đề cập tới là những bài
tập đề bài cho một hỗn hợp nhiều chất mà mỗi chất lại có các chức khác nhau thậm
chí trong hỗn hợp đề bài cho còn lẫn lộn cả hợp chất có chức với hiđrocacbon (hỗn
hợp các hợp chất hữu không cùng dãy đồng đẳng), không phải ở đây học sinh không
nắm được tính chất các hợp chất hữu cơ, mà cái thiếu ở đây là học sinh không có cái
nhìn tổng quát, không tìm ra được điểm chung giữa các chất hoặc không biết qui đổi
hoặc hai chất đại diện để đơn giản hóa bài toán.
2
Là giáo viên trực tiếp giảng dạy môn hóa và thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, ôn thi
đại học, cao đẳng cho học sinh trong nhiều năm qua tôi thấy chỉ có đối tượng học
sinh giỏi là đáp ứng được những dạng bài trên, còn đa số nếu không được hướng dẫn,
chuẩn bị trước loại bài này thì phần lớn các em sẽ không làm được. Trước thực trạng
như trên khi giảng dạy tôi đã chủ động đưa ra một số biện pháp cải tiến để khắc phục
những tồn tại đó và giúp đa số các đối tượng học sinh đều có thể tự tin giải bài tập
nhanh, chính xác, hiệu quả khi gặp dạng bài tập trên.
III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài, tôi sử dụng phương pháp chủ yếu là tham khảo nhiều tài liệu,
nhiều đề thi các năm và tổng kết kinh nghiệm qua các buổi dạy bồi dưỡng học sinh rồi
căn cứ vào đặc điểm của đề bài để hệ thống và biên soạn loại bài tập này thành các
dạng cụ thể hơn đồng thời đưa ra những kiến thức cần thiết phục vụ cho việc áp dụng,
đưa ra phương pháp hợp lí cho từng dạng. Trong quá trình vận dụng đề tài tôi đã áp
dụng nhiều biện pháp như tham khảo, trao đổi cùng các giáo viên có kinh nghiệm, tìm
hiểu nguyên nhân vướng mắc từ phía học sinh; Áp dụng kiểm tra đối chứng, đánh giá
và so sánh kết quả ở nhiều lớp tại trường THPT Lê Lợi rồi đúc rút ra kinh nghiệm
này.
3
PHẦN II: CÁC GIẢI PHÁP CẢI TIẾN
A. CƠ SỞ LÍ THUYẾT
I. KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ CÁC HỢP CHẤT HỮU CƠ
Phần kiến thức này tôi không trình bày ở đây vì đã có SGK
II. MỘT SỐ ĐIỂM KIẾN THỨC CẦN CHÚ Ý KHI LÀM DẠNG BÀI TẬP
“HỖN HỢP CÁC HỢP CHẤT HỮU CƠ KHÔNG CÙNG DÃY ĐỒNG ĐẲNG”
Trong quá trình rèn luyện, nâng cao kĩ năng giải bài tập cho học sinh để làm nhanh
mà chính xác được bài tập tôi yêu cầu học sinh phải học thuộc và ghi nhớ một số điểm
quan trọng của mỗi loại hợp cất hữu cơ, vì đây là những vấn đề hay vận dụng vào bài
tập. Còn đối với những hỗn hợp có tính chất phức tạp như hỗn hợp nhiều chất hữu cơ
O
a
và n
OH
2
- n
2
CO
= n
a
n
n
OHC
22 +
* Đối với những hợp chất có dạng C
n
H
2n
O
a
khi đốt:
n
OH
2
= n
2
CO
tức là thấy n
OH
OH
2
= n
a
n
n
OHC
22 −
* Hợp chất X có 2 nguyên tử H trong phân tử khi đốt thì n
X
= n
OH
2
và ngược lại khi
đốt một hợp chất X có n
X
= n
OH
2
thì X có 2 nguyên tử H
Một số chất có 2 nguyên tử H hay gặp :
C
2
H
2
; C
4
H
2
(CH
3
luôn có: Số mol nhóm chức = số mol CO
2
tạo thành
- Na
2
CO
3
luôn có: Số mol nhóm chức = ½ số mol CO
2
tạo thành
2. Một số đặc điểm chung giữa các chất trong hỗn hợp và một số hỗn hợp các
chất hữu cơ hay gặp
a. Một số đặc điểm chung
Nguyên tắc ra đề của loại bài này là người ta có thể dựa vào công thức các chất hữu
cơ để tạo ra một hỗn hợp nhiều chất có chức khác nhau, hoặc khác nhau về số chức
nhưng nhất định giữa chúng phải có những đặc điểm chung để tạp ra điểm đặc biệt
cho hỗn hợp, theo kinh nghiệm tôi thấy những đặc điểm chung giữa các chất thường
gặp là
- Các chất có cùng dạng công thức tổng quát, hoặc cùng công thức đơn giản nhất
(có cùng độ bất bão hòa)
- Các chất có cùng số nguyên tử C (H, O), hoặc các chất có số nguyên tử C thường
bằng số nguyên tử O dạng C
n
H
m
O
n
- Các chất trong hỗn hợp đều có 2 nguyên tử H hoặc các chất trong hỗn hợp có số
nguyên tử C (hoặc H) đều gấp số chức một số lần như nhau
OH; C
2
H
4
(OH)
2
; C
3
H
5
(OH)
3
Điểm chung: + Có chung CTTQ dạng C
n
H
2n+2
O
a
+ Có số n.tử C = số chức = số n.tử O = số n.tử H trong chức
* Hỗn hợp: axit acrylic ( CH
2
=CH-COOH) , ancol anlylic (CH
2
=CH-CH
2
OH)
5
axit ađipic (CH
2
2
=CH – COOCH
3
: metylacrylat
Điểm chung: Các chất đều có 2 liên kết pi nên có dạng CTTQ chung là C
n
H
2n – 2
O
2
*Hỗn hợp: C
2
H
2
, C
4
H
6
, C
3
H
4
, HCHO, CH
3
CHO
Điểm chung: chúng có chức khác nhau nhưng đều có khả năng cộng H
2
cứ 1mol
pi hoặc vòng hoặc 1 mol chức andehit đều cộng 1 mol H
Ví dụ: hỗn hợp X gồm ancol propylic, axeton, anđehit acrylic và axit acrylic (trong đó
số mol của ancol propylic và anđehit acrylic bằng nhau)
Ta chuyển bớt 2 nguyên tử H từ ancol propylic sang anđehit acrylic để chuyển ba
chất ancol propylic, axeton, anđehit acrylic thành một chất thay thế có công thức
C
3
H
6
O như vậy hỗn hợp 4 chất qui về 2 chất có công thức: C
3
H
6
O và C
3
H
4
O
2
- Sau khi qui hỗn hợp thành chất đại diện thì áp dụng những điểm đặc biệt của dạng
công thức đó như quan hệ tỉ lệ số nguyên tử giữa các nguyên tố hoặc với số nhóm
chức để giải bài tập ( xem phần một số hh thường gặp).
III. Bài tập minh họa
Bài 1: Hỗn hợp X gồm andehit fomic, andehit oxalic, axit axetic, etilenglycol,
glyxerol. Lấy 4,52 gam X đốt cháy hoàn toàn rồi cho sản phẩm đi qua bình 1 đựng
H
2
SO
4
(đặc, dư), bình 2 đựng 600 ml dung dịch Ba(OH)
2
tạo kết tủa = mol kết
tủa = 0,24 – 0,15 = 0,09 mol
⇒
m
↓
= 0,09.197 = 17,33g (chọn B)
Bài 2: Một hỗn hợp X gồm axetilen, anđehit fomic, axit fomic và H
2
. Lấy 0,25 mol
hỗn hợp X cho qua Ni, đốt nóng thu được hỗn hợp Y gồm các chất hữu cơ và H
2
. Đốt
cháy hoàn toàn hỗn hợp Y rồi hấp thụ hết sản phẩm cháy bằng nước vôi trong dư, sau
khi các phản ứng xảy ra hoàn toàn thu được 15 gam kết tủa và dung dịch Z. Khối
lượng dung dịch Z thay đổi so với khối lượng nước vôi trong ban đầu là
A. giảm 10,5 g. B. tăng 11,1 g. *C. giảm 3,9 g. D. tăng 4,5 g.
Giải: với việc đã được lưu ý đến các chất trong hỗn hợp thì học sinh sẽ nhận ra ngay đặc
điểm chung của các chất là đều có 2 nguyên tử H , nên khi đốt X sẽ thu được n
OH
2
= n
X
= 0,25 mol. Theo bảo toàn H thì mol H
2
O thu được từ X bằng từ Y = 0,25mol.
Tổng khối lượng CO
2
+ H
2
O = 0,15.44 + 0,25.18 = 11,1g
anđehit có 2 H chỉ có HCHO, (CHO)
2
, CH
≡
C-CHO .
Số nguyên tử
C
= 3,25 từ đó chọn C
4
H
2
(CH
≡
C-C
≡
CH) và CH
≡
C–CHO
Tính mol C
4
H
2
và CH
≡
C–CHO trong 31,8g hh là 0,15 mol và 0,45 mol.
kết tủa bao gồm AgC
≡
C-C
≡
CAg (0,15 mol); AgC
cùng CT C
4
H
8
O
2
và amin là C
4
H
12
N
2
từ đó dễ nhận thấy điểm ĐB là: cả ba chất đều
có 4 n.tử C và đều có M = 88, mà tính được n
C
= n
CO2
= 0,4 vậy mol hh = 0,1
⇒
khối
lượng hh = 8,8 = 0,5m
⇒
m = 17,6. Chọn B
Bài 5 : Hỗn hợp X gồm etilen glicol, ancol etylic, ancol propylic và hexan trong đó số
mol hexan bằng số mol etilen glicol. Cho m gam hỗn hợp X tác dụng với Na dư thu
được 0,4032 lít H
2
(đktc). Mặt khác đốt m gam hỗn hợp X cần 4,1664 lít O
2
(đktc).
8
C
n
H
22 +n
O. Từ CTTB hh
⇒
n
hh
= n
O
= 0,036 mol.
Ptp.ư cháy : C
n
H
22 +n
O +
2
3n
O
2
→
n
CO
2
+ (
n
+ 1) H
2
H
2
) để chuyển hh 2 chất axit oxalic, axetilen thành một chất đại diện
C
2
H
2
O
2
có mol bằng tổng mol 2 chất
Qui hh 4 chất trên về 2 chất có CT là: C
2
H
2
O
2
và C
3
H
4
O
2
C
2
H
2
O
2
+ 3/2 O
2.0,125 = 0,25 mol hay 5,6 lit. ChọnC
Bài 7: Đốt cháy hoàn toàn m gam hh X gồm ancol propylic, axeton, anđehit acrylic và
axit acrylic (trong đó số mol của ancol propylic và anđehit acrylic bằng nhau), sau
phản ứng thu được 2,688 lít khí CO
2
(ở đktc) và 1,98 gam H
2
O. Giá trị m là
*A. 2,46. B. 2,64. C. 1,72. D. 1,27.
Giải: tương tự trên bài này qui hh thành 2 chất C
3
H
6
O và C
3
H
4
O
2
và nhận thấy chúng
đều có 3 nguyên tử C nên tính mol hh = 0,12:3=0,04 ; mol H
2
O = 0,11. Lập pt
tổng mol hh = a + b = 0,04 và pt mol H = 6a + 4b = 0,22. Kết quả
a = 0,03; b = 0,01
⇒
m = 58a + 72b = 2,46 gam. Chọn A
Bài 8. Đốt cháy hoàn toàn một hỗn hợp X : glucozơ, fructozơ, metanal và axit
etanoic, cần 3,36 lít O
2
đề đã cho.
CH
2
=CH – COOH : axit acrylic; CH
3
COOCH
2
CH=CH
2
: Vinylaxetat
C
9
H
18
= C
8
H
15
– COOH : axit oleic CH
2
=CH – COOCH
3
: metylacrylat
Nhận xét: Các axit và este trong hh đều có điểm chung là: đơn chức và có hai liên kết
π. Do vậy công thức tổng quát trung bình của hỗn hợp trên có dạng C
n
H
2n-2
O
2
(đktc). Nếu đốt cháy hoàn toàn
m gam hỗn hợp X trên thì thể tích khí CO
2
(đktc) thu được tối đa là
A. 20,16 lít. B. 13,44 lít. *C. 40,32 lít. D. 49,28 lít.
Giải: Cũng như trên bài này đòi hỏi học sinh cần phải nhớ các công thức của các chất
mà đề đã cho: axit acrylic CH
2
=CH – COOH ; ancol anlylic : CH
2
=CH – CH
2
OH
axit ađipic (CH
2
)
4
(COOH)
2
; hiđroquinon C
6
H
4
(OH)
2
Nhận xét: số nguyên tử C trong các chất đều gấp 3 lần số chức tức gấp 3 lần số
nguyên tử H trong chức . mà số mol H trong chức = 0,6
⇒
mol CO
2
, C
4
H
6
. Đốt cháy hoàn toàn 6,72 lít hỗn hợp
X (đ.k.t.c), rồi cho toàn bộ sản phẩm cháy vào bình đựng nước vôi trong dư. Khối
lượng của bình tăng 49,2 gam. Tỉ khối của hỗn hợp X so với H
2
là bao nhiêu?
*A. 18. B. 20. C. 22. D. 24.
Gợi ý: các chất có 6 H nên tính được mol H
2
O
⇒
mol CO
2
⇒
tổng k.lượng hh từ đó
tính
M
⇒
d
hh/H
2
ChọnA
Bài 13. Hỗn hợp A gồm C
2
H
(CO
2
+ H
2
O)
= 27
⇒
a = 0,2/3 chọn D
Bài 14 . Hỗn hợp X gồm 1 ankin, 1 ankan (số mol ankin bằng số mol ankan), 1 anken
và 2 amin no, đơn chức, mạch hở Y và Z là đồng đẳng kế tiếp (M
Y
< M
Z
). Đốt cháy
hoàn toàn một lượng hỗn hợp X trên cần 174,72 lít O
2
(đktc), thu được N
2
, CO
2
và
133,2 gam nước. Chất Y là
A. etylamin. B. butylamin C. propylamin. *D. metylamin.
Gợi ý : qui hh về anken và amin no, đơn chức, mạch hở. Bảo toàn O tính mol CO
2
=
4,1 mol. Do n
amin
= (n
H
O)
n
tương tự bài 8. Chọn D
11
Bài 16: Đốt cháy hoàn toàn m gam hỗn hợp gồm anđehit fomic, axit axetic, glucozơ
và glixerol thu được 29,12 lít CO
2
(đktc) và 27 gam H
2
O. Thành phần phần trăm về
khối lượng của glixerol trong hỗn hợp có giá trị là
A. 35,1 % B. 43,8 % *C. 46,7% D. 23,4%
Gợi ý : số nguyên tử C = số n.tử O vậy tính được tổng khối lượng hh . Tính mol
glixerol = mol H
2
O – molCO
2
⇒
%khối lượng glixerol= 46,7%. Chọn D
Bài 17. Cho 36,5 gam hỗn hợp X gồm hiđroquinon, catechol và axit axetic tác dụng
với kali (dư) thu được 7,28 lít (đktc) khí H
2
. Thành phần phần trăm về khối lượng của
axit axetic trong hỗn hợp X là
A. 32,877%. B. 41,096%. C. 14,438%. *D. 24,658%.
Chú ý: mol H trong chức = 0,65. lập pt khối lượng hh và pt mol H trong chức sẽ tính
được mol axit axetic . Chọn D
Bài 18: Cho hỗn hợp X (gồm CH
2
ban đầu đã thay đổi là:
A. Tăng 7,92 g B. Giảm 7,38 g *C. Tăng 0,5g D. Giảm 7,74 g
Gợi ý : Tương tự bài 13 Chọn C
DẠNG 2: TÍNH LƯỢNG OXI TRONG HỖN HỢP QUA CÁC NHÓM CHỨC
I.Đặc điểm nhận dạng của bài toán:
- Thường rơi vào hỗn hợp các axit, hh các ancol hoặc hh 2 loại chức trên
- Trong đề bài có đề cập đến phản ứng của các chất trong hỗn hợp với KLK hoặc
NaHCO
3
, Na
2
CO
3
( với hh axit)
- Ngoài ra còn kết hợp phản ứng đốt hỗn hợp
II. Phương pháp
12
Cấu thành bài toán loại này có 4 yếu tố chính là: Khối lượng hh, mol O, mol C , mol
H. Luật ra đề sẽ cho 3 yếu tố và yêu cầu tính yếu tố còn lại bằng bảo toàn khối lượng
- Mol C thường tính hoặc vận dụng qua mol CO
2
, mol H tính hoặc vận dụng qua H
2
O,
vấn đề này thường đã quen với học sinh
- Riêng mol O trong phân tử thường tính qua các nhóm chức:
+ n
O(ancol)
= 2 lần số mol H
2
.Nếu cho hỗn hợp X tác dụng
hoàn toàn với NaHCO
3
dư thì thu được 4,256 lít CO
2
(đktc). Giá trị của a là
A. 6,02 gam *B. 6,12gam C. 6,22 gam D. 6,21 gam
Giải: Theo nhận xét trên n
O(axit)
= 2. 4,256: 22,4 = 0,38 mol. Bảo toàn khối lượng n
H
=
0,68
⇒
mol H
2
O = 0,34 hay 6,12 gam . Chọn B
Bài 2. Hỗn hợp X gồm ancol đơn chức Y và ancol hai chức Z có cùng số nguyên tử
cacbon trong phân tử. Cho m gam hỗn hợp X phản ứng hết với Na thu được 5,712 lít
H
2
(đktc). Mặt khác, đốt cháy hoàn toàn m gam hỗn hợp X thu được 23,76 gam CO
2
.
Phần trăm khối lượng của Z trong hỗn hợp X là
*A. 91,51%. B. 14,42%. C. 72,94%. D. 85,58%.
Giải: n
H
2
, Y
2
(có tỉ lệ số mol
tương ứng là 5:1) thu được 9,856 lít (đktc) CO
2
và 7,92 gam H
2
O. Mặt khác, nếu cho
m gam Y tác dụng hết với H
2
(Ni, t
o
) rồi cho toàn bộ sản phẩm tạo thành tác dụng với
kali (dư) thấy thoát ra 1,344 lít H
2
(đktc). Công thức phân tử của Y
2
là
13
A. C
6
H
12
O. *B. C
7
H
14
O. C. C
4
H
+ n
2
= 3,666. 6 = 22 . trong hh có 1 xeton có 3 nguyên tử C nên chọn n
1
= 3
và n
2
= 7 Chọn B
Bài 4. Nếu đốt cháy hoàn toàn hỗn hợp gồm một ancol X (mạch hở) và một axit
cacboxylic bất kì thì luôn có số mol H
2
O nhỏ hơn hoặc bằng số mol CO
2
. Đốt cháy
0,15 mol X rồi cho sản phẩm cháy hấp thụ hoàn toàn vào dung dịch chứa 0,25 mol
Ba(OH)
2
thấy tạo thành a gam kết tủa.Giá trị của a là
A. 39,4. B. 49,25. C. 29,55. *D. 9,85.
Giải: Bài này HS phải nắm chắc được đốt bất kỳ axit nào thì luôn có mol H
2
O nhỏ
hơn hoặc bằng số mol CO
2
.
Để đốt hh axit cùng với Ancol mạch hở mà luôn luôn có
mol H
2
O nhỏ hơn hoặc bằng số mol CO
mol H
2
O = 1,3 mol hay 23,4 gam Chọn D
IV. Bài tập tương tự
Bài 6. Đốt cháy hoàn toàn 29,6 gam hỗn hợp X gồm CH
3
COOH, C
x
H
y
COOH và
(COOH)
2
thu được 14,4 gam H
2
O và m gam CO
2
. Mặt khác, 29,6 gam hỗn hợp X
phản ứng hoàn toàn với NaHCO
3
dư thu được 11,2 lít (đktc) khí CO
2
. Tính m
*A. 44 g B. 52,8 g C. 48,4 g D. 33 g
Bài 7 : Hỗn hợp X gồm axit fomic, axit acrylic, axit oxalic và axit axetic . Cho m gam X
phản ứng hết với dung dịch NaHCO
3
thu được 0,672 lít CO
2
(đktc). Đốt cháy hoàn toàn m
2
(đktc). Mặt khác, đốt cháy h.toàn m gam X
cần 8,96 lít khí O
2
(đktc), thu được 35,2 gam CO
2
và y mol H
2
O. Giá trị của y là
A. 0,8. B. 0,3. *C. 0,6. D. 0,2.
Bài 10: Hỗn hợp M chứa 3 chất hữu cơ X, Y, Z có cùng nhóm định chức với công thức
phân tử tương ứng là CH
4
O, C
2
H
6
O
2
, C
3
H
8
O
3
. Đốt cháy hoàn toàn một lượng M, sau
phản ứng thu được 2,24 lít CO
2
(ở đktc) và 2,7 gam H
2
DẠNG 3: HỖN HỢP CÁC CHẤT CỘNG H
2
I. Đặc điểm nhận dạng bài toán
- Nội dung đề bài ra có liên quan đến hh các hidrocacbon không no, các
xicloankan( vòng 3 , 4 cạnh); các andehit, các xeton, các hợp chất có chức không no
nói chung
- Thường tiến hành p.ư cộng của hỗn hợp với H
2
, ngoài ra rất nhiều bài thường cho
các điều kiện quen thuộc như cho tỉ khối hỗn hợp trước và sau p.ứ, hoặc cho hh sau
phản ứng tác dụng với dd Br
2
II. Phương pháp
- Xem các hợp chất có chức cộng H
2
, hợp chất có vòng 3 hoặc 4 cạnh như các
hidrocacbon không no cộng H
2
(1 vòng 3,4 cạnh xem tương đương 1 pi)
15
- Nguyên tắc giải quyết dựa vào số mol pi phản ứng = số mol H
2
p.ư
và mol pi dư = mol Br
2
trong dd
- Nắm chắc và luôn vận dụng: m
T
= m
S
. Gía trị của a là:
*A. 0,45 B. 0,65 C. 0,25 D. 0,35
Giải: Bài này đã cho n
X
= 0,75 mol; m
X
= 12,7 gam = m
Y
⇒
n
S
= 0,5 mol
Vận dụng nguyên tắc trên n
H
2
p.ư
= 0,25 = n
pi p.ư
. Tồng mol pi trong hỗn hợp ban đầu
= 2.0,15 + 3.0,1 + 1.0,1 = 0,7 mol. Vậy số mol pi dư = 0,7 – 0,25 = 0,45 mol = mol
Br
2
= a. ChọnA
Bài 2: Tiến hành đime hóa 1 mol axetilen thu được hh X. Trộn X với H
2
theo tỉ lệ 1:2
về số mol rồi nung nóng với bột Ni đến phản ứng hoàn toàn thu được hỗn hợp Y. Y
làm mất màu vừa đủ dung dịch chứa 0,15 mol Br
2
. Tính hiệu suất phản ứng đime hóa
= (2 – a) . Do p.ư hoàn toàn nên H
2
hết áp dụng
mol H
2
p.ư = mol pi p.ư = (2 – a) = mol pi ban đầu – mol pi dư
⇒
(1- a).2 + ½ a.3 – (2 - a) = 0,15 ( n
Br
2
= n
pi dư
)
⇒
a = 0,03 .Chọn B
Bài 3 . Hỗn hợp X gồm propenal và hiđro. Cho hỗn hợp X đi qua ống sứ đựng Ni làm
xúc tác đun nóng. Sau khi phản ứng xảy ra hoàn toàn, thu được hỗn hợp Y gồm 3 chất
là propanal, propan-1-ol và propenal. Một mol hỗn hợp Y có khối lượng 57 gam.
Khối lượng của 1 mol hỗn hợp X là
A. 42 gam B. 28 gam C. 34 gam *D. 38 gam
Giải: Bài này có điểm đặc biệt là hh Y có 3 chất đều có 3 nguyên tử C và đều có 1
nguyên tử O nên CT TB là C
3
H
y
O = 57
⇒
y = 5
16
Giả sử mol hh Y = 1 mol
được hỗn hợp Y chỉ chứa 3 hiđrocacbon. Y có tỉ khối so với H
2
là 14,25. Cho Y tác
dụng với dung dịch nước brom dư. Số mol brom phản ứng là
*A. 0,075 B. 0,0225 C. 0,75 D. 0,225
Giải: Cần chú ý 2 chất ban đầu có số nguyên tử H bằng nhau và bằng 2 nên số n
H(X)
=
0,225.2 = 0,45 mol = n
H(Y)
.
CTTB hỗn hợp Y là C
2
H
y
= 28,5 vậy
y
= 4,5
⇒
n
Y
= 0,45 : 4,5 = 0,1 mol ;
Dựa vào công thức TB hh Y là C
2
H
4,5
tính được số liên kết pi TB trong hh Y là 0,75
⇒
số mol pi TB còn trong Y = 0,075 mol = mol Br
2
H
10
= 0,15 mol. Gọi mol 2 xicloankan (C
3
H
6
+ C
4
H
8
) = x
mol.
⇒
n
H
2
= x mol. Vậy khối lượng sau khi trộn H
2 đủ
là = 20,6 + 2x
Áp dụng n
S
= 0,15 + x . Lập pt
S
M
= (20,6 + x) : (0,15 + x) = 52,75
⇒
x = 0,25 mol
⇒
n
T
= n
X
/n
Y
nên Tính được n
Y
= 0,8 mol
⇒
n
H
2
p.ư
= 0,2 mol = số mol pi p.ứ . mặt khác mol pi ban
17
đầu = 0,6 .1 = 0,6 mol
⇒
mol pi dư = 0,4 mol = mol Br
2
trong dd. Vậy nếu lấy 0,1
mol Y thì mol Br
2
= 0,05. Chọn B
Bài 7 : Cho hỗn hợp khí X gồm HCHO, C
2
H
2
và H
2
đi qua ống sứ đựng bột Ni nung
nóng. Sau một thời gian thu được hỗn hợp Y (gồm khí và hơi). Đốt cháy hoàn toàn Y
O
= 0,045 mol
⇒
%V
HCHO trong X
= (0,015 :
0,045).100% = 33,33%. Chọn D.
Bài 8: Hỗn hợp 1 hyđrôcacbon (B) và hyđrô có dư (X
1
) . d
X
1
/H
2
= 4,8.Cho (X
1
) qua
Ni t
0
cao được hỗn hợp (X
2
) , d
X
2
/H
2
= 8 . Công thức của B là
A. C
2
H
H
2n+2 – 2a
)
⇒
n
B
= 0,4/a
⇒
n
H
2
(X
1
)
= (1 – 0,4/a)
Lập pt m
T
= 9,6 = (14n + 2 – 2a). 0,4/a + 2.(1 – 0,4/a)
⇒
n = 1,5a chọn a = 2, n = 3
Chọn C
Bài
9. Hỗn hợp X gồm ankin Y và H
2
có tỷ lệ mol là 1 : 2. Dẫn 13,44 lít hỗn hợp X
(đktc) qua Ni, nung nóng thu được hỗn hợp Z có tỷ khối so với H
2
= 0,4
n
pi dư
= n
Br
2
= 0,2 . Do mol pi ban đầu = 0,2.2 = 0,4 , vậy n
pi p.ư
= 0,2 = n
H
2
p.ư
⇒
n
Z
= 0,6 –
0,2 = 0,4 mol.
⇒
m
sau
= 8,8 gam = m
trước
⇒
8,8 = 0,2.M + 0,4.2
⇒
M ankin = 40 là
C
3
Giải: X có a liên kết pi ; n
Br
2
= 0,2 mol
⇒
mol X = 0,2/a mà mol CO
2
=0,4 mol ta có:
0,2/a.n = 0,4( n là số n.tử C trong X) biện luận ra C
4
H
6
hoặc C
2
H
4
và tính %.chọn C
IV. Bài tập tương tự
Bài 11: Nung nóng hỗn hợp X gồm 0,1 mol axetilen; 0,2 mol xiclopropan; 0,1 mol
etilen và 0,6 mol hidro với xúc tác Ni, sau một thời gian thu được hỗn hợp Y có tỉ
khối so với H2 bằng 12,5. Cho hỗn hợp Y tác dụng với brom dư trong CCl4 thấy có
tối đa a gam brom phản ứng. Giá trị của a là:
*A. 16. B. 8. C. 24. D. 32.
Bài 12: Hh khí X gồm 0,3 mol H
2
và 0,1 mol vinylaxetilen. Nung X một thời gian với
xúc tác Ni thu được hh khí Y có tỉ khối so với không khí là 1. Nếu cho toàn bộ Y sục
từ từ vào dd Brom (dư) thì có m gam brom tham gia phản ứng. Giá trị của m là:
*A. 16,0 B. 8,0 C. 3,2 D. 32,0
Bài 13: Đun nóng hh X gồm 0,1 mol C
cơ. Đốt cháy hết Y thì cần 27,2g O
2
, thu được 12,6 gam H
2
O và 13,44 lít khí CO
2
(ở
đktc). Nếu cho Y tác dụng với dd brom thì số mol brom cần p.ứ là
A. 0,35mol *B. 0,3mol C. 0,2mol D. 0,4mol
Bài 15 : Hỗn hợp X gồm 0,1 mol anđehit metacrylic và 0,3 mol khí hiđro. Nung nóng
hh X một thời gian, có mặt Ni, thu được hh hơi Y gồm hỗn hợp các ancol, các anđehit
và hiđro. Tỉ khối hơi của Y so với He bằng 95/12. Mặt khác dẫn toàn bộ hh Y qua
dung dịch nước Br
2
thì làm mất màu vừa đủ a mol Br2. Giá trị của a là
A. 0,16 mol B. 0,02 mol C. 0,20 mol *D. 0,04 mol
19
Bài 16: Hỗn hợp X gồm hiđro, propen, propanal, ancol alylic. Đốt 1 mol hỗn hợp X
thu được 40,32 lít CO2 (đktc). Đun X với bột Ni một thời gian thu được hỗn hợp Y có
tỉ khối so với X là 1,25. hỗn hợp Y tác dụng vừa đủ với V lít dung dịch Br2 0,2M.
Giá trị của V là
*A. 2 lít B. 0,2 lit C. 3 lít D. 0,3 lit
Bài 17: Trộn 1 thể tích H
2
với 1 thể tích anken thu được hỗn hợp X. tỷ khối của X so
với H
2
là 7,5. Cho X qua ống có Ni đun nóng, thu được hỗn hợp Y, có tỉ khối so với
H
2
*C.C
4
H
8
D.C
6
H
12
PHẦN III. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
I. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
Qua thực tế giảng dạy nhiều năm tôi đã chắt lọc, biên soạn và đúc rút ra những vấn
đề hết sức cơ bản và cần thiết (phần nội dung) của dạng bài tập “ Hỗn hợp các hợp
chất hữu cơ không cùng dãy đồng đẳng” để cung cấp cho học sinh, nhằm giúp cho
học sinh có được cái nhìn tổng quát và lối tư duy sáng tạo trong việc giải bài tập mang
tính chất tổng hợp như trên. Việc phân chia thành các dạng cụ thể giúp học sinh sát
với bài toán hơn, đồng thời với mỗi dạng tôi đã đưa đặc điểm nhận dạng bài toán và
phương pháp giải phù hợp, việc làm này tôi thấy rất hiệu quả, nó đã làm tăng độ nhạy
20
về kĩ năng nhận dạng và giải bài tập cho học sinh, tạo ra sự tự tin, làm bài nhanh và
chính xác. Có thể nói sau khi học sinh được cung cấp các kinh nghiệm trên và được
luyện tập qua các ví dụ minh họa , hầu hết các em đã hoàn toàn chủ động làm tốt dạng
bài tập “ Hỗn hợp các hợp chất hữu cơ không cùng dãy đồng đẳng” . Bản sáng
kiến kinh nghiệm này tôi đã và đang tiếp tục ứng dụng nó để giảng dạy tại trường học
THPT cho học sinh, đặc biệt cho đối tượng học sinh ôn thi vào đại học, cao đẳng
Qua thời gian ứng dụng tôi thấy kết quả rất khả quan đó là:
- Đa số học sinh nắm vững hơn về kiến thức cơ bản hợp chất hữu cơ
- Nâng cao được kĩ năng làm bài tập, tạo ra phản xạ nhanh nhạy khi giải quyết bài tập
hóa học nói chung và dạng bài tập “ Hỗn hợp các hợp chất hữu cơ không cùng dãy
đồng đẳng” nói riêng, tạo điều kiện cho học sinh phát huy tính tích cực học tập, óc
sáng tạo và say mê tìm tòi kiến thức, sự tự tin trong việc giải bài tập hóa học.
Điểm
kém ( <
3,5)
số
lượng, %
12A10 45 2 – 4,5% 7 – 15,5% 27 – 60% 9 – 20% 0
12A2 44 18 – 41% 24 – 54,5% 2 – 4,5% 0 0
12A3 45 16 – 35,6 23 – 51,1% 6 – 13,3% 0 0
II. BÀI HỌC KINH NGHIỆM
21
1. Khi rèn luyện kĩ năng giải bài tập cho học sinh không riêng gì dạng bài tập “ Hỗn
hợp các hợp chất hữu cơ không cùng dãy đồng đẳng” mà tất cả các dạng bài tập
nói chung, khi giảng dạy giáo viên phải chắt lọc, xây dựng được hệ thống kiến thức áp
dụng cần thiết cung cấp cho học sinh, xây dựng và hướng dẫn phương pháp vận dụng
kiến thức hợp lí của từng dạng qua các bài tập mẫu, chuẩn bị hệ thống bài luyện tập
cần thiết để thông qua đó rèn luyện kỹ năng vận dụng và giải nhanh bài tập.
2. Khi học sinh đã nắm bắt được kiến thức và phương pháp làm bài thì tự bản thân
học sinh sẽ rất hứng thú trong học tập, sẽ kích thích tính say mê tìm tòi, óc sáng tạo
chắc chắn sẽ nâng cao chất lượng môn học.
Như vậy cho thấy việc rèn luyện kĩ năng giải bài tập trắc nghiệm dạng “ Hỗn hợp
các hợp chất hữu cơ không cùng dãy đồng đẳng” như trên là cần thiết và đúng
đắn. Dư luận chung của học sinh là đều rất hoan nghênh và đánh giá tốt khi được rèn
luyện kĩ năng giải bài tập theo phương pháp trên. Vì vậy tôi đã mạnh dạn nêu lên
những cố gắng về suy nghĩ và việc làm của mình trong thời gian qua. Tuy nhiên đây
mới chỉ là suy nghĩ của riêng cá nhân tôi, vả lại khi viết và trình bày sáng kiến khuôn
khổ có gới hạn nên phần bài luyện tập đưa vào sáng kiến còn ít so với thực tế luyện
tập, có những bài mang tính tương tự tôi chỉ đưa đáp án không cho phép trình bày
phần lời giải hay gợi ý, thời gian còn eo hẹp do đó không tránh khỏi những sai xót
và hạn chế mà bản thân tôi chưa nhìn ra . Tôi rất mong các đồng nghiệp cùng các em
học sinh góp ý xây dựng thêm cho bản sáng kiến kinh nghiệm của tôi, để bản sáng