Khảo sát tiềm năng sử dụng phế phẩm nông nghiệp làm nguồn nhiên liệu sản xuất điện tại tỉnh Đồng Tháp
MỤC LỤC
i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
LỜI MỞ ĐẦU 1
MỞ ĐẦU 2
1. Lý do chọn đề tài 2
2. Mục đích của đề tài 2
3. Nội dung của đề tài 2
4 Giới hạn của đề tài 2
5 Phương pháp thực hiện 3
5.1 Phương pháp thu thập tài liệu 3
5.2 Phương pháp điều tra khảo sát 3
5.3 Phương pháp tham vấn ý kiến cộng đồng 3
5.4 Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia 3
5.5 Phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá 3
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ PHẾ PHẨM NÔNG NGHIỆP 4
1.1 Định nghĩa về phế phẩm nông nghiệp 4
1.2 Nguồn gốc phát sinh phế phẩm nông nghiệp 4
1.3 Phân loại phế phẩm nông nghiệp 4
1.3.1 Bã nông nghiệp 4
1.3.2 Chất thải từ chăn nuôi gia súc 5
1.4 Thu gom, xử lý và tái chế phế phẩm nông nghiệp 5
1.5 Tổng quan về rơm rạ 6
1.5.1 Nguồn gốc của rơm rạ 6
1.5.2 Hiện trạng rơm rạ tại Việt Nam 8
1.5.3 Ứng dụng của rơm rạ hiện nay 9
1.5.3.1 Sử dụng rơm rạ trồng nấm 9
1.5.3.2 Sử dụng rơm rạ làm phân hữu cơ 10
2.2.1.1 Quy mô và sự phân bố 50
2.2.1.2 Cơ cấu dân số 51
2.2.2Kinh tế 52
2.2.2.2 Nông nghiệp-nông thôn 53
2.2.2.3 Công nghiệp xây dựng 55
2.2.3 Văn hóa - xã hội 58
2.2.3.1 Giáo dục đào tạo 58
2.2.3.2 Y tế 58
GVHD: TH.S Trần Thị Tường Vân ii SVTH: Nguyễn Thị Xuân Duyên
Khảo sát tiềm năng sử dụng phế phẩm nông nghiệp làm nguồn nhiên liệu sản xuất điện tại tỉnh Đồng Tháp
2.2.3.3 Chính sách xã hội 59
2.2.3.4 Quốc phòng an ninh 59
2.3 Hiện trạng cơ sở hạ tầng 60
2.3.1 Hệ thống giao thông 60
2.3.2 Hệ thống cấp thoát nước 61
2.3.3 Hệ thống cung cấp điện 61
2.4.1.1 Chất thải sinh hoạt 62
2.4.1.2 Chất thải công nghiệp 62
2.4.1.3 Chất thải y tế 62
2.4.2 Nước thải 62
2.4.2.1 Nước thải sinh hoạt 62
2.4.2.2 Nước thải sản xuất 62
2.4.3 Không khí 63
CHƯƠNG III KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG PHẾ PHẨM NÔNG NGHIỆP TẠI TỈNH
ĐỒNG THÁP 63
3.1 Nội dung và phương pháp khảo sát 64
3.1.1 Nội dung khảo sát 64
3.1.2 Địa điểm khảo sát 65
3.1.3 Số mẫu khảo sát 66
3.1.4 Phương pháp khảo sát 67
4.6.1 Cơ sở đề xuất mô hình 94
4.6.1.1 Khả năng tạo ra điện của vỏ trấu 94
4.6.1.2 Nhu cầu dùng điện của người dân và khả năng cung cấp điện của điện lưới quốc gia.
98
4.6.1.3 Lợi ích kinh tế 99
4.6.1.4 Yếu tố môi trường 99
4.6.1.5 Lợi thế của địa phương 100
4.6.2Các bước thực hiện mô hình 100
4.6.2.2 Xác định nơi đặt nhà máy 101
4.6.2.3 Xác định công suất nhà máy 101
4.6.2.4 Công nghệ sử dụng trong nhà máy 101
4.6.2.5 Tìm nguồn nhiên liệu cho nhà máy 102
4.6.2.6 Giảm phí vận chuyển và kho bãi 102
4.6.3 Các biện pháp hỗ trợ 103
4.6.3.1 Cơ quan Nhà Nước 103
4.6.3.2 Hỗ trợ của Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh 104
4.6.3.3 Hỗ trợ của các Sở ban Ngành liên quan 104
4.6.3.4 Hỗ trợ từ các nhà chuyên môn, các trường Đại học 104
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 105
KẾT LUẬN 105
GVHD: TH.S Trần Thị Tường Vân iv SVTH: Nguyễn Thị Xuân Duyên
Khảo sát tiềm năng sử dụng phế phẩm nông nghiệp làm nguồn nhiên liệu sản xuất điện tại tỉnh Đồng Tháp
KIẾN NGHỊ 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
- CĐNN & CNSTH : Cơ điện nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch.
- cm : Centimet – đơn vị đo độ dài.
-Cty CP : Công ty cổ phần.
-ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long.
-TP : Thành phố.
-USD : United States dollar- đồng đô la Mỹ.
-V : Vôn – đơn vị đo độ lớn của dòng điện.
-VNĐ : Việt Nam đồng – đơn vị tiền tệ của Việt Nam.
GVHD: TH.S Trần Thị Tường Vân vi SVTH: Nguyễn Thị Xuân Duyên
Khảo sát tiềm năng sử dụng phế phẩm nông nghiệp làm nguồn nhiên liệu sản xuất điện tại tỉnh Đồng Tháp
DANH MỤC BẢNG BIỂU
-Bảng 1.1 Thành phần hóa học của rơm rạ.
- Bảng 1.2 Thành phần tro của rơm rạ.
- Bảng 1.3 Thành phần hóa học của vỏ trấu.
- Bảng 1.4 Chi phí sử dụng các nguồn nguyên liệu năm 2006.
- Bảng 3.1 Thống kê số lượng mẫu khảo sát tại các huyện.
- Bảng 3.2 Thống kê diện tích, sản lượng cây trồng - vật nuôi tại các địa bàn
khảo sát.
- Bảng 3.3 Thống kê lượng phế phẩm từ trồng trọt và chăn nuôi phát thải ra
môi trường.
- Bảng 3.4 : Khối lượng vỏ trấu tại các nhà máy xay xát tại các huyện.
- Bảng 3.5 Thống kê các hình thức sử dụng vỏ trấu tại các địa bàn khảo sát.
- Bảng 3.6 Thống kê các hình thức sử dụng rơm rạ tại các địa bàn khảo sát.
- Bảng 3.7 Thống kê các hình thức sử dụng phân heo tại các địa bàn khảo sát.
- Bảng 3.8 Thống kê số hộ gia đình bị cúp điện với tần suất tương ứng và tỷ lệ %
người dân ủng hộ xây dựng nhà máy điện trấu trên địa bàn khảo sát.
- Bảng 4.1 Khả năng sinh nhiệt của vỏ trấu khi đốt.
- Bảng 4.2 Lượng hơi nước sinh ra từ đốt vỏ trấu.
- Bảng 4.3 Sản lượng điện tạo ra từ vỏ trấu.
GVHD: TH.S Trần Thị Tường Vân vii SVTH: Nguyễn Thị Xuân Duyên
Khảo sát tiềm năng sử dụng phế phẩm nông nghiệp làm nguồn nhiên liệu sản xuất điện tại tỉnh Đồng Tháp
- Bảng 4.4 Nhu cầu tiêu thụ điện và lượng điện cung cấp tại hộ gia đình ở các địa
bàn khảo sát.
- Bảng 4.5 Nhu cầu tiêu thụ điện và lượng điện cung cấp cho nhà máy, xưởng
- Hình 1.26 Mô hình lọc thử nghiệm bằng bã mía.
- Hình 1.27 Bã mía.
- Hình 1.28 Ván ép từ bã mía.
- Hình 1.29 Hệ thống sản xuất điện từ bã mía ở nhà máy đường.
- Hình 1.30 Các mẫu chậu làm từ bã mía.
- Hình 1.31 Quá trình tạo thành biogas.
- Hình 1.32 Hầm biogas được xây dựng trong trại chăn nuôi.
- Hình 1.33 Trộn phân trong khi ủ.
- Hình 1.34 Phân đã ủ xong.
- Hình 1.35 Nuôi heo và cá ở hộ gia đình.
- Hình 1.36 Nuôi heo và cá ở trang trại.
- Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Đồng Tháp.
- Hình 2.2 Biểu đồ nhiệt độ trung bình các tháng trong năm 2010.
- Hình 2.3 Biểu đồ lượng mưa trung bình các tháng trong năm 2010.
- Hình 2.4 Biểu đồ độ ẩm trung bình các tháng trong năm 2010.
GVHD: TH.S Trần Thị Tường Vân ix SVTH: Nguyễn Thị Xuân Duyên
Khảo sát tiềm năng sử dụng phế phẩm nông nghiệp làm nguồn nhiên liệu sản xuất điện tại tỉnh Đồng Tháp
- Hình 2.5 Cây và hoa tràm trong khu du lịch Xẻo Quýt.
- Hình 2.6 Các loài động vật đặc trưng ở Đồng Tháp.
- Hình 2.7 Dân số trung bình tỉnh Đồng tháp phân theo giới tính.
- Hình 3.1 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ các hình thức tái sử dụng vỏ trấu.
- Hình 3.2 Các hình thức sử dụng vỏ trấu tại các địa bàn khảo sát.
- Hình 3.3 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ % các hình thức tái sử dụng rơm rạ.
- Hình 3.4 Các hình thức sử dụng rơm rạ.
- Hình 3.3 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ các hình thức sử dụng bã mía tại ĐBSCL.
- Hình 3.4 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ các hình thức sử dụng phân heo.
- Hình 4.1 Các loại đập thuỷ điện.
- Hình 4.2 Quy trình sản xuất điện của nhà máy nhiệt điện.
- Hình.4.3 Nhà máy nhiệt điện Cà Mau (trái), nhà máy nhiệt điện Cần Thơ (phải).
- Hình 4.4 Sơ đồ cấu tạo lò phản ứng hạt nhân.
GVHD: TH.S Trần Thị Tường Vân 1 SVTH: Nguyễn Thị Xuân Duyên
Khảo sát tiềm năng sử dụng phế phẩm nông nghiệp làm nguồn nhiên liệu sản xuất điện tại tỉnh Đồng Tháp
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Đề tài “Khảo sát tiềm năng sử dụng phế phẩm nông nghiệp làm nguồn nhiên liệu
sản xuất điện tại tỉnh Đồng Tháp” nhằm hướng đến mục tiêu xây dựng mô hình nhà
máy nhiệt điện sử dụng phế phẩm nông nghiệp có giá trị nhiệt lượng cao để tạo ra
nguồn điện, nhằm sử dụng nguồn nhiên liệu này một cách hiệu quả, bền vững, tạo điều
kiện phát triển vùng nông thôn, cũng như cải thiện tình trạng ô nhiễm môi trường do
các phế phẩm này gây ra.
2. Mục đích của đề tài.
Khảo sát tiềm năng sử dụng phế phẩm nông nghiệp làm nguồn nhiên liệu sản xuất
điện tại tỉnh Đồng Tháp.
3. Nội dung của đề tài.
- Tổng quan về phế phẩm nông nghiệp và tình hình sử dụng phế phẩm nông
nghiệp hiện nay.
- Thu thập các dữ liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của tỉnh Đồng Tháp.
- Khảo sát cơ cấu cây trồng vậy nuôi tại tỉnh Đồng Tháp và ước tính lượng phế
phẩm nông nghiệp phát sinh
- Tìm hiểu về các hình thức tái sử dụng phế phẩm nông nghiệp của người dân tại
các địa bàn khảo sát.
- Khảo sát chất lượng dịch vụ cấp điện mà người dân đang sử dụng.
- Phân tích nhu cầu về tiêu thụ điện năng và đề xuất mô hình nhà máy điện trấu
tại tỉnh Đồng Tháp cùng các biệp pháp hỗ trợ.
4 Giới hạn của đề tài.
- Phạm vi khảo sát chỉ tập trung khảo sát 8 huyện trong tổng số 1 thành phố, 2 thị
xã, 9 huyện của tỉnh Đồng Tháp.
- Nội dung khảo sát tập trung vào lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi đặc biệt là trồng
lúa và chăn nuôi heo.
- Các giải pháp đề xuất chỉ tập trung đối với việc tái sử dụng các phế phẩm của
cây lương thực, cây hoa màu, sản xuất hoa quả, thực phẩm, sinh ra từ hoạt động chăn
nuôi, [12].
1.3 Phân loại phế phẩm nông nghiệp.
1.3.1 Bã nông nghiệp.
Chất thải nông nghiệp là các chất dư thừa sau các vụ thu hoạch. Chúng có thể được
thu gom với các thiết bị thu hoạch thông thường cùng lúc hoặc sau khi gặt hái. Các
chất thải nông nghiệp bao gồm thân và lá bắp, rơm rạ, vỏ trấu, mía, Ở một số nơi,
đặc biệt những vùng khô, các chất bã cần phải được giữ lại nhằm bổ sung các chất
dinh dưỡng cho đất cho vụ mùa kế tiếp. Tuy nhiên, đất không thể hấp thu hết tất cả các
chất dinh dưỡng từ cặn bã, các chất bã này không được tận dụng tối đa và bị mục rữa
làm thất thoát năng lượng.
Hình 1.1 Các loại bã nông nghiệp.
GVHD: TH.S Trần Thị Tường Vân 4 SVTH: Nguyễn Thị Xuân Duyên
Vỏ trấu Cùi ngô
Bã mía
Rơm rạ
Khảo sát tiềm năng sử dụng phế phẩm nông nghiệp làm nguồn nhiên liệu sản xuất điện tại tỉnh Đồng Tháp
1.3.2 Chất thải từ chăn nuôi gia súc.
Chất thải từ chăn nuôi gia súc, như phân trâu, bò, heo và gà, có thể được chuyển
thành gas hoặc đốt trực tiếp nhằm cung cấp nhiệt và sản xuất năng lượng. Phần lớn
phân gia súc có hàm lượng methane khá cao nên các bánh phân được dùng như nhiên
liệu cho việc nấu nướng. Tuy vậy, phương pháp này khá nguy hiểm vì các chất độc
hại sinh ra từ việc đốt phân là nguy hại đối với sức khỏe người tiêu dùng, là nguyên
nhân gây ra 1,6 triệu người chết mỗi năm ở các nước đang phát triển [11]. Các chất
thải gia súc có thể được sử dụng để sản xuất ra nhiều loại sản phẩm và tạo ra điện năng
thông qua các phương pháp tách methane và phân hủy yếm khí.
Để đáp ứng nhu cầu về thực phẩm của con người, ngành chăn nuôi thế giới đã phát
triển rất nhanh và đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Ngành chăn nuôi thế giới hiện
chiếm 70% diện tích đất nông nghiệp và 30% diện tích đất tự nhiên (không kể diện
tích đất bị băng bao phủ). Chăn nuôi đóng góp khoảng 40% tổng GDP nông nghiệp
xuống hồ, ao, sông, suối vừa lãng phí, vừa gây ô nhiễm môi trường. Chỉ một phần
nhỏ trong số đó được sử dụng làm nhiên liệu đốt, thức ăn gia súc, phân bón, còn phần
lớn đổ ra các hồ ao, cống rãnh làm ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường sinh thái.
Việc sử dụng các phế thải nông nghiệp trong sinh hoạt nông thôn ngày càng giảm và
dần dần được thay thế bằng các nguồn nhiên liệu thuận lợi hơn như gas, điện, Trong
khi đó, các cơ sở sản xuất và chế biến nông sản lại cần rất nhiều nguồn năng lượng mà
hiện đang phải sử dụng các nhiên liệu hoá thạch đắt như than, dầu, gas. Vì vậy, việc
nghiên cứu tận dụng phế thải nông nghiệp tạo ra nguồn năng lượng, nguyên vật liệu
phục vụ công nghiệp, xây dựng, đời sống sinh hoạt hàng ngày của người dân là việc
làm hết sức cần thiết và cấp bách hiện nay.
1.5 Tổng quan về rơm rạ.
1.5.1 Nguồn gốc của rơm rạ.
Lúa là một loại cây lượng thực có hạt phổ biến ở Châu Á và Châu Mỹ La Tinh. Cây
lúa khi thu hoạch thì người ta lấy hạt đem sấy khô, tách vỏ lúa ra khỏi hạt. Phần hạt
được sử dụng gọi là hạt gạo, còn phần thân, gốc lúa bị bỏ trực tiếp ngoài đồng được
gọi là rơm rạ. Khi nhắc đến rơm rạ thì đa số những người nông dân đều nghĩ đến rơm
rạ được sử dụng làm thức ăn cho gia súc, dùng để lót chuồng trại, lợp nhà, đốt tạo ra
tro để bón ruộng,
GVHD: TH.S Trần Thị Tường Vân 6 SVTH: Nguyễn Thị Xuân Duyên
Khảo sát tiềm năng sử dụng phế phẩm nông nghiệp làm nguồn nhiên liệu sản xuất điện tại tỉnh Đồng Tháp
Hình 1.2 Gốc rạ. Hình 1.3 Rơm.
Gốc rạ và rơm có chứa nhiều cellulose, lignin, hemicellulose, các hợp chất trich ly,
và nhiều thành phần khác.
Bảng 1.1 Thành phần hóa học của rơm rạ [8].
Những cách thông thường để quản lý rơm ra sau khi thu hoạch bao gồm việc thu về
làm nhiên liệu đun nấu, đốt, rải trên đồng, cày vùi vào đất hoặc sử dụng như là chất
che phủ cho các cây trồng v.v Mỗi cách quản lý khác nhau, về lâu dài, đều ảnh hưởng
đến toàn bộ sự cân bằng và tình trạng dinh dưỡng trong đất. Theo thói quen của người
nông dân thu hoạch xong là đốt đồng. Việc đốt rơm rạ không được khuyến khích vì
nhiều lý do:
của chúng sẽ được sử dụng toàn bộ cho vụ lúa kế tiếp mà chỉ sử dụng một lượng rất
nhỏ, đa số là cần có thời gian để chuyển hóa thành các chất cho cây dễ hấp thụ, nên
chúng sẽ có tác dụng về lâu dài.
Bảng 1.2 Thành phần tro của rơm rạ [8].
Thành phần SiO
2
K Na Các chất khác Tổng
Tỷ lệ % 72,593 2,636 0,369 24,402 100
1.5.2 Hiện trạng rơm rạ tại Việt Nam.
Rơm rạ có mặt ở những cánh đồng lúa chạy dài khắp đất nước nhưng chúng tập
trung chủ yếu ở vùng đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) và đồng bằng sông Cửu Long
(ĐBSCL). Tại những vùng này thì rơm rạ được người nông dân chủ yếu dùng lót
chuồng cho trâu, bò, một số ít được dùng trầm nấm, phần lớn còn lại là đổ bỏ ngoài
đồng, Theo số liệu thống kê thì năm 2010 Việt Nam có khoảng 4 triệu ha đất trồng
lúa, sản lượng năm 2010 là 38 triệu tấn lúa [13]. Theo nghiên cứu của các nhà chuyên
môn thì 1 tấn thóc sẽ tạo ra 1.35 tấn rơm rạ [8]. Điều này có nghĩa là hàng năm nước ta
thải ra khoảng 51 triệu tấn rơm rạ. Nhưng khoảng 50 % được tái sử dụng để trồng
nấm, lót chuồng trại, còn lại là đổ bỏ bừa bãi ngoài đồng, gây ô nhiễm môi trường.
Thói quen của người nông dân là sau khi gặt xong lúa thì sẽ chất rơm thành đống
ngoài đồng rồi đốt cả rơm và gốc rạ. Việc đốt rơm rạ không những gây ô nhiễm môi
trường mà còn lãng phí một lượng rất lớn chất dinh dưỡng mà đất rất cần. Các nhà
khoa học khuyến cáo người nông dân nên vùi rơm rạ vào đất bằng biện pháp cày, xới
để bổ sung dưỡng chất cho đất.
GVHD: TH.S Trần Thị Tường Vân 8 SVTH: Nguyễn Thị Xuân Duyên
Khảo sát tiềm năng sử dụng phế phẩm nông nghiệp làm nguồn nhiên liệu sản xuất điện tại tỉnh Đồng Tháp
Diện tích lúa canh tác ngày càng tăng điều đó đồng nghĩa với việc là phế phẩm từ
trồng lúa cũng tăng theo. ĐBSCL chiếm hơn 50% sản lượng lúa cả nước, và theo ước
tính mỗi năm vựa lúa của miền Nam này tạo ra hơn 26 triệu tấn rơm rạ. Với khối
lượng khổng lồ như vậy thì việc giải quyết nguồn phế phẩm nông nghiệp này không
phải là chuyện một sớm một chiều có thể làm được.
Trong quá trình ủ thì tưới nước vôi lên rơm để diệt nấm tạp, rửa chất phèn, chất mặn
trong rơm. Kế tiếp là chọn meo giống. Khi chọn được loại meo giống chất lượng tốt
thì tiến hành đem rơm đã ủ xếp thành những mô và gieo meo giống dọc hai bên luống.
Sau khoảng 14 - 15 ngày là có thể thu hoạch nấm.
1.5.3.2 Sử dụng rơm rạ làm phân hữu cơ.
Sử dụng rơm rạ làm phân bón hữu cơ cho đất là một trong những biện pháp góp
phần sử dụng bền vững tài nguyên đất đai. Có nhiều phương thức để biến rơm rạ thành
GVHD: TH.S Trần Thị Tường Vân 10 SVTH: Nguyễn Thị Xuân Duyên
Khảo sát tiềm năng sử dụng phế phẩm nông nghiệp làm nguồn nhiên liệu sản xuất điện tại tỉnh Đồng Tháp
phân hữu cơ cung cấp cho đất, nhưng về cơ bản có hai phương thức chính: là vùi trực
tiếp rơm rạ vào đất bằng biện pháp cày, bừa, và đem rơm rạ ủ rồi đem bón cho đất.
Vùi trực tiếp rơm rạ vào đất.
Đây là việc làm trả lại cho đất hầu hết các nguyên tố dinh dưỡng mà cây lúa đã lấy
đi từ đất, nên nó có tác dụng bảo toàn nguồn dự trữ dinh dưỡng của đất về lâu dài. Mặc
dù tác dụng trực tiếp lên năng suất lúa vụ kế tiếp là không lớn. Nếu kết hợp song song
việc bón phân hàng vụ cho lúa cùng với việc vùi rơm rạ vào đất sẽ bảo toàn được dinh
dưỡng N, P, K và S cho lúa, và nhiều khi còn làm tăng được dự trữ dinh dưỡng cho
đồng ruộng. Việc vùi rơm rạ vào đất ướt, sẽ gây ra tình trạng cố định tạm thời của đạm
và làm tăng lượng metan phóng thích trong đất [8], gây ra tình trạng tích luỹ khí nhà
kính. Khi vùi một lượng lớn rơm rạ tươi sẽ rất tốn lao động và cần có những máy móc
thích hợp cho việc làm đất cũng như có thể gây ra những vấn đề về bệnh cây. Việc
trồng trọt chỉ nên bắt đầu sau 2 đến 3 tuần vùi rơm rạ.
Các kết quả nghiên cứu hiện tại cho thấy, cày khô, nông 5 - 10cm để vùi rơm rạ và
tăng cường sự thoáng khí cho đất trong thời kỳ bỏ hoá có tác dụng tốt đến độ phì đất
trong hệ thống thâm canh lúa - lúa. Việc cày khô, nông nên tiến hành sau 2 đến 3 tuần
sau khi thu hoạch ở những cánh đồng mà thời kỳ bỏ hoá khô - ướt giữa 2 vụ lúa tối
thiểu là 30 ngày. [8]. Các lợi ích gồm có:
• Tăng cường sự thoáng khí cho đất, nghĩa là oxy hoá Fe
2+
và những chất khử
động cơ xăng. Diesel sinh học chủ yếu được sản xuất từ dầu thực vật hay mỡ động vật
và được trộn với diesel dùng cho động cơ diesel. Tuy nhiên, nhiên liệu sinh học sản
xuất từ các nguồn này vẫn còn khá đắt. Do đó, việc tìm kiếm các nguồn nguyên liệu rẻ
hơn từ nguồn phế thải để tạo nhiên liệu sinh học là rất cần thiết.
Có nhiều cách phân loại nhiên liệu sinh học (NLSH). Thông thường dựa vào nguồn
gốc của các nguyên liệu dùng để sản xuất NLSH có thể chia NLSH thành ba thế hệ:[8]
• NLSH thế hệ thứ nhất từ các loại cây trồng ăn được như lương thực, thực phẩm,
ví dụ: mía, của cải, ngũ cốc, dầu mỡ động thực vật. Nhược điểm cơ bản là đã sử
dụng những nguồn tài nguyên sinh khối liên quan đến lương thực dẫn đến mất
an ninh lương thực trên thế giới.
GVHD: TH.S Trần Thị Tường Vân 12 SVTH: Nguyễn Thị Xuân Duyên
Khảo sát tiềm năng sử dụng phế phẩm nông nghiệp làm nguồn nhiên liệu sản xuất điện tại tỉnh Đồng Tháp
Hình 1.8 Các loại cây trồng được dùng sản xuất nhiên liệu sinh học.
• NLSH thế hệ thứ hai chủ yếu từ các phụ phẩm hoặc phế thải trong sản xuất,
sinh hoạt có nguồn gốc hữu cơ, ví dụ: phế thải nông lâm nghiệp (rơm rạ, trấu,
bã mía, thân ngô, mùn cưa, gỗ vụn…), chăn nuôi (phân súc vật, bùn cống
rãnh…) và sinh hoạt (dầu, mỡ thải) ưu điểm nổi bật là sử dụng nguồn sinh khối
không ảnh hưởng gì đến lương thực, thực phẩm nuôi sống con người và gia súc
đảm bảo an ninh lương thực toàn cầu, đồng thời còn góp phần giảm thiểu ô
nhiễm.
Hình 1.9 Các loại bã nông nghiệp được sử dụng tạo nhiên liệu sinh học.
• NLSH thế hệ thứ ba từ tảo (nước ngọt và nước biển), cây jatropha curcas (cây
cộc rào hay cây dầu mè), cỏ swichgrass, cây halophyte, có ưu điểm vượt trội là
GVHD: TH.S Trần Thị Tường Vân 13 SVTH: Nguyễn Thị Xuân Duyên
Ngô Đậu
L úa mì Mía
Vỏ trấu
Bã mía
Mùn cưa Phân gia súc
Khảo sát tiềm năng sử dụng phế phẩm nông nghiệp làm nguồn nhiên liệu sản xuất điện tại tỉnh Đồng Tháp