Các chuyên đề nghiên cứu và bài tham luận hội thảo tại hà giang và gia lai - Pdf 14

UỶ BAN DÂN TỘC
* * * * * * * * * * * *
CÁC CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU
VÀ BÀI THAM LUẬN HỘI THẢO TẠI HÀ GIANG, GIA LAI
(THỰC HIỆN DỰ ÁN: ĐIỀU TRA VỀ VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA NGƯỜI CÓ
UY TÍN TRONG DÂN TỘC THIỂU SỐ ĐỐI VỚI CÔNG TÁC DÂN TỘC
VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG
NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ)”
Hà Nội, tháng 12 năm 2012
DANH MỤC CÁC CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ
CÁC BÀI THAM LUẬN HỘI THẢO TẠI TỈNH HÀ GIANG VÀ GIA LAI
(Thực hiện Dự án: “Điều tra về vị trí, vai trò của người có uy tín trong dân tộc thiểu
số đối với công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc thời kỳ công nghiệp hóa,
hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”)
I Chuyên đề nghiên cứu: 05
Trang
1
Thực trạng công tác vận động, phát huy vai trò của người có uy
tín trong vùng dân tộc thiểu số trong sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc.
3
2
Công tác vận động, phát huy vai trò của người có uy tín ở khu
vực biên giới vùng dân tộc thiểu số và miền núi.
27
3
Hội nhập quốc tế: Một số vấn đề lý luận và tác động của hội nhập
kinh tế đối với đời sống vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
44
4
Vai trò người có uy tín trong dân tộc thiểu số trong công tác

trong đồng bào dân tộc thiểu số trong sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc
110
6
Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác vận động, phát huy vai trò
của người có uy tín đối với công tác dân tộc và thực hiện chính
sách dân tộc
7
7
Phát huy vai trò, vị trí của người có uy tín tham gia phát triển
kinh tế xã hôi, xóa đói giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới
trên địa bàn huyện Vị Xuyên
113
8
Đánh giá tình hình hoạt động của Người có uy tín trong cộng
đồng dân cư huyện Quản Bạ
9 Giải pháp phát huy vai trò, vị trí của già làng, người có uy tín đối
với phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo và xây dựng
2
nông thôn mới trên địa bàn thành phố Hà Giang
10
Giải pháp phát huy vai trò, vị trí của già làng, người có uy tín đối
với phát triển kinh tế – xã hội, xóa đói giảm nghèo và xây dựng
nông thôn mới trên địa bàn huyện Bắc Mê
11
Công tác dân vận đối với người có uy tín trong đồng bào dân tộc
thiểu số trong sự nghiệp xây dựng và giữ gìn an ninh, trật tự ở
địa phương.
12
Thực trạng và giải pháp phát huy vai trò của Người có uy tín

sinh thái và phát triển bền vững vùng dân tộc và miền núi
10
Công tác dân vận đối với người có uy tín trong đồng bào dân tộc
thiểu số trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng
11
Công tác vận động, phát huy vai trò của người có uy tín tham gia
giữ gìn an ninh trật tự và bảo vệ Tổ quốc vùng dân tộc thiểu số và
miền núi
12
Giải pháp phát huy vai trò của người có uy tín trong công tác
tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc thiểu số thực hiện chủ
trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước
3
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG, PHÁT HUY VAI TRÒ
CỦA NGƯỜI CÓ UY TÍN TRONG VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ
TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết nghiên cứu chuyên đề
Vấn đề dân tộc thiểu số hết sức nhạy cảm và có vị trí chiến lược đối với
sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Vai trò của người có uy tín, những “người
đứng đầu” trong các dân tộc thiểu số có tầm quan trọng đặc biệt trong đấu tranh
chế ngự thiên nhiên, bảo tồn và phát triển dân tộc. Lợi dụng đặc điểm này, các
thế lực thù địch đã triệt để khai thác sử dụng người có uy tín phục vụ cho ý đồ
chính trị của chúng.
Người có uy tín trong đồng bào các dân tộc thiểu số có vai trò quan trọng
trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội... đối với cuộc sống của đồng
bào dân tộc thiểu số. Đảng và Nhà nước ta có nhiều chủ trương, chính sách đối
với vùng dân tộc thiểu số, trong đó có chính sách giúp đỡ, tạo điều kiện cho
người có uy tín trong dân tộc phát huy vai trò của mình nhằm xây dựng vùng

chuyên sâu về công tác đối với người có uy tín còn thiếu nên việc nghiên cứu
còn hạn chế.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ nhận thức, khái niệm về người có uy tín, đặc điểm về lịch sử,
kinh tế xã hội, nơi cư trú, về tín ngưỡng, tôn giáo, tác động bên ngoài có liên
quan đến người có uy tín.
- Tình hình và thực trạng công tác triển khai thực hiện chính sách đối với
người có uy tín; kết quả; bài học kinh nghiệm.
- Giải pháp nâng cao vai trò, vị trí của người có uy tín đối với sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
4. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu toàn diện các vấn đề về vai trò, vị trí của người có uy tín từ
khi thực hiện Chỉ thị 05/BNV của Bộ Nội vụ từ năm 1993. Tập trung vào
nghiên cứu sâu việc tổ chức triển khai thực hiện Chỉ thị 06/CT-TTg của Thủ
tướng Chính phủ từ năm 2008 trở lại đây.
5. Phương pháp nghiên cứu
Kết hợp giữa khảo sát thực tế với nghiên cứu hệ thống tư liệu, tài liệu,
thống kê, đối chiếu, so sánh. Phương pháp duy vật biện chứng. Chú ý tổng kết,
phân tích đánh giá logic, phương pháp lịch sử và hiện tại.
6. Kết cấu đề tài
Đề tài nghiên cứu gồm 3 phần:
Mở đầu
Nội dung chính của đề tài gồm 3 phần.
5
Kết luận.
Phần I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGƯỜI CÓ UY TÍN TRONG ĐỒNG
BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
1. Những vấn đề cơ bản về người có uy tín trong dân tộc thiểu số
Việt Nam là một quốc gia thống nhất, đa dân tộc, gồm 54 dân tộc, trong
đó có 53 dân tộc thiểu số (DTTS): 12.250.570 người, chiếm khoảng 14 % tổng

nhiều tiêu chí khác nhau về người có uy tín trong dân tộc thiểu số, nhưng có thể
khái quát chung nhất như sau: Người có uy tín là người có mối liên hệ với quần
chúng, được quần chúng tín nhiệm, suy tôn, mến phục và có thể mang lại niềm
tin cho mọi người; có tri thức về một hay nhiều lĩnh vực, tiếng nói, hành động
của họ có khả năng tác động, chi phối được một bộ phận quần chúng nghe theo
trong phạm vi nhất định.
Tại các từ điển, văn bản hướng dẫn và các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng,
Nhà nước, của bộ, ngành, có nhiều khái niệm, qui định khác nhau về người có
uy tín trong DTTS, trong đó các qui định có tính pháp lý cao, được sử dụng
rộng rãi như:
Tại Chỉ thị số 05/CT-BNV, ngày 23/02/1993 của Bộ Nội vụ (nay là Bộ
Công an) về “Công tác của Công an nhân dân trong việc tranh thủ, sử dụng
người có uy tín trong DTTS” có nêu: “Trong mỗi vùng, mỗi khu vực, mỗi dân
tộc đều có những người có uy tín, có ảnh hưởng trong DTTS, được đồng bào dân
tộc suy tôn, tín nhiệm tự nguyện hoặc bằng sự ràng buộc của phong tục tập quán
dân tộc trong những mức độ và phạm vi nhất định. Họ thường được đồng bào
tìm đến để bày tỏ tâm tư, nguyện vọng và tranh thủ ý kiến giải quyết các vấn đề
của bản thân, gia đình và xã hội, người có uy có khả năng tác động, chi phối tập
hợp quần chúng bằng lời nói, hành động hoặc bằng những quy ước của phong
tục, tập quán dân tộc”.
Theo Từ điển Bách khoa CAND Việt Nam năm 2005, thì: “Người có uy
tín trong DTTS là người có ảnh hưởng nhất định không phải bằng quyền lực
hành chính mà bằng sự tín nhiệm của cộng đồng dân cư ở các vùng DTTS.
Người có uy tín trong DTTS thường có mối liên hệ chặt chẽ với cộng đồng được
người xung quanh suy tôn. Họ có khả năng chi phối, tác động, tập hợp người
khác bằng sự thuyết phục hoặc bằng những quy ước của phong tục tập quán dân
tộc; cũng có thể là người có học vấn cao, thành đạt trong hoạt động kinh tế, có
công trong các hoạt động xã hội - từ thiện ở địa phương…”[3,tr874].
Theo Chỉ thị số 06/2008/CT-TTg, ngày 01/02/2008 của Thủ tướng Chính
phủ về “Phát huy vai trò người có uy tín trong DTTS trong sự nghiệp xây dựng

tín, ảnh hưởng nhất định với một bộ phận người DTTS trong một khu vực nhất
định, một số người uy tín lớn còn có uy tín, ảnh hưởng đối với một bộ phận
đồng bào người DTTS ở nước ngoài và ngược lại một số người có uy tín đang
định cư ở nước ngoài hiện vẫn còn ảnh hưởng, tác động đối với đồng bào DTTS
ở trong nước. Uy tín của họ thường dựa vào địa vị xã hội được pháp luật quy
định (những người quản lý một đơn vị hành chính), dựa vào các quan hệ truyền
thống, tập quán như trưởng họ, già làng, dựa vào thần quyền giáo lý (chức sắc
tôn giáo, hoạt động tín ngưỡng)… hoặc có được nhờ các tri thức trong các lĩnh
vực đời sống xã hội. Những người có uy tín thường được đồng bào dân tộc tìm
đến bày tỏ tâm tư, nguyện vọng, tham khảo ý kiến đối với những vấn đề người
dân đang vướng mắc, chưa tìm được hướng giải quyết. Những ý kiến, lời nói,
việc làm của người có uy tín có tác động sâu sắc đến đồng bào dân tộc, thậm chí
8
có thể tác động, định hướng cho quần chúng hành động theo cả hướng tích cực
và tiêu cực.
Các căn cứ nêu trên có mối liên hệ mật thiết với nhau làm tiêu chí để xác
định một người có uy tín hay không có uy tín. Vì thế không thể thiếu một căn
cứ nào hoặc chỉ lấy một hoặc hai căn cứ để định ra những người có uy tín. Tuy
nhiên, trong các căn cứ nêu trên cũng có căn cứ rất cơ bản, không thể châm
chước, xem nhẹ là người đó phải có mối liên hệ với quần chúng, được quần
chúng tín nhiệm, mến phục và suy tôn.
Tóm lại, một người có uy tín, rộng hẹp khác nhau phụ thuộc vào khả
năng tri thức, cũng như mối liên hệ, ảnh hưởng của họ đối với quần chúng. Có
người chỉ có uy tín một lĩnh vực: có thể là trưởng dòng họ, hay có chức sắc
trong lĩnh vực tôn giáo, tín ngưỡng hoặc có uy tín đối với quần chúng do biết
làm kinh tế… thì phạm vi uy tín ảnh hưởng người đó đến quần chúng thường có
hạn. Những người có uy tín nào vừa có hiểu biết, vừa có cương vị: như trưởng
họ đồng thời là cán bộ, đảng viên có vị trí, địa vị trong xã hội thì rất có uy tín
đối với quần chúng. Thường thường người có uy tín nào vừa có uy tín dựa trên
uy thế tộc quyền, vừa có vị thế trong xã hội mà vị trí đó càng cao thì tiếng nói

đã ghi nhận, phản ánh truyền thống này (như chuyện quả bầu của người Tày-
Thái, của cư dân Trường Sơn-Tây Nguyên; sử thi (đẻ đất, đẻ nước) của người
Mường... đây là đặc biệt thuận lợi cho các cơ quan liên quan trong vận động,
phát động quần chúng chống lại âm mưu, hoạt động chia rẽ của kẻ địch.
Hoạt động kinh tế của đồng bào dân tộc thiểu số khá phong phú, đa dạng
và phát triển với nghề chính là nông nghiệp và thủ công nghiệp. Ngoài ra còn có
các hoạt động trao đổi, buôn bán, chăn nuôi, đánh bắt hải sản. Tùy theo địa bàn
cư trú mà đồng bào dân tộc thiểu số nước ta có những hoạt động kinh tế thích
hợp với điều kiện tự nhiên và môi trường xã hội. Hoạt động nông nghiệp với
hoạt động sản xuất chính là làm ruộng và chăn nuôi (trâu, bò, dê, gia cầm.).
Văn hóa xã hội của người dân tộc thiểu số Việt Nam đa dạng, có nền văn
hóa lâu đời, gắn bó với lịch sử thăng trầm của dân tộc và có ảnh hưởng sâu sắc
trong đời sống tinh thần, tư tưởng của bà con đồng bào dân tộc thiểu số. Mỗi
dân tộc luôn có ý thức sâu sắc về việc bảo tồn những di sản văn hóa truyền
thống được coi như là bảo tồn chính sự tồn tại của dân tộc mình.
3.1.2. Đặc điểm cư trú.
Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam cư trú xen kẽ nhau và xen kẽ với dân tộc
đa số; không dân tộc nào có lãnh thổ dân tộc riêng. Người có uy tín cư trú cùng
đồng bào dân tộc thiểu số tại các bản, làng; nhiều địa bàn từng là khu căn cứ
cách mạng, tuy nhiên cũng có nhiều nơi trước đây đã từng là địa bàn đứng chân
của bọn phản động cũ. Một số vùng trước đây do lịch sử để lại là những vùng
đất đã từng được chính quyền cũ cho phép cư dân sống tại chỗ được hưởng
quyền lợi về chính trị, kinh tế. Chính vì vậy, nơi cư trú của người có uy tín,
đồng bào dân tộc thiểu số được xác định là địa bàn có vị trí chiến lược quan
trọng về kinh tế, quốc phòng và an ninh của đất nước.
10
Các dân tộc thiểu số cư trú trên 3/4 diện tích cả nước: Dân tộc Hoa tập
trung ở các thành phố lớn, thị xã; dân tộc Khơ me ở đồng bằng Nam Bộ; dân tộc
Chăm ở duyên hải miền Trung; phần lớn 70% cư trú ở miền núi, biên giới là địa
bàn trọng yếu về quốc phòng, an ninh. Vùng các dân tộc thiểu số ở miền núi,

nhau về kinh tế, văn hoá-xã hội, cùng tôn sùng đạo phật theo phái Nam Tông
Khơ me. Người Chăm Islam giao lưu với những người theo đạo Hồi-Islam ở
11
một số quốc gia Châu Á (Malaysia, Indonesia, Brunei, Thổ Nhĩ Kỳ, Ả Rập Xê
út, Iran, Campuchia, Trung Quốc).
Ngoài ra, còn có nhiều bộ phận người dân tộc thiểu số Việt Nam chuyển
cư ra nước ngoài trong nhiều thời điểm, với nhiều lý do, đáng kể nhất là ở giai
đoạn 1945-1954 và sau năm 1975. Hiện nay, các nhóm cộng đồng người dân tộc
thiểu số lưu vong cư trú ở nhiều nước (Mỹ, Pháp, Canada, Australia,...) đã hình
thành một số tổ chức mang tính chính trị-xã hội, văn hoá, nghiên cứu khoa học.
Họ ngày càng tăng cường quan hệ với thân nhân, gia đình và tác động về các
vùng dân tộc thiểu số trong nước.
Đặc điểm trên đây đang trở thành điều kiện thuận lợi để các dân tộc thiểu
số ở nước ta phát triển, quan hệ, giao lưu với bên ngoài trên nhiều lĩnh vực, từ
đó, vừa khẳng định vị trí của mình, vừa hoà nhập vào xu thế chung. Nhưng
ngược lại, các thế lực thù địch cũng khai thác, lợi dụng quan hệ đó để kích động
tư tưởng dân tộc chủ nghĩa, xu hướng ly khai, tự trị, liên kết ngoài biên giới
quốc gia.
5. Một số chính sách của Đảng, Nhà nước liên quan đến công tác vận
động, phát huy vai trò của người có uy tín
Hiện nay, có nhiều chính sách của Đảng, Nhà nước được thực hiện tại
vùng dân tộc thiểu số góp phần phát triển kinh tế xã hội tại vùng dân tộc thiểu
số. Các chính sách được thực hiện tại vùng dân tộc thiểu số như: Chương trình
phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và
miền núi (Chương trình 135); Chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và
nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn;
Chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn vay vốn phát
triển sản xuất; Chính sách hỗ trợ đồng bào định canh định cư; Chính sách trợ
giá, trợ cước các mặt hàng thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống; Chính sách
hỗ trợ trực tiếp cho người dân thuộc vùng khó khăn; Chính sách bảo tồn dân tộc

tc thiu s. Kt qu ni bt l s ngi cú uy tớn a vo din tranh th ngy
cng tng, thnh phn a dng, tp trung ụng nhng vựng chin lc, trng
im m cỏc th lc thự ch ang tp trung tỏc ng, lụi kộo kớch ng ly khai,
t tr, vựng dõn tc cú trỡnh phỏt trin thp hoc cú c thự v lch s xó hi.
Lc lng cụng an ó phi hp cỏc ban, ngnh liờn quan r soỏt a vo danh
sỏch tranh th rng rói 14.097 ngi cú uy tớn, tng 6.527 ngi so vi trc
nm 1993. Cỏc dõn tc c xỏc nh cú nhiu ngi uy tớn ln lt l Khme,
Thỏi, Ty, Mng
Trong thc tin, cụng tỏc vn ng ngi cú uy tớn trong ng bo DTTS
l mt cụng tỏc quan trng ca cỏc cp, cỏc ngnh t Trung ng ti c s di
s lónh o, ch o ca cp y, chớnh quyn cỏc cp, trong ú lc lng cụng
an l nũng ct. Trên cơ sở tổng kết 10 thực hiện Chỉ thị 05/CT-BNV ca B
Ni v để chỉ rõ những mặt hạn chế, tồn tại trong quá trình tổ chức thực
hiện, từ đó rút kinh nghiệm để đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác
tranh thủ ngời có uy tín trong vùng DTTS phục vụ công tác đảm bảo an ninh
13
quốc gia trong tình hình mới, Bộ Công an đã tham mu cho Thủ tớng Chính
phủ ban hành Chỉ thị 06/2008/CT-TTg ngày 01/02/2008 về Phát huy vai trò
của ngời có uy tín trong đồng bào các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Thc hin ch o ca Th tng Chớnh ph ti Ch th ny, Bộ Cụng an
ó ban hành Hớng dẫn số 04/HD-BCA ngày 16/3/2009 gửi cỏc bộ, ban, ngành
liên quan và Chủ tịch UBND 52 tỉnh, thành ph có đông đồng bào DTTS
để hớng dẫn thực hiện. Nhiu tnh ó ra ch th; thnh lp Ban ch o 06;
phõn cụng n v ch trỡ, n v phi hp; ra quyt nh cụng nhn ngi cú uy
tớn; phõn cụng, phõn cp thc hin cụng tỏc vn ng, thc hin chớnh sỏch i
vi ngi cú uy tớn. Qua ú, nhn thc ca cp y, chớnh quyn a phng i
vi cụng tỏc ny c nõng cao; s phi hp gia cỏc ban ngnh cht ch,
thng nht hn trc.
B Cụng an ó ban hành Kế hoạch số 43/KH-BCA-A81 ngày 06/4/2010

liên quan tổ chức rà soát, thống nhất đưa vào danh sách 28.543 người có uy tín
để vận động, tranh thủ theo Hướng dẫn số 04 của Bộ Công an, trong đó đông
nhất là dân tộc Jarai 2.330 người, dân tộc Mông 1.939 người, dân tộc Dao 1.556
người, dân tộc Ê đê 1.258 người, dân tộc Tày 1.214 người, dân tộc Khơmer có
1.184 người, dân tộc Thái 1.116 người, dân tộc Bana 1.057 người, dân tộc
Chăm 277 người, người Kinh chiếm tỷ lệ ít. v.v; trong đó phân cấp Trung ương
quản lý: 938 người, còn lại do địa phương tranh thủ, vận động. Số lượng người
có uy tín tập trung vào cán bộ, đảng viên, trưởng bản tuy nhiều, nhưng người có
uy tín có phạm vi ảnh hưởng rộng từ một xã đến một huyện, từ một dân tộc đến
nhiều dân tộc, hay từ một dòng họ đến nhiều dòng họ không nhiều. Thành phần
người có uy tín phần lớn là cán bộ về hưu, đảng viên, trưởng bản, trưởng dòng
họ, quần chúng cơ bản, một số ít là chức sắc tôn giáo và làm nghề thày cúng...
Đối chiếu với danh sách do ñy ban Dân tộc chủ trì bầu người uy tín để
hưởng chính sách theo Quyết định số 18/QĐ-TTg ngày 18/3/2011 của Thủ
tướng Chính phủ và Thông tư liên tịch số 05/TTLT-UBDT-BTC ngày
16/12/2011 của Ủy ban Dân tộc và Bộ Tài chính đÕn tháng 11/2012 có 48 tỉnh,
thành phố (đã báo cáo) có 31.119
1
người có uy tín được được hưởng chính sách
theo Quyết định số 18, tăng 2.576 người so với danh sách được lập theo Hướng
dẫn số 04 của Bộ Công an. Đã xác định có 19 tỉnh có số lượng người có uy tín
tăng (13.479 người), chủ yếu là các tỉnh miền núi phía Bắc, nhưng cũng xác
định có 27 tỉnh giảm (9.490 người), chủ yếu là các tỉnh phía Nam. Số người có
uy tín có tên trong danh sách Hướng dẫn số 04 được bầu để hưởng chính sách là
1
Theo số liệu chung cả 52 tỉnh là 32.522 người có uy tín (4 tỉnh Bình Dương, Quảng Ninh, Cần Thơ, TP
Hồ Chí Minh chưa có danh sách 05)
Thành phần dân tộc: Tày 5.026; Thái 3.904; Mường 3.288; Nùng 2.605; Mông 3.406; Dao 2.726; Ê đê
519; Ba Na 534; Chăm 372; Khơ me 1.645; Chơ ro 42; Hoa 475; Kinh 557; Chứt 26; Lào 50; Raglay 161; H’rê
252; Gia rai 799; Bru Vân kiều 206; Tà ôi 130; Mảng 19; Hà Nhì 63; Lự 19; Khơ mú 115; Kháng 1; Giáy 203;

vậy đã quan tâm chỉ đạo, huy động lực lượng và đầu tư kinh phí để triển khai
thực hiện Chỉ thị; đã huy động được cả hệ thống chính trị tích cực tham gia
công tác này. Lực lượng Công an, đặc biệt là Công an nhiều địa phương đã làm
rất tốt chức năng nòng cốt, tham mưu và trực tiếp trong việc tổ chức thực hiện
tại địa phương, được lãnh đạo cấp ủy, chính quyền đánh giá rất cao sự đóng góp
của lực lượng công an đối với công tác này, đặc biệt đã phối hợp với các ngành
chặt chẽ với các đơn vị chức năng rà soát, lên danh sách đưa vào diện những
người có uy tín cần tranh thủ, vận động, đề xuất phân công, phân cấp lực lượng
trực tiếp tham gia công tác vận động tranh thủ; một số địa phương đã quan tâm
thực hiện tốt chính sách đối với người có uy tín, đã làm tốt công tác tranh thủ cá
biệt đối với những người có điều kiện để phục vụ cho công tác công an và đã
thu được nhiều kết quả quan trọng trong công tác này.
16
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác này đã bộc lộ một
số tồn tại, hạn chế và vướng mắc. Lãnh đạo cấp ủy, chính quyền một số địa
phương chưa nhận thức thống nhất, đầy đủ tầm quan trọng, phương pháp, cách
thức tiến hành nên trong chỉ đạo thực hiện chưa sâu sát. Do nhận thức chưa
thống nhất, nên việc phân công đơn vị chủ trì, đơn vị phối hợp ở nhiều tỉnh chưa
thống nhất, dẫn đến hình thức cách làm khác nhau. Việc ban hành chính sách
đối với người có uy tín để được hưởng chính sách phải bằng bỏ phiếu, mỗi năm
xem xét bầu một lần và mỗi bản chỉ được bầu một người và phải có hộ khẩu
thường trú ở vùng DTTS, gương mẫu chấp hành chính sách của Đảng và Nhà
nước có điểm chưa phù hợp, cần được nghiên cứu, sửa đổi. Việc không hướng
dẫn sự phân công, phân cấp, định rõ trách nhiệm của các cấp, từng cơ quan từ
Trung ương đến cấp cơ sở theo Quyết định 18 và Thông tư 05 đã gây khó khăn,
lúng túng cho địa phương. Việc trao đổi thông tin và sự phối hợp giữa các ban,
ngành nhất là trong việc lập danh sách người có uy tín chưa chặt chẽ, cụ thể nên
việc rà soát, xác định và lập danh sách người có uy tín đưa vào diện vận động
chưa sâu sát, sự thống nhất và phân công, phân cấp tổ chức, cá nhân trực tiếp
làm công tác vận động chưa cụ thể. Đa số người uy tín là già làng, trưởng bản

công tác vận động, tổ chức đưa người có uy tín đi thăm quan, trao đổi kinh
nghiệm do lực lượng công an tham mưu ở nhiều tỉnh chưa thống nhất, một số
nơi không giao đơn vị trinh sát chủ trì trong lựa chọn đối tượng, trực tiếp đưa
đoàn đi thăm quan… dẫn đến hiệu quả công tác tranh thủ cá biệt còn hạn chế;
thực hiện chế độ thông tin, báo cáo chưa kịp thời, nghiêm túc. Một số địa
phương chưa có dự toán, đề xuất cụ thể trình UBND tỉnh cấp kinh phí cho lực
lượng Công an để phục vụ công tác vận động tranh thủ cá biệt người có uy tín
do đó hạn chế kết quả công tác tranh thủ v.v.
3. Kết quả thực hiện công tác vận động, phát huy vai trò của người
có uy tín trên các lĩnh vực của đời sống xã hội
- Tuyên truyền, vận động thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng,
chính sách pháp luật của Nhà nước nói chung, chính sách dân tộc nói riêng là
trách nhiệm của nhiều cấp bộ, ngành từ Trung ương tới địa phương. Xác định
công tác tuyên truyền giáo dục, phổ biến pháp luật là một nội dung trọng tâm,
xuyên suốt của phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc nhằm nâng cao
nhận thức của mọi tầng lớp nhân dân về đường lối, chủ trương, chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước, trong đó đặc biệt coi trọng việc phổ biến các
chính sách dân tộc. Bộ Thông tin và Truyền thông đã chỉ đạo các cơ quan thông
tấn, báo chí dành nhiều trang, bài, thời lượng phát thanh, truyền hình để tuyên
truyền chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước liên quan đến
chính sách dân tộc; tổ chức nhiều hình thức tuyên truyền về gương người tốt,
việc tốt, điển hình tiên tiến tiêu biểu của các địa phương trên nhiều lĩnh vực.
Các địa phương đã tổ chức hàng ngàn cuộc vận động tập trung, với hàng
triệu lượt người tham gia về nội dung xây dựng chính quyền cơ sở, nâng cao
cảnh giác cách mạng, phòng chống âm mưu diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ
của các thế lực thù địch, tham gia phòng chống các loại tội phạm, trong đó có
vai trò đóng góp to lớn của người có uy tín.
18
Thông qua hình thức tuyên truyền qua các phương tiện thông tin đại
chúng và việc tổ chức các hội nghị biểu dương người có uy tín từ cấp cơ sở đến

ninh trật tự, bảo vệ biên giới... đã góp phần tuyên truyền, vận động đồng bào
các dân tộc thực hiện tốt hơn các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước,
tích cực thực hiện các phong trào thi đua yêu nước, xóa đói, giảm nghèo, đoàn
kết ở khu dân cư, vận động nhân dân xóa bỏ các hủ tục lạc hậu, giữ gìn và phát
19
huy bản sắc văn hóa, phát hiện, đấu tranh phòng ngừa tội phạm, hoạt động
chống phá của các thế lực thù địch qua đó đã củng cố, tăng cường khối đại đoàn
kết toàn dân, làm nền tảng của các phong trào cách mạng.
- Trong giữ gìn an ninh, quốc phòng và trật tự an toàn xã hội: Các lực
lượng công an, biên phòng đã trực tiếp vận động, tranh thủ người có uy tín
tuyên truyền vận động nhân dân trực tiếp tham gia thực hiện phong trào “Toàn
dân bảo vệ An ninh Tổ quốc”; phong trào “Quần chúng tham gia tự bảo quản
đường biên, cột mốc quốc gia và an ninh trật tự khu vực biên giới”, thực hiện đề
án “Vận động toàn dân tham gia phòng, chống ma túy”. Đồng bào DTTS đã
cung cấp hàng ngàn tin có giá trị cho lực lượng công an, quân đội triệt phá các
vụ án hình sự, vụ án liên quan ma túy... qua đó đã nâng cao chất lượng hoạt
động phong trào ở cơ sở, nâng cao chất lượng hoạt động của các phong trào ở
cơ sở, nâng cao nhận thức cho các tầng lớp nhân dân về tác hại của ma túy,
không tham gia vận chuyển, buôn bán, tàng trữ, sử dụng ma túy; không tin,
không nghe, không làm theo những luận điệu lôi kéo, ép buộc, kích động của kẻ
xấu; không truyền đạo trái pháp luật, vượt biên trái phép, gây rối trật tự xã hội,
nhất là các thủ đoạn tập hợp, lôi kéo đồng bào các dân tộc thiểu số tham gia các
tổ chức phản động... góp phần giữ vững an ninh biên giới, đảm bảo tốt an ninh
trật tự tại cơ sở.
Trong những năm qua, tình hình an ninh nông thôn ở một số vùng dân tộc
thiểu số vẫn còn tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp, nổi lên là vấn đề tranh chấp đất
đai giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với tập thể, giữa người Kinh với
người đồng bào tại chỗ ở nhiều nơi trở lên gay gắt. Do trình độ dân trí hạn chế,
đồng bào chưa được tuyên truyền đầy đủ về chủ trương chính sách của Đảng,
pháp luật của Nhà nước, nhất là quản lý về mặt đất đai, nhiều người chưa khái

tiên tiến về xây dựng đời sống văn hóa trong đồng bào các dân tộc đã được hình
thành và phát triển, người có uy tín đã đi đầu trong việc bảo tồn và phát huy các
giá trị văn hóa truyền thống quý báu của các dân tộc như các lễ hội, Tết cổ
truyền, các phong tục tập quán tốt đẹp như: Tết cổ truyền, Tết Độc lập 2.9, lễ cổ
truyền trong dân tộc Mông; lễ Katê, tháng lễ Ramadan trong dân tộc Chăm; Tết
Chol Ch’nam Th’may trong dân tộc Khơ me; các lễ hội xuống đồng, mừng cơm
mới trong đồng bào các dân tộc Tây Nguyên; tổ chức sưu tầm và giữ gìn các
điệu hát, múa, các sản phẩm văn hóa phi vật thể đã được quốc tế công nhận là di
sản văn hóa của nhân loại; các loại nhạc cụ dân tộc, tổ chức các đội văn hóa để
truyền dạy chữ, tiếng dân tộc; thi ứng xử, thi trình diễn các trang phục dân tộc
trong phạm vi tỉnh, thành phố và trong phạm vi cả nước. Các hoạt động trên đã
vận động được cả cộng đồng tham gia và gìn giữ, trong đó có vai trò nổi bật của
người có uy tín.
4. Đánh giá chung
- Ưu điểm: Qua gần 5 năm triển khai thực hiện, về mặt nhận thức, các bộ,
ngành và cấp uỷ, chính quyền các địa phương liên quan đều đã thấy rõ vai trò,
tầm quan trọng đặc biệt của người có uy tín đối với công cuộc xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc; vì vậy đã quan tâm chỉ đạo, huy động lực lượng và đầu tư kinh phí
21
để triển khai thực hiện Chỉ thị; đã huy động được cả hệ thống chính trị tích cực
tham gia công tác này. Lực lượng Công an, đặc biệt là Công an nhiều địa
phương đã làm tốt chức năng nòng cốt, tham mưu và trực tiếp trong việc tổ
chức thực hiện; đã phối hợp với các ngành chức năng rà soát, lên danh sách đưa
vào diện những người có uy tín cần tranh thủ, sử dụng; một số địa phương đã
quan tâm thực hiện tốt chính sách đối với người có uy tín, đã làm tốt công tác
tranh thủ cá biệt đối với những người có điều kiện để phục vụ cho công tác công
an và đã thu được nhiều kết quả quan trọng trong công tác này.
- Tồn tại: Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác này đã
bộc lộ một số tồn tại, hạn chế và vướng mắc: Một số bộ, ban, ngành và UBND
một số tỉnh chưa thấy hết tầm quan trọng của công tác này, còn cho rằng đây là

việc triển khai trên thực tế chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra trong
tình hình mới.
5. Bài học kinh nghiệm trong công tác vận động, phát huy vai trò của
người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Qua thực tiễn công tác đối với người có uy tín, có thể rút ra một số bài
học như sau:
5.1. Công tác người có uy tín trong dân tộc đạt kết quả mức độ nào điều
quan trọng là phải nắm chắc tình hình, xác định đúng, phân loại rõ, cụ thể phạm
vi uy tín, ảnh hưởng và tác dụng từng người có uy tín.
Dù lực lượng nào, ngành nào khi thực hiện công tác đối với người có uy
tín đều phải điều tra, nghiên cứu, nắm được tâm lý, hoàn cảnh, điều kiện của
từng người và phong tục tập quán của từng dân tộc để áp dụng nội dung, biện
pháp, hình thức tiếp xúc, tranh thủ, sử dụng để phát huy hiệu quả trong công
tác.
Người có uy tín trong dân tộc thiểu số thuộc nhiều thành phần, khả năng,
vai trò, vị trí, phạm vi uy tín, ảnh hưởng của mỗi người cũng khác nhau. Mỗi
người có uy tín chỉ có tác dụng trong những phạm vi lĩnh vực nhất định; không
phải lĩnh vực nào người có uy tín đều phát huy tác dụng như nhau, không phụ
thuộc vào ranh giới hành chính; nhiều khi uy tín của họ vượt ra khỏi biên giới
quốc gia do có mối quan hệ dân tộc, dòng họ, quan hệ thân thiết làng bản hoặc
có vị trí trong xã hội... Vấn đề cốt lõi trong công tác với người có uy tín là phải
đánh giá đúng khả năng từng người; uy thế và sự chi phối rộng hay hẹp, sâu sắc
hay bình thường; uy tín thực sự hay do một yếu tố nào tạo nên, từ đó tính toán
yêu cầu phục vụ công tác mới đạt hiệu quả.
Nghiên cứu, xác định đúng người có uy tín là điều kiện quan trọng hàng
đầu. Cho nên phải tiến hành điều tra, khảo sát, phân tích và căn cứ vào tiêu chí
để đối chiếu, so sánh, cân nhắc xác định đúng từng người thực sự có uy tín.
Đồng thời chủ động phát hiện những người có khả năng, điều kiện phát triển trở
thành người có uy tín phát huy ảnh hưởng sau này để chủ động bồi dưỡng phát
huy những khả năng uy tín của người đó phục vụ công tác lâu dài. Khi đã điều

cũng nhằm bảo vệ những người có uy tín, vừa đảm bảo độ tin cậy và gắn bó mật
thiết với ta.
5.4. Xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên sâu có đủ khả năng, trình độ và bố
trí ổn định triển khai công tác người có uy tín ở vùng dân tộc.
Đội ngũ cán bộ làm công tác người có uy tín có vai trò, vị trí hết sức cần
thiết, có ảnh hưởng quan trọng tới hiệu quả công tác này. Muốn vậy, cán bộ
phải được bố trí chuyên sâu, thực sự có năng lực, có trình độ nắm bắt được
24
đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; có kiến thức, am hiểu
dân tộc, phong tục tập quán, có kiến thức xã hội, kiến thức địch tình, có kinh
nghiệm và có tinh thần chịu đựng gian khổ gần gũi với đồng bào dân tộc, được
dân tin là những điều kiện rất quan trọng có tính quyết định trong công tác đối
với người có uy tín.
Tóm lại: Công tác đối với người có uy tín là nghệ thuật trong vận động
đồng bào dân tộc. Muốn phát huy cao hiệu quả vai trò, tác dụng người có uy tín
trong công cuộc vận động cách mạng thực hiện sự nghiệp đổi mới ở vùng dân
tộc thiểu số, nhất là sự nghiệp giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm an ninh trật
tự, điều quan trọng là phải nắm bắt được đặc điểm tâm lý, sinh hoạt truyền
thống của người dân tộc và khả năng tri thức, điều kiện, hoàn cảnh, môi trường,
mặt mạnh, mặt hạn chế của mỗi người có uy tín để kiên nhẫn, thận trọng, tích
cực, chắc chắn, tỷ mỷ, cụ thể kết hợp có lý, có tình là phương châm của nghệ
thuật công tác này. Mặt khác công tác đối với người có uy tín phải đảm bảo
nguyên tắc nắm được quần chúng cơ bản, nâng cao giác ngộ cho nhân dân các
dân tộc. Đồng thời giải quyết tốt mối quan hệ: có đội ngũ cán bộ dân tộc tại chỗ
đủ mạnh, thiết chế dân chủ ở cơ sở được củng cố và phát huy; người có uy tín
trong dân tộc được đặt đúng vị trí quan trọng trong chiến lược an ninh quốc gia
trong vùng dân tộc thiểu số là cơ sở cho tiến trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status