Kế toán tiêu thụ hàng hoá và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty TNHH dịch vụ thương mại D&T - Pdf 14

Chuyên để tốt nghiệp Gvhd: Trần Thị Mẽ
Lời nói đầu
Trong điều kiện kinh tế hiện nay, với mọi doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
dù là doanh nghiệp nhà nớc, t nhân hay liên doanh thì lợi nhuận luôn là một chỉ
tiêu quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp. Tuy nhiên muốn đạt đợc lợi nhuận, đòi
hỏi mỗi doanh nghiệp phải có những quyết định sáng suốt trong sản xuất kinh
doanh. Khi có nền kinh tế sản xuất hàng hoá ra đời cùng với sự xuất hiện các quy
luật trong đó có quy luật cung cầu, quy luật cung cầu, quy luật giá trị và quy luật
cạnh tranh. Chính vì cậy mỗi doanh nghiệp khi bớc vào sản xuất kinh doanh đều
phải tự mình tìm ra những đáp án trả lời một cách hữu hiệu nhất, đó là:
Sản xuất kinh doanh là gì?
Sản xuất kinh doanh cho ai?
Sản xuất kinh doanh nh thế nào?
Chuyển sang nền kinh tế thị trờng có sự điều tiết và quản lý vĩ mô của nhà n-
ớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa, các doanh nghiệp có điều kiện để phát triển,
trong đó hạch toán kế toán là một công cụ quản lý của quá trình sản xuất kinh
doanh từ các yếu tố chi phí đầu vào đến kết quả đầu ra. đồng thời là nơi cung cấp
những thông tin kịp thời chính xác cho nhà quản lý.
Cũng nh doanh nghiệp khác tồn tại trong nền kinh tế thị trờng hiện nay, doanh
nghiệp thơng mại cũng là đơn vị sản xuất kinh doanh, do vậy cũng phải hạch toán
kinh tế lấy thu bù đắp chi hí sao cho có lãi
Thực tế trong những năm vừa qua cho thấy với sự phát triển của cơ chế thị tr-
ờng và sự cạnh tranh gay gắt, bên cạnh những doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, có
không ít những doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả, thu nhập không đủ bù đắp
chi phí và có nguy cơ đứng trớc sự phá sản, giải thể. Nguyên nhân của tình trạng
trên có nhiều song nhìn nhận một cách tổng quát khách quan thì nguyên nhân của
sự đổ vỡ, phá sản trong các doanh nghiệp thơng mại chủ yếu do sự yếu kém trong
việc tổ chức công tác bán hàng, xác định kết quả kinh doanh. Vì vậy với mục tiêu
Svth: Nguyễn Văn Thành Khoa kế toán - kiểm toán
1
Chuyên để tốt nghiệp Gvhd: Trần Thị Mẽ

vụ tiêu thụ hàng hoá và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty Dịch vụ thơng mại
D&T.
Phần I: Cơ sở lý về vấn đề hoàn thiện quá trình
hạch toán
I. Nghiệp vụ tiêu thụ hàng hoá trong nền kinh tế thị
trờng
I.1. Kinh doanh thơng mại trong kinh tế thị trờng
Hoạt động thơng mại hay kinh doanh hàng hoá là quá trình trao đổi hàng hoá
thông qua mua bán trên thị trờng. Xét thực chất đó là quá trình trao đổi hàng hoá
của nền kinh tế xã hội.
Svth: Nguyễn Văn Thành Khoa kế toán - kiểm toán
3
Chuyên để tốt nghiệp Gvhd: Trần Thị Mẽ
Sự hình thành hoạt động kinh doanh hàng hoá là tất yếu do quá trình phân
công lao động xã hội và lợi thế so sánh giữa các vùng, các doanh nghiệp, các quốc
gia với nhau. Phân công lao động là sự định ra sự cần thiết nhằm vừa làm thoả mãn
nhu cầu lẫn nhau, vừa khai thác lợi thế so sánh lẫn tái đầu t, tái sản suất (sức lao
động và các sản phẩm khác).
Thơng mại có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân thể hiện ở chỗ:
- Trớc hết nó là một bộ phận hợp thành của tái sản xuất. Thơng mại nối liền giữa
sản xuất và tiêu dùng. Dòng vận động của sản phẩm hàng hoá qua khâu thơng
mại để hoặc tiếp tục cho sản xuất hoặc đi vào tiêu dùng cá nhân. ở vị trí cấu
thành của tái sản xuất xã hội thơng mại đợc coi nh hệ thống dẫn lu bảo đảm
tính liên tục của quá trình tái sản xuất. Khâu này bị ách tắc sẽ dẫn đến sự
khủng hoảng của sản xuất và tiêu dùng.
- Thơng mại là một phần của sản xuất hàng hoá, sản phẩm hàng hoá có mục đích
là thoả mãn nhu cầu của ngời khác để trao đổi, mua bán hoạt động th ơng
mại gắn liền với hoạt động sản xuất hàng hoá.
Thơng mại là lĩnh vực kinh doanh cũng thu hút trí lực và tiền của nhà đầu t đa
lại lợi nhuận. Kinh doanh thơng mại có những đặc thù của nó: Đó là quy luật hàng

quan tâm tới sản phẩm của mính có đợc thị trờng chấp nhận tiêu dùng hay không
mà chỉ quan tâm tới việc sản xuất cái sẵn có. Theo chỉ tiêu kế hoạch nhà nớc giao
cho, doanh nghiệp không quan tâm tới hiệu quả sản xuất kinh doanh đợc hay mất lỗ
hay lãi đã có nhà nớc chịu.
Chính vì cơ chế quản lý nh vậy nên các doanh nghiệp thờng ỷ lại trông chờ
vào nhà nớc làm mất đi tính tự chủ nhạy bén trong việc sản xuất cung cấp sản
phẩm-hàng hóa ra thị trờng. đối với các doanh nghiệp thơng mại thì họ thực hiện
nhiệm vụ mua bán lu thông hàng hoá theo yêu cầu của nhà nớc. Nhà nớc độc quyền
trong việc phân phối hàng hoá thông qua các doanh nghiệp thơng mại do nhà nớc
làm chủ, điều này đã gây nên sự hạn chế, mất cân đối giữa cung và cầu trên thị tr-
ờng dẫn đến nền kinh tế bị trì trệ, kìm hãm lún sâu vào sự khủng hoảng. Đại hội
Svth: Nguyễn Văn Thành Khoa kế toán - kiểm toán
5
Chuyên để tốt nghiệp Gvhd: Trần Thị Mẽ
Đảng toàn quốc lần VI năm 1996 đã khai thông thế bế tắc đó, thông qua một chính
sách kinh tế mới đó là cơ chế thị trờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa có sự quản
lý điều tiết của nhà nớc. Chính sách kinh tế mới của nhà nớc đã tạo ra môi trờng
kinh doanh thuận lợi song cũng chứa đầy những khó khăn thử thách đòi hỏi những
doanh nghiệp thơng mại phải có cái nhìn toàn diện trong hoạt động sản xuất kinh
doanh của mình. Các doanh nghiệp phải hoạt động với phơng châm hạch toán kinh
doanh đợc ăn lỗ chịu và tự chịu trách nhiệm trớc nhà nớc và pháp luật về hoạt động
của mình. Vì vậy mỗi doanh nghiệp đều phải năng động nhạy bén thích nghi với
môi trờng kinh doanh mới với mục tiêu hớng tới là thị trờng, thị trờng là sản xuất và
phát triển, là đích để các doanh nghiệp chinh phục và khai thác. Để đạt đợc điều đó
các doanh nghiệp phải làm tốt công tác bán hàng, tiếp cận thị trờng để tiêu thụ sản
phẩm. Đối với các doanh nghiệp thơng mại thì hoạt động bán hàng cực kỳ quan
trọng. Trong doanh nghiệp thơng mại bán hàng là hoạt động chủ yếu cuối cùng và
quan trọng nhất, nó giúp cho vốn kinh doanh của doanh nghiệp nhanh chóng
chuyển từ hình thái hàng hoá sang hình thái tiền tệ và là cơ sở để xác định kết quả
kinh doanh sau này.

- Phân công lao động xã hội cha sâu sắc, các mối quan hệ kinh tế kém phát triển,
thị trờng đợc mở rộng song cha đạt hiệu quả.
- Thu nhập của dân c quà thấp, sức mua thấp, thu nhập tiêu dùng tăng chậm làm
trì trệ sản xuất kinh doanh đó là điều khó có thể tránh khỏi.
- Thiếu đội ngũ ngời quản lý sản xuất, kinh doanh có khẳ năng tham gia cạnh
tranh trong và ngoài nớc.
Trong công cuộc đổi mới nhà nớc ta đã xác định chủ trơng xây dựng một nền
kinh tế thị trờng dựa trên cơ sở nền kinh tế nhiều thành phần, các thành phần kinh tế
còn tồn tại dới các hình thức sở hữu khác nhau về t liệu sản xuất trong đó các thành
phần kinh tế cùng tham gia dới sự điều tiết vĩ mô của nhà nớc. Nhà nớc khuyến
khích các thành phần kinh tế hoạt động trên cơ sở tôn trọng pháp luật. Việc đa
thành phần kinh tế không chỉ trong sản xuất mà trong cả kinh doanh thơng mại, mọi
Svth: Nguyễn Văn Thành Khoa kế toán - kiểm toán
7
Chuyên để tốt nghiệp Gvhd: Trần Thị Mẽ
hoạt động kinhdoanh của mọi doanh nghiệp mọi thành phần kinh tế quốc dân đều đ-
ợc phép hoạt động.
Cơ sở khách quan của sự tồn tại nhiều thành phần đó là do còn có nhiều hình
thức sở hữu khác nhau về t liệu sản xuất. Các thành phần kinh tế hiện nay là: quốc
doanh, tập thể, cá nhân, t bản nhà nớc..
- Nền kinh tế nhiều thành phần trong sự vận động của cơ chế thị trờng của nớc ta
là nguồn lực tổng hợp to lớn để đa nền kinh tế lên khỏi tình trạng thấp kém, đa
nền kinh tế hàng hoá phát triển, kể cả trong điều kiện ngân sách nhà nớc hạn
hẹp.
- Nền kinh tế nhiều thành phần phản ánh tính đa dạng, phong phú trong việc đáp
ứng các nhu cầu của xã hội, vừa phản ánh tính chất phức tạp trong việc quản lý
định hớng xã hội chủ nghĩa. Nhà nớc phải thực hiện tốt vai trò quản lý kinh tế xã
hội bằng hành lang pháp luật kế hoạch chính xác cụ thể.
Hiện nay xu thế hoá trong kinh doanh thơng mại giữa các quốc gia trên thế
giới ngày càng phát triển mạnh mẽ, trong công cuộc cải tổ nền kinh tế của mình

Trớc hết để hiểu đợc khái niệm thế nào là hàng hoá? Trớc hết ta cần tìm hiểu
thế nào là hàng hóa? Theo quan niệm của Mác, hàng hoá là những vật do con ngời
tạo ra thảo mãn 3 điều kiện:
- Thoả mãn nhu cầu nào đó của con ngời.
- Sản xuất ra hàng hoá để bán hàng trao đổi. Hàng hoá có hai thuộc
tính: giá trị trao đổi và giá trị sử dụng.
- Giá trị sử dụng: Là công dụng của một vật thể thoả mãn nhu cầu nào
đó của con ngời. Công dụng của nó do thuộc tính tự nhiên của vật đó
quyết định.
- Giá trị trao đổi: Là mối quan hệ tỷ lệ giữa một giá trị sử dụng này với
một giá trị sử dụng khác. Giá trị trao đổi chính là hình thức biểu hiện
của giá trị. Bất kỳ một loại hàng hoá nào cũng đợc biểu hiện hai mặt số
Svth: Nguyễn Văn Thành Khoa kế toán - kiểm toán
9
Chuyên để tốt nghiệp Gvhd: Trần Thị Mẽ
lợng và chất lợng. Số lợng của hàng hoá đợc thông qua đơn vị chất l-
ợng hàng hoá đợc xác định bằng tỷ lệ phần trăm tốt xấu hoặc phẩm
chất của hàng hoá.
Tiêu thụ hàng hoá
Tiêu thụ hàng hoá là quá trình thực hiện giá trị sử dụng và giá trị hàng hoá
thông qua quá trình trao đổi. Doanh nghiệp thực hiện việc chuyển hàng hoá, vốn sản
xuất kinh doanh của mình từ hình thái hàng hoá sang hình thái tiền tệ và hình thái
kết quả tiêu thụ là kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Thông qua quá trình tiêu
thụ nhu cầu của ngời tiêu dùng về giá trị sử dụng nhất định đợc thoả mãn và giá trị
hàng hoá đợc thực hiện. Xét về góc độ kinh tế, tiêu thụ hàng hoá là việc chuyển
quyền sở hữu về hàng hoá để nhận lại một lợng giá trị tơng đồng, theo đó quá trình
tiêu thụ hàng hóa có thể đợc chia làm 2 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: đơn vị bán căn cứ vào hợp đồng kinh tế đã ký kết để giao sản
hẩm hàng hoá cho đơn vị bên mua. Giai đoạn này phản ánh một mặt về
quá trình, vận động của hàng hoá. Tuy nhiên nó cha phản ánh đợc kết quả

Và nó đợc biểu hiện dới dạng sơ đồ sau:
Sơ đồ 1: quá trình sản xuất
Tiêu thụ hàng hoá có tác dụng nhiều mặt đối với lĩnh vực sản xuất vật chất và
lĩnh vực tiêu dùng của xã hội.
Svth: Nguyễn Văn Thành Khoa kế toán - kiểm toán
Sản xuất
Lưu thông: tiền tệ của sản xuất, hậu cần sản
xuất
Tiêu dùng
hàng hoá
hàng hoá
11
Chuyên để tốt nghiệp Gvhd: Trần Thị Mẽ
Thực chất tiêu hàng hoá, cung cấp hàng hoá, cần thiết một cách đầy đủ, kịp
thời, động bộ, đúng với số lợng, chất lợng, thuận lợi, khoa học đáp ứng nhu cầu của
thị trờng. Nó phản ánh về việc cung cầu gặp nhau về một loại hàng hoá nào đó. Qua
đó tiêu thụ góp phần khuyến khích tiêu dùng, hớng sản xuất phát triển để đạt đợc sự
thích ứng tối u giữa cung và cầu. Trong lĩnh vực tiêu dùng, các cá nhân có thể dễ
dàng thoả mãn một nhu cầu về hàng hoá tiêu thụ trên thị trờng một cách đầy đủ, kịp
thời, thuận lợi và văn minh nhờ hàng loạt các quầy hàng, cửa hàng siêu thị... cung
ứng cho mọi đối tờng trong xã hội. Trong lĩnh vực sản xuất vật chất, các doanh
nghiệp nhận thấy tiêu thụ là giai đoạn cuối cùng của quá trình tuần hoàn vốn sản
xuấTkinh doanh.
Nh vậy thông qua thị trờng, tiêu thụ hàng hóa, sự cân bằng giữa sản xuất và
tiêu dùng. Giữa hàng hoá và tiền tệ trong lu thông, giữa nhu cầu và tiêu dùng và khả
năng thanh toán. Đồng thời đó là điều kiện để đảm bảo sự phát triển cân đối trong
từng ngành, từng vùng cũng nh toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Thứ 2: Tiêu thụ hàng hoá là cơ sở hình thành nên doanh thu và lợi nhuận, tạo
ra thu nhập để bù đắp chi phí bỏ ra, đảm bảo phát triển vốn kinh doanh thông qua
phơng thức tiêu thụ, phù hợp với yêu cầu quản lý của khách hàng. Để quá trình tiêu

II.3. Các yêu cầu quả lý công tác tiêu thụ hàng hoá.
Doanh nghiệp thơng mại là hợp phần tất yếu quan trọng trong nền kinh tế quốc
dân, là nơi thể hiện đầy đủ và tập trung nhất các mối quan hệ lớn trong xã hội và
cũng là nơi diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa cơ chế quản lý cũ cha bị
xoá bỏ hoàn toàn với cơ chế quản lý mới cha hoàn chỉnh cùng đan xen tồn tại với
nhau. Vì vậy phải thực hiện tốt các yêu cầu sau:
- Quá trình tiêu thụ hàng hoá phải đợc quản lý từ khâu ký kết hợp đồng tiêu thụ
đến các khâu gửi hàng, xuất bản thanh toán tiền hàng... cho đến khi chấm dứt
hợp đồng
Svth: Nguyễn Văn Thành Khoa kế toán - kiểm toán
13
Chuyên để tốt nghiệp Gvhd: Trần Thị Mẽ
- Thờng xuyên kiểm tra tình hình tiêu thụ, thực hiện kế hoạch tiêu thụ và thực
hiện chính sách liên quan.
- Quản lý tốt nguồn lực trong kinh doanh : lao động, vật t, vốn... để sử dụng hợp lý
mang lại hiệu quả kinh doanh cao nhất với chi phí xã hội sao cho thấp nhất.
- Phải góp phần vào bảo vệ môi trờng, tài nguyên thiên nhiên, thực hiện nghĩa vụ
đối với cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp, các vùng biên giới hải đảo,
nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật và các chế độ quản lý kinh tế nhà nớc
- Khi chuyển sang cơ chế thị trờng các doanh nghiệp không còn hoạt động theo
hình thức chỉ tiêu kế hoạch ma luôn phải chủ động tìm kiếm khách hàng, nguồn
lực thị trờng kinh doanh để tiêu thụ sản xuất hàng hoá của doanh nghiệp mình.
Thực tế những phơng năm qua cho thấy không ít những doanh nghiệp làm ăn
thua lỗ, phá sản do không biết tổ chức tiêu thụ hàng hoá, hàng hoá kinh doanh
không đáp ứng đợc yêu cầu của xã hội, do vậy để có thể đững vững trên thị tr-
ờng, các doanh nghiệp thơng mại phả luôn xác định đợc kinh doanh cái gì ?
Kinh doanh nh thế nào ? Đồng thời tạo sự thuận tiện trong quan hệ mua bán trên
cơ sở áp dụng linh hoạt các phơng thức bán hàng và thanh toán tiền hàng.
II.4. Các phơng thức bán hàng.
II.4.1. Các phơng thức bán buôn

đợc mình uỷ quyền tới nhận hàng tại kho của bên bán khi hàng đã xuất kho của bên
bán khi hàng đã xuất ra khỏi kho thì quyền sở hữu thuộc bên mua.
Svth: Nguyễn Văn Thành Khoa kế toán - kiểm toán
Doanh
nghiệp thư
ơng mại
kh
Chuyển hàng đến
bằng phương tiện tự
có hoặc cho thuê
15
Ký hợp đồng hai bên
Chuyên để tốt nghiệp Gvhd: Trần Thị Mẽ
Sơ đồ 3: Bán buôn theo phơng thức giao hàng tại kho
II.4.2. Các phơng thức bán lẻ
Bán lẻ là giai đoạn cuối cùng của sự vận động hàng hoá từ nơi sản xuất đến
nơi tiêu dùng, hàng hoá bán lẻ chuyển sang lĩnh vực tiêu dùng, khi đó giá trị hàng
hoá đã đợc thực hiện, bán lẻ là giai đoạn cuối cùng.
II.4.2.1. Bán lẻ thu tiền tạm ứng
Đây là phơng thức bán hàng mà nghiệp vụ thu tiền và giao hàng tách rời nhau
nhằm mục đích chuyên môn hoá trong công tác bán hàng. theo tình hình này cửa
hàng bố trí một số nhân viên chuyên thu tiền và viết hoá đơn tích kê mua hàng cho
khách hàng. một số nhân viên bán hàng thực hiện giao hàn cho khách theo hoá đơn
hay tích kê, đồng thời nhận loại hoá đơn hay tích kê này. Cuối ngày hoặc cuối ca
các nhân viên thu ngân kiểm tiền, lập giấy nộp tiền bán hàng (đó chính là doanh thu
của hàng đã bán).
II.4.2.2. Bán lẻ thu tiền trực tiếp
Svth: Nguyễn Văn Thành Khoa kế toán - kiểm toán
Bên mua Người uỷ quyền
Hợp đồng đã ký kết

doanh lập phiếu xuất kho hay biên bản bàn giao hàng cho đại lý bán sẽ lập quyết
toán và gửi cho doanh nghiệp về số hàng đã bán, số tiền bán hàn trừ hoa hồng đại
lý. Khi đó hàng đã đợc coi là tiêu thụ và kết toán căn cứ vào biên bản giao hàng cho
đại lý, quyết toán đã lập để ghi sổ kế toán.
Phơng thức bán hàng này giúp doanh nghiệp tiế cận và khoai thác thị trờng
tốt, mở rộng phạm vi kinh doanh mà không phải đầu t thêm vốn.
II.4.4. Bán hàng trả góp
Bán hàng trả góp là một biến tớng của phát triển bán hàng trả chậm khi giao
hàng cho ngời mua thì hàng đợc coi là tiêu thụ ngay và doanh nghiệp bị mất quyền
sở hữu hàng hoá đó. Doanh nghiệp lập hoá đơn bán hàng và hợp đồng thanh toán để
căn cứ giao hàng và nhận tiền lần đầu. Phần còn lại ngời mua chấp nhận trả tiền ở
kỳ tiếp theo nhng ophải chịu mức lãi suất nhất định. Phần lãi suất thu trên tiền hàng
trả dần dùng để bù đắp chi phí tăng trong phần thanh toán và dự phòng rủi ro có thể
xảy ra. Thông thờng số tiền phải trả ở các kỳ là bằng nhau bao gồm một phần doanh
thu gốc và một phần lãi suất trả chậm. Phơng thức này giúp doanh nghiệp khai thác
Svth: Nguyễn Văn Thành Khoa kế toán - kiểm toán
17
Chuyên để tốt nghiệp Gvhd: Trần Thị Mẽ
triệt để mọi thị trờng tiềm năng. Ngoài ra còn có một phơng thức tiêu thụ khác nh:
biếu tặng, cho, thởng... bằng hàng hoá.
II.5. Các phơng thức thanh toán tiền bán hàng
Thanh toán tiền bán hàng có thể coi là khâu cuối cùng của một doanh nghiệp
tiêu thụ hàng hoá nói chung, đến thời điểm tiền bán hàng đợc thanh toán cho ngời
bán thì thực chất quyền bán hàng đợc thanh toán cho ngời bán thì thực chất quyền
sở hữu về tiền và hàng giữa bên bán và bên mua mới chính xác đợc thay đổi, việc
thanh toán tiền bán hàng đợc phân ra thành các phơng thức thanh toán nh sau:
II.5.1. Thanh toán dùng tiền mặt
Là hình thức thanh toán trực tiếp giữa ngời mua và ngời bán khi nhận đợc
hàng hoá vật t hoặc lao vụ dịch vụ đã hoàn thành thì bên mua xuất tiền mặt trả trực
tiếp cho ngời bán hoặc ngời cung cấp lao vụ dịch có thể tiến hành bằng đồng ngân

mình trả cho ngời đợc hởng có trên tờ séc.
- Thanh toán bằng hàng đổi hàng: Hình thức này đợc áp dụng trong trờng hợp hai
bên có quan hệ mua bán lẫn nhau. Có thể nói phơng thanh toán này là phơng
thức xuất hiện đầu tiên từ khi loài ngời thực hiện trao đổi hàng hoá, phơng thức
này giựa trên nguyên tắc ngang giá. Giá trị của hai loại hàng hoá là bằng nhau,
hai bên tham gia mua bán đều đồng thời là ngời mua và ngời bán, lúc này chỉ
xuất hiện hai dòng hàng hóa vận chuyển ngợc chiều nhau, phơng thức này khi
mua và bán hàng hai bên sẽ theo dõi và cân đối giá hàng mua và hàng bán đến
khi kết thúc hợp đồng nếu còn có chênh lệch thì sẽ thực hiện nốt theo phơng
thức thanh toán nh trên.
Thanh toán không dùng tiền mặt có ý nghĩa hết sức quan trọng trong nền kinh
tế thị trờng. Thanh toán nhanh gọn, đảm bảo an toàn trong giao dịch, giảm nhu cầu
về tiền, chống lạm phát... ngày nay quan hệ về thanh toán trên thế giới đã đợc toàn
cầu hoá trở lên rất thuận tiện nhanh chóng và an toàn.
Svth: Nguyễn Văn Thành Khoa kế toán - kiểm toán
19
Chuyên để tốt nghiệp Gvhd: Trần Thị Mẽ
II.6. Thời điểm xác nhận là hàng hoá
Đối với nghiệp vụ tiêu thụ hàng hoá ở một số doanh nghiệp thơng mại với mỗi
phơng thức bán hàng thì thời điểm xác nhận hàng hoá là hàng bán là khác nhau do
đó để phản ánh chính xác nghiệp vụ tiêu thụ hàng hoá vào các chứng từ ban đầu tr-
ớc hết phải tìm hiểu thời điểm xác định là hàng bán. Bán hàng là quan hệ trao đổi
giữa ngời mua và ngời bán. Ngời mua đợc quyền sở hữu về hàng hoá, mất quyền sở
hữu về tiền, ngợc lại ngời bán đợc quyền sở hữu về tiền tệ mất quyền sở hữu về
hàng hoá, nh vậy hàng hoá đợc xác định là hàng bán phải qua các điều kiện sau:
- Phải thông qua trao đổi mua bán, thanh toán tiền hàng theo một thể thức nhất
định.
- Có sự trao đổi gia ngời mua và ngời bán về tiền tệ và hàng hoá.
- Ngoài ra có một số trờng hợp cũng đợc xác định là hàng bán nh là hàng xuất
dùng làm văn phòng phẩm của đơn vị, hàng xuất dùng để sửa chữa TSCĐ, hàng

chi phí và hình thành một khoản lãi nhất định, phần đó gọi là thặng số thơng mại.
Giá bán của hàng hoá có thể đợc biểu diễn dới dạng:
Giá bán = Giá mua + Thặng số thơng mại
Trong đó:
Thặng số thơng mại = Giá mua x Tỷ lệ % thặng số.
Trong thực tế kinh doanh việc quyết định một giá bán hợp lý là một vấn đề rất
phức tạp đòi hỏi nhà kinh doanh phải có tầm nhìn báo quát, phải có khả năng khảo
sát, nghiên cứu các yếu tố để quyết định mức giá hàng bán cho mỗi mặt hàng vào
mọi thời điểm nào đó. Do vậy để có quyết định về giá đúng đắn có lợi thế trong
kinh doanh nhà doanh nghiệp phải nắm bắt đợc thị trờng mà kinh doanh để có chính
sách hợp lý về giá.
Svth: Nguyễn Văn Thành Khoa kế toán - kiểm toán
21
Chuyên để tốt nghiệp Gvhd: Trần Thị Mẽ
III. Nhiệm vụ của kế toán tiêu thụ hàng hóa
Tiêu thụ hàng hoá có ý nghĩa sống còn đối với doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh. Chính vì lẽ đó mà kế toán nghiệp vụ tiêu thụ hàng hoá có vai trò đặc biệt
quan trọng trong công tác quản lý và tiêu thụ hàng hoá.
Thông qua các thông tin về kế toán mà ngời điều hành doanh nghiệp có thể
biết đợc mức độ hoàn thành tiêu thụ, phát hiện kịp thời sai sót ở từng khâu trong
quá trình lập và thực hiện quá trình mua, tiêu thụ và dự trữ hàng hoá. Từ đó có biện
pháp cụ thể phù hợp để đạt hiệu quả kinh doanh cao.
Đối với nghiệp vụ tiêu thụ hàng hoá, kế toán có nhiệm vụ cung cấp tài liệu về
quá trình tiêu thụ sản phẩm hàng hóa giúp cho việc đánh giá chất lợng toàn bộ hoạt
động kinh doanh của đơn vị, cụ thể kế toán tiêu thụ cần thực hiện những nhiệm vụ
sau:
- Phản ánh giám sát thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch tiêu thụ hàng hoá: mức bán ra,
doanh thu ban hàng về thời gian và địa điểm theo tổng số, theo nhóm hàng.
Quan trọng nhất là chỉ tiêu lãi thuần về hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Phản ánh đầy đủ kịp thời và chi tiết hàng bán ở tất cả các trạng thái: hàng đi đ-

mình mà kịp thời có những chính sách thích hợp với thị trờng.
IV. Nội dung hoàn thiện quá trình hoạch toán nghiệp vụ
tiêu thụ hàng hoá và xác định kết quả kinh doanh
IV.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện
IV.1.1. Sự cần thiết
Việc chuyển hoá nền kinh tế nớc ta từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp
sang nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trờng là một xu thế tất yếu, bao gồm việc
mở rộng quan hệ hàng hoá tiền tệ và quan hệ thị trờng. Trong sự chuyển hoá này
Svth: Nguyễn Văn Thành Khoa kế toán - kiểm toán
23
Chuyên để tốt nghiệp Gvhd: Trần Thị Mẽ
ngành thơng mại sẽ phải phát triển mạnh để mở rộng các quan hệ mua bán, mở rộng
giao lu buôn bán hàng hoá phục vụ và hớng dẫn tiêu dùng góp phần tích cực vào
việc thúc đẩy nâng cao chất lợng hàng hoá, đáp ứng nhu cầu vật chất tinh thần ngày
càng tăng của mọi tầng lớp trong xã hội, thực hiện vai trò là cầu nối giữa sản xuất
và tiêu dùng. Hạch toán kế toán có vai trò quan trọng trong hệ thống quản lý kinh
doanh. Vai trò đợc xác định xuất phát từ hoạt động thực tế khách quan, hoạt động
sản xuất kinh doanh và bản chất của haọch toán kế toán. Để quản lý hiệu quả các
sản xuất kinh doanh và sử dụng vốn, sử dụng các khoản kinh phí ở các doanh
nghiệp. Các nhà quản lý doanh nghiệp cần biết những thông tin chính xác về hoạt
động kinh doanh của đơn vị mình. Chính công tác hoạch toán kế toán trong đơn vị
sẽ thu thập một cách hệ thống chính xác kịp thời và đầy đủ khoa học những thông
tin đó, đồng thời thực hiện kiểm tra xử lý phân tích các thông tin thu thập đợc cung
cấp cho công tác quản lý doanh nghiệp. Có thể nói hạch toán kế toán nh một phần
hệ thống thông tin kinh tế quan trọng cấu thành hệ thống thông tin kinh tế của đơn
vị. chính vì vậy mà hạch toán đợc khẳng định một cách khách quan là côg cụ quan
trọng phục vụ công tác điều hành và sản xuất kinh doanh. Sử dụng vốn đồng thời là
nguồn thông tin tin cậy cho nhà nớc trong việc điều hành vĩ mô nền kinh tế thực
hiện việc kiểm tra giám sát hoạt động của các ngành, các lĩnh vực. Vì vậy đổi mới
và hoàn thiện không ngừng công tác kế toán thích ứng với yêu cầu quản lý trong cơ

hoạch toán nghiệp vụ tiêu thụ hàng hoá là một vấn đề cần thiết và có ý nghĩa.
IV.1.2. ý nghĩa của việc hoàn thiện quá trình hạch toán nghiệp vụ tiêu thụ
Hoàn thiện quá trình tiêu thụ hàng hoá, phán ánh đúng đắn, kịp thời trong khi
bán hàng, việc thanh toán tiền hàng và tình hình nộp tiền của nhân viên bán hàng,
thu hồi vốn nhanh của đơn vị để tiếp tục đa vào kinh doanh. Hoàn thành quá trình
hạch toán nghiệp vụ tiêu thụ hàng hoá cho phép quản lý hàng hoá và tiền hàng chặt
chẽ hơn, chính xác hơn, giảm thiểu chi phí cho đơn vị từ đó xác định đựợc kết quả
kinh doanh, phân phối thu nhập một cách chính xác, kích thích ngời lao động và
thực hiện đúng, đủ nghĩa vụ đối với nhà nớc.
Svth: Nguyễn Văn Thành Khoa kế toán - kiểm toán
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status