chế tạo và nghiên cứu các tính chất vật lý của kim loại bạc có cấu trúc nanô - Pdf 14

MỞ ĐẦU
Cách đây hàng trăm năm, các nhà khoa học thế giới đã chứng minh được bạc
có tính năng diệt khuẩn. Các đồ dùng ăn uống làm bằng bạc được sử dụng trong
giới hoàng tộc, vua chúa để khử độc và chống bệnh ung thư. Nhà sinh vật học
Robert O.Becker, tác giả của cuốn The Body Electric (năm 1970) cho rằng nếu hàm
lượng bạc trong cơ thể người thấp hơn mức chuẩn sẽ làm giảm khả năng miễn dịch.
Tổ chức FDA của Mỹ công nhận rằng bạc là kháng sinh tự nhiên và không có tác
dụng phụ. Bạc hạn chế sự trao đổi chất và sự sinh sản của vi khuẩn cũng như phá vỡ
màng tế bào của gần 650 loại vi khuẩn gây hại.
Trong những năm gần đây, vật liệu nanô đã được sử dụng trong nhiều ứng
dụng dân dụng và thương mại. Những vật liệu này có các tính chất hóa học và vật lý
vượt trội so với những vật liệu thông thường do kích thước của chúng rất nhỏ và
diện tích bề mặt rất lớn. Trong số những vật liệu nanô đó, Ag nanô đã và đang thu
hút nhiều sự quan tâm nghiên cứu do những ứng dụng tuyệt vời của nó trong các
lĩnh vực như: diệt khuẩn và khử trùng, chất khử mùi, mĩ phẩm, dệt, chất xúc tác,
cảm biến, vật liệu phức hợp nanô [10], [11], [13], [19].
Kỹ thuật nanô là kỹ thuật phân chia các phân tử bạc rất nhỏ đến mức dưới
100 nanômét. Khi ứng dụng bạc cần áp dụng kỹ thuật nanô bởi vì khi bạc ở dạng
khối thì diện tích bề mặt của bạc sẽ nhỏ hơn diện tích bề mặt của miếng bạc đó ở
kích thước nanô. Diện tích bề mặt càng tăng thì hiệu quả của bạc càng lớn. Vì vậy,
khi bạc ở kích thước nanô, tác dụng của bạc tăng lên rất nhiều lần. Tuy nhiên, việc
tạo nên và ổn định phân tử bạc ở dạng nanô vô cùng khó khăn và tốn kém do tính
chất tập hợp và kết dính của các phân tử bạc. Vì vậy, kỹ thuật nanô – poly (sử dụng
chất ổn định là các polyme) là một bước đột phá của công nghệ nanô để chống lại
sự kết dính đó bằng cách bao phủ bề mặt các phân tử bạc bởi chất ổn định, giúp cho
các phân tử bạc ở dạng nanô ổn định.
Nhìn lại quá trình phát triển khoa học và công nghệ thời gian qua, có thể thấy
rằng nghiên cứu về công nghệ nanô ở nước ta rất được coi trọng và nhanh chóng
1
triển khai thực hiện trong cả nước. Từ một vài nhóm các nhà vật lý khởi đầu bằng
các nghiên cứu cơ bản về vật lý nanô, ngày nay chúng ta đã có nhiều tập thể nghiên

trúc nanô xuất phát từ nguồn nguyên liệu ban đầu là AgNO
3
trong công nghiệp bằng
phương pháp vi sóng. Ứng dụng thương mại quan trọng mà hiện nay đã có cơ sở
thực hiện là dùng keo bạc nanô phủ lên các bộ lọc gốm để xử lý nước.
2
Để đạt được mục tiêu đã đề ra, trong luận văn này chúng tôi tập trung giải
quyết các vấn đề sau:
- Tổng hợp keo Ag có cấu trúc nanô bằng phương pháp vi sóng sử dụng chất
ổn định là PVP và SiO
2
theo thời gian chiếu xạ vi sóng và theo tỉ số mol của
PVP/AgNO
3
và SiO
2
/AgNO
3
. Khảo sát đặc trưng, tính chất và hình dạng, kích
thước của Ag nanô.
- Chế tạo bộ lọc gốm xử lý nước bằng hỗn hợp đất sét – vỏ trấu có phủ keo
Ag nanô. Kiểm tra khả năng diệt khuẩn E.Coli của Ag nanô.
3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN LÝ THUYẾT
1.1. Giới thiệu về Ag kích thước nanô
Ag tinh khiết (dạng khối) là một kim loại màu trắng, mềm, rất dễ dát mỏng,
kết tinh thành hình lập phương và hình tám mặt. Ag tồn tại trong tự nhiên ở nhiều
dạng khác nhau, phổ biến nhất là ở dạng khoáng quặng Argentine (đá bạc) Ag
2

, Ag
3+
(không ổn định)
0,03 – 0,9 mg/kg
0,04 µg/kg
0,13 µg/kg
6 µg/kg
0,01 – 0,5 mg/kg
1,1 mg/kg (trong xương)
< 2,7 µg/l (trong máu)
< 32 ng/g (trong gan)
Ag ở kích thước nanômét tồn tại ở nhiều dạng cấu trúc (Hình 1.1), tùy thuộc
vào các điều kiện hình thành cấu trúc Ag nanô như: nguyên liệu ban đầu, các dung
môi để khử các ion Ag
+
, các chất ổn định, các hạt kim loại thêm vào và thời gian
thực hiện phản ứng [4].
4
Hình 1.1. Các dạng cấu trúc của Ag nanô.
Hình 1.1 là các dạng cấu trúc của Ag nanô:
+ Thanh nanô, dây nanô (nanorod, nanowire) (Hình 1.1 a) .
+ Tấm nanô, đĩa nanô (nanosheet, nanoplate) (Hình 1.1 b).
+ Hạt nanô hình cầu, tinh thể nanô lập phương (spherical nanoparticle, cubic
nanocrystal) (Hình 1.1 c).
1.2. Cơ chế hình thành cấu trúc Ag nanô
Cơ chế hình thành cấu trúc Ag nanô bằng phương pháp vi sóng khi có mặt
của chất ổn định PVP và các hạt kim loại thêm vào được mô tả ở hình 1.2. Các kim
loại thêm vào như Pt (trong dung dịch H
2
PtCl

hình thành do sự trải rộng ra của các lớp ABCABC (có cấu trúc lập phương tâm
mặt) theo ba phương <110>, PVP gắn vào các mặt {111}. Như vậy quá trình tham
gia có tính lọc lựa của PVP không chỉ xuất hiện ở các mặt {100} (có năng lượng bề
mặt thấp), mà còn xuất hiện ở các mặt {111} (có năng lượng bề mặt thấp nhất). Quá
Hình 1.2. Cơ chế hình thành cấu trúc Ag nanô.
6
trình này phụ thuộc vào hình dạng của sản phẩm và các điều kiện thí nghiệm. Khi
đó sự kết tinh của các hạt hình cầu rất thấp.
Cơ chế hình thành các hạt nanô hình cầu và tinh thể nanô lập phương (sản
phẩm nanô ba chiều): khi các khối 10 mặt phát triển thành các thanh và dây nanô
thì các mặt {111} được giữ lại như 10 bề mặt mầm. Trong khi đó 5 mặt bên {100}
bị khử đi do sự ưu tiên hấp thụ của PVP đối với các mặt {100}. Khi nồng độ PVP
thấp, các mặt {111} không bị bao phủ, vì thế các thanh và dây nanô mọc trên các
khối 10 mặt. Khi nồng độ PVP cao, PVP sẽ bao phủ đầy bề mặt các hạt mầm của
cấu trúc “vỏ – lõi”, chính vì vậy mà các hạt hình cầu và các tinh thể lập phương có
đối xứng cao sẽ được ưu tiên hình thành.
Như vậy, hình dạng và kích thước của các cấu trúc nanô Ag phụ thuộc mạnh
vào các thông số thực nghiệm như: nồng độ nguồn nguyên liệu ban đầu, nồng độ
chất ổn định PVP, nồng độ hạt kim loại thêm vào và thời gian cấp nhiệt của phản
ứng. Khi nồng độ PVP thấp và nồng độ hạt kim loại thêm vào vừa phải, có sự ưu
tiên hình thành cấu trúc thanh và dây nanô. Khi nồng độ PVP cao hoặc nồng độ hạt
kim loại thêm vào thấp, có sự ưu tiên hình thành các tinh thể nanô có cấu trúc lập
phương. Ở thời gian cấp nhiệt trên 3 phút, có sự ưu tiên hình thành các thanh và dây
nanô và các đơn tinh thể lập phương do có sự ưu tiên hấp phụ của PVP xuất hiện ở
các mặt {100}. Ở thời gian cấp nhiệt ngắn, có sự ưu tiên hình thành của các tấm
nanô do có sự ưu tiên hấp phụ của PVP xảy ra ở các mặt {111}.
1.3. Ứng dụng của Ag nanô
Mặc dù việc sử dụng Ag để tiệt trùng đã được biết đến cách đây hơn 5000
năm, nhưng mãi đến năm 1893 các nghiên cứu ở Thụy Sĩ mới chứng tỏ được rằng
các ion Ag

polyme và các ion kim loại đã được thực hiện [10].
Hình 1.3. Khi kích thước hạt được phân chia rất nhỏ
thì diện tích bề mặt hạt tăng lên rất lớn.
8
Như vậy có thể nói rằng sản phẩm ứng dụng từ Ag nanô là sản phẩm có tính
thương mại nhất trong số các vật liệu ứng dụng khác, rất dễ tìm thấy trong nhiều
lĩnh vực ứng dụng. Các sản phẩm này có liên quan mật thiết đến đời sống hằng
ngày. Đây còn là vật liệu ưu việt cho sức khỏe con người và môi trường.
Tình trạng nguồn nước bị nhiễm bẩn đã đến mức báo động trầm trọng không
chỉ đối với các nguồn nước tự nhiên mà còn cả nguồn nước sinh hoạt hằng ngày.
Nước là môi trường thuận lợi phát sinh của nhiều mầm bệnh. Sự có mặt của các vi
sinh vật là dấu hiệu của nguồn nước bị nhiễm bẩn. Ở nhiều quốc gia, trong đó có
Việt Nam, hơn 80% các căn bệnh có nguyên nhân do nguồn nước sinh hoạt bị
nhiễm khuẩn. Việc tiêu diệt và ngăn ngừa các mầm bệnh vi sinh trong nước sinh
hoạt đóng vai trò quan trọng trong vấn đề xử lí nước [10].
Các hạt nanô có kích thước rất nhỏ với diện tích bề mặt rất lớn nên có tính
phản ứng rất cao. Đặc tính ưu việt của kim loại bạc có cấu trúc nanô là khả năng
diệt khuẩn rất tốt. Chính vì vậy, việc chế tạo kim loại bạc có cấu trúc nanô để xử lí
nước là rất cần thiết.
Chính vì vậy trong luận văn này chúng tôi đã ứng dụng keo Ag nanô tổng
hợp được để xử lý nước bằng bộ lọc gốm có phủ keo Ag nanô.
1.4. Tình hình nghiên cứu Ag nanô
Ứng dụng của Ag nanô đã được biết đến từ rất lâu nhưng việc chế tạo Ag
nanô chỉ mới được tập trung nghiên cứu bắt đầu từ những năm 90, đặc biệt là vào
những năm đầu của thế kỉ 21.
Theo Kirti Patel và các cộng sự, các hạt Ag nanô có kích thước trung bình từ
15 đến 30 nm, có dạng đa diện với cấu trúc lập phương tâm mặt được tổng hợp từ
nguồn nguyên liệu ban đầu là AgNO
3
, sử dụng dung môi là ethylene glycol và

2
SO
4
, với sự có mặt của axit behenic C
21
H
43
COOH và
cloroform CHCl
3
, thu được màng Ag nanô dày khoảng 9 nm [20].
Như vậy, những phương pháp tổng hợp Ag nanô kể trên đều có nhược điểm
là đi từ các chất đắt tiền, ít phổ biến trên thị trường, thiết bị để tổng hợp trong điều
kiện ở trường Đại học Khoa học Huế không thể đáp ứng được. Trong luận văn này,
chúng tôi tổng hợp vật liệu Ag kích thước nanô bằng phương pháp vi sóng, sử dụng
chất ổn định mới là SiO
2
.
1.5. Các phương pháp tổng hợp Ag nanô
Có rất nhiều phương pháp được sử dụng để chế tạo Ag nanô như: phương
pháp siêu âm, vi sóng, thủy nhiệt, sol-gel, khử điện hóa và quang hóa, chiếu xạ tia γ
và tia điện tử, lắng đọng bằng xung laser, lắng đọng hơi hóa học
Trong phần này, chúng tôi chỉ trình bày một số phương pháp chế tạo Ag
nanô như: phương pháp siêu âm, phương pháp thủy nhiệt và phương pháp vi sóng.
Đây cũng là các phương pháp chủ yếu của công nghệ nanô.
10
1.5.1. Phương pháp siêu âm
Phương pháp siêu âm bắt nguồn từ siêu âm hóa học (sonochemistry). Đó là
sự tác động trực tiếp của sóng siêu âm trong hóa học, có tác dụng hỗ trợ cho phản
ứng hóa học. Phản ứng hóa học xảy ra dưới tác dụng của sóng siêu âm gọi là hóa

nổ ép vào của các vi bọt khí cũng giống như quá trình trên. Các hạt bị cắt gọt và bào
mòn đẳng hướng, do đó kết quả thu được các hạt có dạng hình cầu có kích thước bé
hơn. Kích thước của hạt phụ thuộc nhiều vào môi trường truyền sóng cũng như
công suất của đầu phát siêu âm.
1.5.2. Phương pháp thủy nhiệt
Ngày nay phương pháp thủy nhiệt được rất nhiều nhà nghiên cứu sử dụng để
chế tạo các vật liệu có cấu trúc nanô. Trong vài năm gần đây, người ta đã đưa ra
định nghĩa đầy đủ về phương pháp thủy nhiệt như sau: “thủy nhiệt là sự tiến hành
các phản ứng hóa học với sự có mặt của một dung môi (có thể là nước) trong một
hệ kín ở điều kiện trên nhiệt độ phòng và áp suất lớn hơn 1atm”. Bởi vì thủy nhiệt
có những đặc tính vật lý đặc biệt có thể làm cho rất nhiều phản ứng xảy ra đồng thời
trong dung môi nên được sử dụng trong các lĩnh vực như: tổng hợp những vật liệu
phức tạp, chế tạo vật liệu có cấu trúc nanô, tách kim loại ra khỏi quặng…
12
Phương pháp thủy nhiệt dựa trên sự phản ứng của các pha không đồng nhất
đối với các tinh thể khan tại nhiệt độ và áp suất cao ngay trong dung dịch. Về
nguyên tắc, phản ứng thủy nhiệt chỉ xuất hiện trong các mẫu dung dịch chất lỏng.
Lý thuyết của phản ứng thuỷ nhiệt dựa trên các quá trình gắn với trạng thái cân
bằng hóa học, động học phản ứng và tính chất nhiệt động lực của hệ trong điều kiện
thủy nhiệt. Như vậy, phương pháp thuỷ nhiệt thực chất là việc tiến hành các phản
ứng hoá học của dung dịch trong điều kiện nhiệt độ, áp suất cao.
Ưu thế đặc biệt của phương pháp này là giá thành của việc trang bị máy móc
và vật liệu ban đầu thấp. Tuy nhiên, để có được một thiết bị vừa chịu được nhiệt độ
cao và áp suất lớn không phải là đơn giản đối với mọi phòng thí nghiệm. Hạn chế
cơ bản nhất của phương pháp thuỷ nhiệt là thời gian phản ứng thường phải rất dài,
hiệu suất phản ứng phụ thuộc vào nhiều điều kiện.
Trong thời gian gần đây, các nhà nghiên cứu đã nâng cao hiệu quả của các
phản ứng thủy nhiệt bằng cách kết hợp phương pháp thủy nhiệt với phương pháp vi
sóng và phương pháp siêu âm.
Phương pháp thủy nhiệt – vi sóng đặc biệt được sử dụng trong việc tổng hợp

nghiên cứu. Để thực hiện quá trình tổng hợp theo phương pháp vi sóng, lò vi sóng
gia dụng được thiết kế lại như sau: mặt trên của lò có khoan một lỗ đường kính 40
mm để lắp hệ thống hồi lưu nhằm mục đích duy trì thể tích của dung dịch, tức là giữ
nguyên nồng độ dung dịch trong quá trình phản ứng. Phần dưới của ống sinh hàn
được bọc bằng một vòng thép đường kính trong 38 mm nhằm tránh hiện tượng rò rỉ
sóng, không an toàn cho người sử dụng.
Trong luận văn, chúng tôi sử dụng lò vi sóng gia dụng hiệu National, có công
suất cực đại là 500W, có tần số làm việc là 2,45 GHz để tổng hợp keo Ag nanô
được mô tả như hình vẽ:
14
Hình 1.6. Mô hình tổng hợp Ag nanô theo phương pháp vi sóng.
1.6. Các phương pháp nghiên cứu tính chất vật liệu
1.6.1. Phương pháp hiển vi điện tử quét và hiển vi điện tử truyền qua
Phương pháp hiển vi điện tử quét và và hiển vi điện tử truyền qua đều sử
dụng chùm tia điện tử để tạo mẫu nghiên cứu. Khi chùm điện tử có cường độ I
0
đập
vào mẫu nghiên cứu sẽ phát ra các chùm điện tử phản xạ có cường độ I
2
và các
chùm điện tử truyền qua có cường độ I
1
như hình vẽ:
Hình 1.7. Nguyên tắc chung của phương pháp hiển vi điện tử.
Các điện tử phản xạ và truyền qua này được sau khi đi qua điện thế gia tốc
vào phần thu và biến đổi thành tín hiệu ánh sáng. Tín hiệu này được khuyếch đại rồi
đưa vào mạch điều khiển để tạo độ sáng trên màn ảnh. Mỗi điểm trên mẫu cho một
15
Bình phản ứng
Máy khuấy từ

+ n : obitan không liên kết.
+ л : obitan liên kết л.
+ л* : obitan л phản liên kết.
+ б : obitan liên kết б.
+ б* : obitan б phản liên kết.
Khi bị kích thích bởi các bức xạ điện từ, các điện tử sẽ nhảy lên các obitan có
mức năng lượng cao hơn. Các bước nhảy có thể là: n → л*, n → б*, б → б*, л →
л*.
Các bước nhảy б → б* cần năng lượng lớn nhất, tức là ánh sáng kích thích
có bước sóng ngắn nhất. Các bước nhảy л → л* cần năng lượng nhỏ hơn, do đó
ánh sáng kích thích có bước sóng lớn hơn. Các electron tự do n có thể nhảy sang л*
hay б*, nhưng rõ ràng bước nhảy n → л* cần năng lượng nhỏ nhất và do đó ánh
sáng kích thích có bước sóng lớn nhất.
Phương pháp phổ hấp thụ UV – Vis được sử dụng rất thuận lợi và phổ biến
để phân tích các hợp chất và hỗn hợp. Phương pháp này được gọi là phương pháp
phân tích trắc quang. Cơ sở của phương pháp này là dựa vào định luật Lambert –
Beer có phương trình hấp thụ bức xạ như sau:
0
I
A log lc
I
ε
= =
17
π
σ
σ
Trong đó: A là độ hấp thụ ánh sáng; I
o
, I lần lượt là cường độ bức xạ điện từ

9
NO)
n
, được dùng làm chất ổn định.
Hình 2.1 mô tả công thức cấu tạo của PVP.
Vai trò của dung môi khử ethylene glycol: dưới tác dụng của vi sóng, nhiệt
được sinh ra do sự tương tác giữa mômen lưỡng cực của các phân tử với sóng điện
từ ở tần số cao. Ta biết rằng ethylene glycol có mômen lưỡng cực mạnh so với các
dung môi khác nên ethylene glycol được xem như là dung môi thích hợp nhất đối
với các quá trình cấp nhiệt bằng vi sóng [6].
Cơ chế của quá trình khử kim loại Ag trong ethylene glycol được biểu diễn
bởi các phương trình:
CH
2
OH – CH
2
OH → CH
3
CHO + H
2
O
2CH
3
CHO + 2Ag
+
→ 2Ag
0
+ 2H
+
+ CH

Hòa tan 0,0051 g muối AgNO
3
vào 30 ml nước thu được 30 ml dung dịch
AgNO
3
nồng độ 1 mM.
Khuấy đều 0,0167 g PVP trong 30 ml dung môi EG bằng máy khuấy từ
trong thời gian 1 phút thu được 30 ml dung dịch PVP/EG nồng độ 5 mM.
Hòa trộn 30 ml dung dịch PVP/EG 5 mM vào 30 ml dung dịch AgNO
3
1 mM
theo tỉ lệ 1:1. Khuấy đều bằng máy khuấy từ trong khoảng vài giây thu được hỗn
hợp 60ml AgNO
3
/PVP/EG. Sau đó chia làm 3 mẫu, mỗi mẫu chứa hỗn hợp 20 ml
AgNO
3
/PVP/EG.
20
Lần lượt cho từng mẫu vào lò vi sóng (Lò vi sóng được đặt ở chế độ cấp
nhiệt công suất 400 W) rồi chiếu xạ vi sóng ở thời gian lần lượt là 1,5 phút; 3 phút
và 5 phút. Thu được keo Ag nanô có màu vàng tươi đặc trưng.
2.2.2. Khảo sát theo tỉ số mol của PVP/AgNO
3
Gọi tỉ số mol của PVP/AgNO
3

3
PVP
AgNO

được keo Ag nanô có màu vàng tươi đặc trưng.
2.3. Tổng hợp keo Ag nanô bằng phương pháp vi sóng dùng chất ổn định là
SiO
2
2.3.1. Khảo sát theo thời gian chiếu xạ vi sóng
Hòa tan 0,0051 g muối AgNO
3
vào 30 ml nước, được 30 ml dung dịch
AgNO
3
nồng độ 1 mM.
Khuấy đều 0,036 g SiO
2
trong 30 ml dung môi EG bằng máy khuấy từ trong
thời gian 1 phút, được 30 ml dung dịch SiO
2
/EG nồng độ 20 mM.
21
Hòa trộn 30 ml dung dịch SiO
2
/EG 20 mM vào 30 ml dung dịch AgNO
3
1
mM theo tỉ lệ 1:1 và khuấy đều bằng máy khuấy từ trong khoảng vài giây, được hỗn
hợp 60ml AgNO
3
/SiO
2
/EG. Sau đó chia làm 3 mẫu, mỗi mẫu chứa hỗn hợp 20 ml
AgNO

nồng độ 1 mM.
Khuấy đều 0,048 g SiO
2
trong 20 ml dung môi EG bằng máy khuấy từ trong
thời gian 1 phút, được 20 ml dung dịch SiO
2
/EG nồng độ 40 mM. Chia đôi 20 ml
dung dịch này, được mỗi dung dịch 10 ml. Thêm 10 ml dung môi EG vào 10 ml
dung dịch SiO
2
/EG 40 mM, được 20 ml dung dịch SiO
2
/EG nồng độ 20 mM. Cứ
như thế chia đôi 20 ml dung dịch này, rồi lại thêm 10 ml dung môi EG vào sẽ thu
được 4 mẫu, mỗi mẫu chứa 10 ml dung dịch SiO
2
/EG có nồng độ lần lượt là 40
mM; 20 mM; 10 mM và 5mM.
Hòa trộn từng 10 ml dung dịch AgNO
3
1 mM vào 4 mẫu chứa dung dịch
SiO
2
/EG có nồng độ như trên theo tỉ lệ 1:1 và khuấy đều bằng máy khuấy từ trong
khoảng vài giây, được 4 mẫu chứa hỗn hợp 20 ml AgNO
3
/SiO
2
/EG có tỉ số mol
SiO

nguồn nước, nguồn nguyên liệu sẵn có và cả chi phí mà chọn lựa phương pháp xử
lý nước thích hợp nhất, hoặc kết hợp các phương pháp lại với nhau [15]. Trong luận
văn này chúng tôi chọn phương pháp xử lý nước bằng bộ lọc gốm làm từ hỗn hợp
đất sét và vỏ trấu, được phủ bằng keo Ag nano tổng hợp được.
2.4.1. Chuẩn bị nguyên vật liệu
- Đất sét được phơi khô rồi nghiền nhỏ (Hình 2.2).
- Vỏ trấu được sấy khô rồi xay nhỏ (Hình 2.3).
23
2.4.2. Tạo bộ lọc gốm
Trộn đất sét và vỏ trấu lại với nhau theo tỉ lệ cần thiết tùy theo yêu cầu về tốc
độ chảy của bộ lọc (Bảng 2.1).
Hình 2.2. Đất sét được phơi khô rồi nghiền nhỏ.
Hình 2.3. Vỏ trấu được sấy khô rồi xay nhỏ.
24
Bảng 2.1. Tỉ lệ đất sét – vỏ trấu và tốc độ chảy tương ứng của bộ lọc.
Tỉ lệ đất sét – vỏ trấu (% khối lượng) Tốc độ chảy (ml/giờ)
80 % - 20 %
70 % - 30 %
60 % - 40 %
50 % - 50 %
600
960
1800
3900
Để bộ lọc gốm có độ bền cơ học cao, có tốc độ chảy vừa phải, tỉ lệ 70 % đất
sét – 30 % vỏ trấu đã được chọn để tạo bộ lọc gốm.
Trộn thật nhuyễn hỗn hợp đất sét và vỏ trấu với nước. Sau đó ép định hình
hỗn hợp này thành bộ lọc có dạng đĩa tròn và dạng bình nhỏ (như cốc đựng nước)
bằng máy ép thủy lực với lực ép 2 tấn/cm
2


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status