Uỷ ban Dân tộc
Kỷ yếu khoa học
D N điều tra tri thức địa phơng của
các dân tộc thiểu số vùng cao phía bắc
trong khai thác, sử dụng tài nguyên thiên
nhiên và bảo vệ môi trờng Cơ quan quản lý: Uỷ ban Dân tộc
Cơ quan chủ trì: Trờng Cán bộ dân tộc
Chủ nhiệm: TS. Hoàng hữu bình
7654-1
02/02/2010
Hà Nội 2009
ThS. Nguyễn Khuê,
Trờng Cán bộ dân tộc
81
6 Tri thức địa phơng các DTTS vùng cao phía
bắc trong khai thác, sử dụng tài nguyên nớc
PGS. TS. Lê N
g
ọc Thắn
g
,
Trờng Cán bộ dân tộc
109
7 Tri thức địa phơng các DTTS vùng cao phía
bắc trong khai thác, sử dụng tài nguyên rừng
và BVMT
Hà Thị Kim Oanh, Vụ
Kế hoạch- tài chính
126
8 Tri thức địa phơng trong sử dụng, bảo vệ và
quản lý tài nguyên nớc của ngời Mờng
(N/C trờng hợp)
Vũ Thanh Hiền, Viện
Dân tộc học
157
9 Giải pháp bảo vệ môi trờng vùng dân tộc
thiểu số, miền núi tỉnh Sơn La
Lê Thị Thiềm,
Trờng Cán bộ dân tộc
175
10 Tri thức địa phơng các DTTS vùng cao Tây
257
15 Tỉnh Bắc Kạn Lý Thị Ba, TB Dân tộc 282
16 Tỉnh Lai Châu Giàng A Tính,
TB Dân tộc
298
III Chuyên đề cấp huyện 317
17 Huyện Tân Lạc, Hoà Bình KS. Bùi Văn Tn, TP
Tài nguyên, môi trờng
317
18 Huyện Bạch Thông, Bắc Kạn KS. Nguyễn Văn Nghĩa,
TP Tài nguyên, môi trờng
346
19 Huyện Xín Mần, Hà Giang CN Hoàng Thị Linh,
TP Tài nguyên, môi trờng
354 3
I. Chuyên đề cấp trung ơng Một số vấn đề chung
về tri thức dân gian (địa phơng)
TS. Hoàng Hữu Bình,
Trờng Cán bộ dân tộc
1. Khái niệm và vai trò của tri thức dân gian
1.1. Nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan bởi con ngời, là quá trình
tạo thành tri thức trong bộ óc chúng ta về hiện thực khách quan. Nhờ nhận thức, chúng
ta mới có ý thức về thế giới. Nếu kết cấu của ý thức đợc phân chia theo chiều ngang
4
traditionnelles) và với tri thức bản địa (indigenous knowledge, connaissances
indigenes). Ngợc lại, một số nhà nghiên cứu đã phân biệt sự khác nhau ở một vài khía
cạnh của bốn thuật ngữ này. Hơn nữa cũng có nhà khoa học đã dịch cụm từ folk
knowledge ra tiếng Việt là kiến thức dân gian, cho nên các cụm từ traditional
knowledge, local knowledge, indigenous knowledge đều đã đợc chuyển dịch thành kiến
thức truyền thống, kiến thức địa phơng, kiến thức bản địa.
Đặc biệt hơn, thuật ngữ folklore do nhà khảo cổ học ngời Anh William J. Thoms đa
ra lần đầu tiên trong một bài báo nhỏ kí bút danh là Ambrose Merton đăng trên tờ Tạp
chí Athnaeum, số ra ngày 22 tháng 8 năm 1846 ở Luân Đôn, có lẽ mới đầu chỉ hàm
chứa một nội dung đơn giản nh Tri thức, trí tuệ của dân chúng, hoặc tri thức dân
gian. Nhng sau đó, do bộ môn khoa học nhân văn này phát triển rộng ra toàn thế giới,
nên hàm nghĩa của nó cũng đợc mở rộng nh: Dân tục học, Văn học dân gian,
Văn nghệ dân gian, Văn hoá dân gian, Chính vì thế, hiện nay tri thức dân gian
chỉ còn tồn tại nh là một thành tố của Văn hoá dân gian (folklore), và ở một chừng
mực nào đó đợc hiểu tơng đơng với các cụm từ thuật ngữ : Tri thức địa phơng, tri
thức truyền thống, tri thức bản địa (nhất là trong không gian văn hoá- xã hội của từng
tộc ngời thiểu số ở Việt Nam).
Còn tri thức khoa học hiện đại (hay tri thức hàn lâm) đợc thừa nhận là tơng đơng với
cụm từ thuật ngữ bằng tiếng Anh, tiếng Pháp: modern scientific
knowledge,connaissances scientifiqnes modernes (academic knowledge,
connaissances académiques). Tức là những hiểu biết đợc hình thành bởi cá nhân hay
tập thể các nhà khoa học, đợc hệ thống hoá và truyền lại qua sách vở, hoặc là một hệ
thống những kiến thức đợc tích luỹ trong quá trình lịch sử, đợc thực tiễn kiểm chứng,
và phản ánh những quy luật khách quan của thế giới bên ngoài cũng nh
của hoạt động
tinh thần của con ngời, giúp con ngời có khả năng cải tạo, biến cải thế giới hiện thực.
Những tri thức này rất khách quan, chính xác, có hệ thống và rất phù hợp với đòi hỏi
của khoa học hiện nay. Loại tri thức khoa học hiện đại này có thể bao gồm những dạng
đợc tích luỹ và đợc thay thế ở mức độ đáng kể bởi những kinh nghiệm của nhiều thế
hệ và đợc khái quát thành tri thức kinh nghiệm và tri thức lí luận. Vậy tri thức kinh
nghiệm và tri thức lí luận là gì?
Tri thức kinh nghiệm là loại tri thức mà nội dung của nó về cơ bản là thu nhận đợc từ
kinh nghiệm, từ quan sát và thực nghiệm. ở trình độ tri thức này, đối tợng của nhận
thức đợc phản ánh từ bình diện các đặc tính và các mối liên hệ bên ngoài của sự vật.
Hay nói một cách khác, tri thức kinh nghiệm là tri thức nảy sinh một cách trực tiếp từ
thực tiễn, từ lao động sản xuất, đấu tranh xã hội hoặc thực nghiệm khoa học
(3)
. ở đây, tri
thức kinh nghiệm đợc giới hạn ở lĩnh vực cá sự kiện, miêu tả, phân loại những dữ kiện
thu nhận đợc từ quan sát và thực nghiệm. Tri thức kinh nghiệm đã mang tính trừu
tợng và khái quát, song mới là bớc đầu và còn hạn chế bởi nó chỉ mới đem lại sự hiểu
biết về các mặt riêng rẽ, về các mối liên hệ ở bên ngoài của sự vật và còn rời rạc. ở trình
độ tri thức kinh nghiệm, chúng ta cha thể nắm bắt đợc cái tất yếu một cách sâu sắc
nhất và cha thể hiểu sâu đợc mối quan hệ bản chất giữa các sự vật, hiện tợng. Do đó,
sự quan sát dựa vào kinh nghiệm tự nó không bao giờ có thể chứng minh đợc đầy đủ
tính tất yếu (C.Mác và Ph.Ăngghen, 1994, tr. 718).
Vì vậy, không thể coi thờng tri thức kinh nghiệm
(4)
, nhng cũng không thể cờng
điệu tri thức kinh nghiệm, không nên dừng lại ở kinh nghiệm mà cần phát triển lên trình
độ lí luận. Lí luận là trình độ cao hơn về chất so với kinh nghiệm.Tri thức lí luận là tri
thức khái quát từ tri thức kinh nghiệm, đợc nâng lên ở trình độ cao hơn và thể hiện tính
đợc nội dung, bản chất của sự vật, chúng ta phải nhờ đến nhận thức lí tính. Những hình thức
cơ bản của nhận thức lí tính là khái niệm, phán đoán và suy lí. ở đây có thể hiểu thêm: Nhận
thức kinh nghiệm và nhận thức lí luận không đồng nhất với nhận thức cảm tính và nhận thức lí
tính, tuy chúng có quan hệ với nhận thức cảm tính và nhận thức lí tính, bởi vì trong nhận thức
kinh nghiệm đã bao hàm yếu tố lí tính. Do đó, có thể coi tri thức kinh nghiệm và tri thức lí luận
Còn khi đã tích luỹ đợc nhiều tài liệu về tri thức kinh nghiệm, cần phải có sự tổng kết,
hệ thống hoá, hoàn thiện hoặc phát triển chúng thành tri thức lí luận nhằm đa nhận
thức khoa học tiến xa hơn nữa.
Trong cuốn Dân tộc Nùng ở Việt Nam (1992), khi nói về tri thức dân gian, PGS. TS.
Hoàng Nam không có xu hớng nêu rõ quan niệm, mà chỉ dẫn ra những ví dụ rất cụ thể
nh tri thức đoán định thời tiết, tri thức chữa một số bệnh nan y bằng các bài thuốc dân
gian độc đáo, tri thức về cai đẻ, về bồi dỡng sức khoẻ cho các bà đẻ và tri thức nuôi
dạy con trẻ, (Hoàng Nam, 1992, tr.182). Nhng đến cuốn Bớc đầu tìm hiểu văn hoá
tộc ngời, văn hóa Việt Nam, ông đã nêu bật đợc vai trò của tri thức trên con đờng
tiếp cận chân lí: Trớc khi có chữ viết, trớc khi có những ngời làm văn chơng
chuyên nghiệp, văn học nghệ thuật dân gian là kho tàng tri thức dân gian, và cộng đồng
dân c chính là ngời chuyên chở kho tri thức đó từ thế hệ này sang thế hệ khác. Trải
qua hàng ngàn năm lao động, nhiều ngời dân tự tổng kết từ thực tiễn, rút ra những tri
thức quan trọng trên nhiều mặt của cuộc sống Và trên con đờng tiếp cận chân lí, tri
thức khoa học đóng vai trò chủ đạo, song tri thức dân gian cũng xứng đáng có vị trí của
mình. Trân trọng tri thức dân gian là trân trọng một chân lí khách quan (Hoàng Nam,
1998, tr.25-28).
Muốn hiểu rõ hơn về vấn đề này, chúng ta cũng nên tham khảo thêm quan niệm của GS.
TS. Ngô Đức Thịnh về tri thức dân gian. Chẳng hạn nh tri thức dân gian (tri thức địa
phơng) là tri thức phi học đờng, là vốn kinh nghiệm mà con ngời tích luỹ đợc qua
quá trình hoạt động lâu dài nhằm thích ứng và biến đổi môi trờng tự nhiên và xã hội,
phục vụ lợi ích vật chất và tinh thần cho bản thân. Vốn tri thức ấy tồn tại và phát triển
chủ yếu không thông qua con đờng học vấn và sách vở, mà thờng truyền tụng và làm
phong phú hơn thông qua trí nhớ và truyền miệng, qua các câu châm ngôn, thành ngữ,
tục ngữ, qua thực hành lao động nghề nghiệp hàng ngày của ngời nông dân, thợ thủ
công, ngời đánh cá và chăn nuôi Có thể phân chia vốn tri thức dân gian của các dân
tộc ra thành các loại: 1) Tri thức về tự nhiên và môi trờng, 2) Tri thức về bản thân con
ngời, 3) Tri thức về sản xuất, 4) Tri thức về quản lí xã hội, cộng đồng (Ngô Đức Thịnh,
7
nơng của đồng bào thiểu số dễ tạo ra môi trờng sống tuyệt vời cho loại muỗi mang
bệnh sốt rét này, do vậy dễ dàng truyền lây kí sinh trùng sốt rét cho con ngời. Trớc
đây, trong khi ngời Việt ở đồng bằng châu thổ sông Hồng không muốn di c lên các
vùng miền núi phía Bắc nớc ta vì sợ mắc bệnh sốt rét, thì các dân tộc thiểu số lại sống
đợc ở đó hàng thế kỉ, thậm chí hàng ngàn năm. Tại sao ngời dân tộc thiểu số lại có
thể tồn tại và phát triển trong một môi trờng mà đối với ng
ời Việt là bệnh tật, chết
chóc? Có lẽ là do vấn đề liên quan đến mối tơng tác giữa văn hóa và môi trờng, hoặc
hơn thế, là do việc thích nghi văn hoá của các dân tộc thiểu số bản địa. Một trong những
(5)
Nhng trong cuốn sách Tìm hiểu luật tục các tộc ngời ở Việt Nam (Nxb. KHXH, 2003,
tr.384) tác giả lại chia tri thức dân gian (hay tri thức địa phơng, tri thức bản địa, ) thành năm
lĩnh vực nh: 1) Tri thức về môi trờng tự nhiên, 2) Tri thức về lao động sản xuất, 3) Tri thức về
sáng tạo nghệ thuật, 4) Tri thức về bản thân con ngời , 5) Tri thức về ứng xử và quản lý cộng
đồng.
8
thích nghi quan trọng nhất này là tập quán sinh sống trong nhà sàn của họ, nhốt các vật
nuôi dới sàn nhà và đun nấu trong nhà. Nhìn chung, muỗi anopheles minimus thờng
bay cao khoảng một mét so với mặt đất, trong khi đó nhà sàn cao từ hai mét trở lên, do
đó hầu hết muỗi anopheles minimus ít khi chạm trán với con ngời. ở dới gầm nhà sàn
có nuôi gia súc, gia cầm nên chúng đã trở thành mục tiêu cho những con muỗi sốt rét
tấn công. Do vậy, những con vật nuôi bị đốt, chứ không phải con ngời sống ở tầng trên.
Hơn nữa, khói bếp đun nấu trong nhà cũng có thể góp phần đẩy lùi muỗi anopheles
minimus muốn tìm cách bay lên chỗ ngời ở.
Ngợc lại, do tập quán sinh sống trong nhà đất (nhà xây ngay trên nền đất), nuôi gia
súc, gia cầm trong các chuồng nằm cách biệt với nơi ở và nấu nớng trong bếp xây
riêng nên ngời Việt bị muỗi sốt rét đốt thờng xuyên.
(6)
Việt đã chủ động tiếp thu các tri thức dân gian về phòng chống sốt rét của những tộc ngời bản
địa, cùng nhau khai quang các dải rừng rộng lớn và be bờ các con suối để làm ruộng lúa, do đó
vô hình chung họ đã làm mất đi môi trờng sinh sống thích hợp của muỗi anopheles minimus.
Điều này đã ít nhiều làm biến đổi vùng các dân tộc thiểu sô phía Bắc nớc ta thành một môi
trờng lành mạnh hơn cho con ngời, cho phép dân số của ngời Việt tăng rất nhanh
9
đợc trong những điều kiện đã biến đổi. Điều này là hoàn toàn đúng với nền văn hoá
của ngời Việt và nền văn hoá của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam.
1.3. Tri thức dân gian hiện diện ở đâu ?
Theo khái niệm đã trình bày, chúng ta dễ dàng nhận ra rằng tri thức dân gian có mặt ở
hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội nh:
- Trong nông lâm nghiệp có tri thức sản xuất lơng thực thực phẩm, tri thức chế biến,
cất trữ lơng thực, hạt giống, tri thức tới tiêu, sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu từ cây
cỏ,tri thức luân canh nơng rẫy, tri thức thu hái, sử dụng và quản lí nguồn tài nguyên
thiên nhiên (khai thác, chế biến lâm sản, quản lí nguồn nớc, sông suối, kinh nghiệm
săn bắt thú rừng, kinh nghiệm bảo vệ rừng đầu nguồn, kinh nghiệm thu hái, sử dụng sản
phẩm trong rừng nh rau, nấm rừng, hoa quả, củ rừng và nhiều lâm sản khác) và tri thức
chăn nuôi (chọn giống gia súc gia cầm, quản lí bãi chăn thả theo mùa và các loại thức
ăn cho gia súc gia cầm, ).
- Trong y dợc học có tri thức bảo vệ sức khoẻ cho con ngời và vật nuôi (kinh nghiệm
phòng, chữa bệnh cho cá nhân, cộng đồng và vật nuôi; kinh nghiệm chọn lựa, chế biến
và bảo quản đồ ăn thức uống; thu hái và quản lí cây dợc liệu trong thiên nhiên, ).
- Trong giáo dục và đào tạo có hệ thống truyền thụ tri thức nuôi dạy con trẻ qua các thế
hệ, dòng họ, gia đình, cộng đồng.
- Trong tổ chức và quản lí cộng đồng có các hình thức tổ chức cộng đồng, các phong tục
tập quán, các luật tục, hơng ớc, khoán ớc (quy ớc tự quản của làng) nhằm đảm bảo
các hoạt động sản xuất cũng nh xây dựng, điều chỉnh các mối quan hệ xã hội tốt đẹp
tại các làng bản ở Việt Nam.
- Trong dự báo các hiện tợng thiên nhiên có tri thức về thời tiết, về đất đai, gió bão,
của cá nhân hay của tập thể các nhà khoa học, qua thử nghiệm, qua giáo dục và phổ cập
mới có thể tới đợc quần chúng nhân dân. Hơn nữa, tri thức khoa học hiện đại lại mang
tính trừu tợng và khái quát cao nên nó đem lại sự hiểu biết sâu sắc về bản chất, về tính
quy luật của các sự vật, hiện tợng khách quan. Vì vậy, tri thức khoa học hiện đại thể
hiện tính chân lí một cách sâu sắc, chính xác, hệ thống và có căn cứ khoa học hơn,
nghĩa là có tính bản chất sâu sắc hơn. Do đó, phạm vi ứng dụng của nó cũng phổ biến
rộng hơn nhiều so với tri thức dân gian .
Còn tri thức dân gian không giống với tri thức khoa học hiện đại ở chỗ nó đợc hình
thành chủ yếu dựa vào sự tích luỹ, mò mẫm, chứ không phải dựa vào các thí nghiệm
mang tính khoa học và có hệ thống. Nó là vốn tri thức của nhân dân lao động địa
phơng (hay của cộng đồng tộc ngời) đang đợc truyền lu trong dân chúng và đợc
ngời dân lao động địa phơng thực hành trong cuộc sống hàng ngày. Tri thức dân gian
rất có ích dụng trong việc quản lí môi trờng tự nhiên và xã hội (hệ sinh thái nhân văn).
Nó chứa đựng các giá trị văn hoá nh một nguồn thông tin có xu hớng dài lâu và
những sự cố bất thờng có thể không xảy ra trong khoảng thời gian mà các nhà khoa
học đang tiến hành nghiên cứu ở ngay địa phơng (hay tộc ngời) đó. Tuy nhiên, tri
thức dân gian của nhân dân lao động địa phơng (hay của cộng đồng tộc ngời) thờng
khó so sánh đợc với những tri thức khoa học hiện đại. Chẳng hạn nh: Những ngời
nông dân ở vùng cao không biết gì về vi sinh vật và nấm bệnh bởi vì họ không có tri
thức khoa học về vi sinh vật học và kĩ thuật thích hợp để lĩnh hội chúng. Nhng họ lại
có thể nhận ra rằng cây họ đạu có khả năng cải tạo độ phì nhiêu cho đất mà họ không
thể hiểu vì sao điều đó thờng xảy ra. Có lẽ đây là điểm hội tụ giữa tri thức dân gian
của nhân dân lao động địa phơng và tri thức khoa học hiện đại của các nhà khoa học.
Qua ví dụ này, theo chúng tôi, các nhà khoa học phải có nhiệm vụ nghiên cứu, học hỏi
tri thức dân gian và phải sử dụng vốn tri thức này nh một nguồn ý tởng và giả thiết,
đồng thời kiểm tra nguồn giả thiết đó trong khuôn khổ của tri thức khoa học hiện đại.
Hơn nữa, các nhà khoa học phải ghi nhận và phân tích các giá trị độc đáo của tri thức
dân gian trong những điều kiện thích hợp, cụ thể để ứng dụng nguồn tri thức này vào
trong các chơng trình phát triển bền vững vùng các dân tộc thiểu số ở Việt Nam.
(Louise Grenier, 1997)
1.6. Một số hạn chế của tri thức dân gian
Chính việc xem xét một số đặc điểm của tri thức dân gian và sự khác nhau giữa tri
thức dân gian và tri thức khoa học hiện đại, chúng ta có thể rút ra một số hạn chế nhất
định của tri thức dân gian nh sau:
- Do tính địa phơng (hay tính bản địa, tính tộc ngời) rất cao, nên tri thức dân gian khó
phổ biến rộng sang cộng đồng dân c (hay cộng đồng tộc ngời) khác.
- Do độ chính xác kém hơn tri thức khoa học hiện đại, nên rất khó cho việc sử dụng tri
thức dân gian để đo đạc và kiểm tra thực hành. Trong thực tế ở vùng cao nớc ta, một số
tri thức dân gian có liên quan đến tập tục du canh quay vòng có thể không còn phù hợp
nữa do áp lực ra tăng dân số.
Nh vậy, không thể cho rằng quan niệm truyền thống của nhân dân lao động địa
phơng về tri thức dân gian của họ, về mối quan hệ gắn kết giữa con ngời với môi
trờng thiên nhiên đã thể hiện một cách hoàn chỉnh, khoa học. Rõ ràng trong quan niệm
truyền thống về tri thức dân gian và mối quan hệ giữa con ngời với thiên nhiên đã
không dựa trên cơ sở khoa học chính thống, mà thờng dựa vào kinh nghiệm đến mức
mê tín, duy tâm, thần bí. Nhân dân lao động địa phơng đã sống trong nền văn hoá dân
gian của họ, trong mối quan hệ khăng khít với môi trờng thiên nhiên và xã hội qua
hàng thế kỉ, nên tri thức dân gian của họ đã đợc thử thách qua áp lực chọn lọc mạnh
mẽ và dài lâu trong quà trình tiến hoá của môi trờng thiên nhiên và xã hội; đồng thời
cũng là một tiến trình tích luỹ qua kinh nghiệm, chiêm nghiệm, và sự thích ứng nhờ tiếp
xúc chặt chẽ với những điều kiện tự nhiên và xã hội đặc thù.
12
Mặc dù là nh vậy, nhng tri thức dân gian vẫn có vai trò rất to lớn trong môi trờng tự
nhiên và xã hội của mỗi tộc ngời, là nguồn tài nguyên quốc gia quan trọng, có thể giúp
ích rất nhiều cho tiến trình phát triển bền vững của cộng đồng dân tộc theo phơng
châm ít tốn kém, có sự tham gia tích cực của nhân dân lao động địa phơng (hay của tộc
ngời) và đạt đợc những thành quả nhất định trong các lĩnh vực nh văn hoá, nông lâm
lễ hội truyền thống và các giải pháp tổ chức, quản lí cộng đồng làng xã, Nhng đáng
tiếc, kho tri thức dân gian này còn ít đợc chú ý su tầm, phân tích, nghiên cứu và vận
dụng trong những dự án phát triển bền vững ở miền núi cũng nh ở nông thôn vùng
đồng bằng nớc ta.
Nh vậy, ở Việt Nam, tri thức dân gian (tri thức bản địa) đang đợc các chuyên gia kĩ
thuật, nhà nghiên cứu khoa học, nhà quản lí ngày càng quan tâm hơn. Bởi vì tri thức dân
gian (tri thức bản địa) không chỉ có giá trị về kĩ thuật, về giải pháp phát triển bền vững,
mà còn là một kho tài nguyên văn hoá dân gian vô giá của nhân loại, cần đợc bảo vệ và
sử dụng có hiệu quả (Bulmer, 1982). Và cũng cần phải nói thêm rằng, hiện nay tuy các
dự án phát triển bền vững vùng cao mới bắt đầu có sự chuyển biến rõ về việc sử dụng tri
thức dân gian (tri thức bản địa) trong sự kết hợp với tri thức khoa học hiện đại, nhng
còn rất khiêm tốn, hi vọng rằng sẽ có không ít cơ quan khoa học thu thập, nghiên cứu
và ứng dụng tri thức dân gian (tri thức bản địa) vào các dự án nhiều hơn nữa nhằm bảo
đảm cho sự phát triển bền vững miền núi ở nớc ta.
14
Nhìn chung tri thức dân gian các dân tộc Việt Nam thờng thể hiện trên các lĩnh vực
nh:
- Tri thức dân gian về môi trơng tự nhiên
- Tri thức dân gian về dinh dỡng và trị bệnh
- Tri thức dân gian về trồng trọt và chăn nuôi
- Tri thức dân gian về nuôi dạy con trẻ và quản lý cộng đồng thôn bản
2. Tại sao phải quan tâm tới tri thức dân gian của các dân tộc ở Việt Nam ?
Cách mạng khoa học kĩ thuật và sự phát triển xã hội trong nhiều năm qua đã cho thấy:
- Nhiều giải pháp phát triển du nhập từ bên ngoài vào không có tính khả thi về kinh tế,
hoặc không thích ứng về văn hoá, nên bị thải trừ dần dần. Trong khi đó những tri thức
dân gian của địa phơng (hay của tộc ngời) không đợc khai thác, áp dụng vào các
chơng trình phát triển miền núi Ví dụ, dự án trồng rừng ở Việt Nam đã không chú ý
tới cây bản địa mà chỉ tập trung đầu t cho cây nhập nội nh bạch đàn, thông, keo, do
vậy đã không đợc ngời nông dân miền núi hởng ứng và chăm sóc, bảo vệ lâu dài.
Nam trong cuốn Dân tộc Nùng ở Việt Nam, Nxb. Văn hoá dân tộc, Hà Nội,1992, tr.124.
15
hình trụ. Nhờ lớp màng này, cầm cơm ăn rất dẻo, rất thơm ngon và không hề dính
tay.Trong các ngày lễ hội quan trọng, hoặc khi có khách quý đến nhà, cơm lam là món
ăn dân tộc đặc sắc nhất. Nhng ngày nay, đồng bào không còn (hoặc rất ít) giữ đợc
loại tre này, và cơm lam từ ống giang, ống tre đã bị xuống cấp, không còn giữ đợc
nét văn hóa xa trong lĩnh vực ẩm thực của đồng bào Tày, Thái, Nùng nữa.
Vậy có thể nhận ra rằng, nếu chúng ta quý trọng và đánh giá đúng vai trò của tri thức
dân gian (tri thức bản địa) thì chúng ta đã góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị
văn hoá dân gian của các dân tộc ở Việt Nam.
3. Tri thức dân gian về khai thác, quản lí tài nguyên, môi trờng
3.1. Tài nguyên khí hậu và đất rừng
Từ xa xa, đồng bào các dân tộc ở Việt Nam đã biết tiên đoán thời tiết khí hậu mà
không cần đến các tính toán khoa học. Cả hiện nay nữa, cũng có những ngời hiểu biết
đã dự đoán thời tiết, khí hậu chính xác không kém. Họ biết đợc những điềm trong
thiên nhiên và những điềm đó lại là các dấu hiệu chính đã giúp cho họ tiên đoán đợc
thời tiết, khí hậu, thấy trớc đợc các trận lũ lụt, xác định rõ mất mùa hay đợc mùa, và
nhận biết đợc nhiều hiện tợng sắp tới của thiên nhiên mà không cần biết về nguồn gốc
thật sự của chúng. Từ bao thế hệ kế tiếp nhau, đồng bào đã quan sát thấy tính chất lặp
lại, tính chất chu kì của tự nhiên. Mặc dù không hiểu một cách hệ thống mối quan hệ
nguyên nhân của những hiện tợng trong tự nhiên, nhng đồng bào đã ghi nhận lại mối
liên hệ của chúng theo thời gian. Giống nh mặt trời báo trớc sự xuất hiện của nó lúc
bình minh bằng tiếng gà gáy, đồng bào đã nhận thấy đợc nhiều hiện tợng thiên nhiên
khác cũng gáy lên bằng các tín hiệu riêng trớc khi chúng xuất hiện. Họ rất lu ý là
nếu nh
có nhiều con bọ dừa xuất hiện thì sẽ đợc mùa, nếu chuồn chuồn bay thấp thì
trời sắp ma, còn bay cao thì trời sẽ nắng v.v Vô số dấu hiệu, hiện tợng trong thiên
nhiên đã báo cho ngời đi săn biết có thú rừng hay không, ngời dân cày biết đã đến lúc
phải xuống đồng cày hay cha Và có thể căn cứ vào một số dấu hiệu trên rừng núi,
; Vào
tiết xử thử ma nhiêù, nớc tràn đập (xử thử nặm quá phai)
(11)
; Mây bay về xuôi
(phơng nam) đa thóc lên gác bếp để sấy (vì ma), mây bay về phơng bắc đem thóc
ra dàn phơi (có nắng) (phả bân mừa keo khẩu lèo khỉn xá, phả bân pây hác khẩu thác
dàn têm); Ma sớm thì ở nhà giặt chăn (vì đến tra lại nắng tha hồ phơi phóng), ma
chiều vẫn ra đồng trồng ngô (vì trời chiều lợng ma thờng ít hoặc chỉ là ma bóng
mây) (phân dạu dú rờn rẳc và, phân vài oóc nà nẳm bắp), hoặc Ma buổi sớm thì
thóc đổ ra phơi ở dàn (phân dạu khẩu thác dàn); Sấm vào tháng Chạp, mang gánh đến
chết (phạ mà bơn lạp, th háp tẳm thai); Sấm vào tháng Giêng, khắp nơi đợc mùa
(phạ mà bơn chiêng, phiêng tỉ tỉ); Sám vào tháng Hai, nơi đợc nơi mất, nơi có ăn nơi
không (phạ mà bơn nhỉ, tỉ cụm tỉ cờng, mờng đảy kin mờng bấu); Mùng bảy
ngâu vào, mùng chín ngâu ra (xo chết đoi khau, xo cẩu đoi oóc),
(12)
Ngời Việt (Kinh) dự đoán thời tiết, khí hậu qua sự chiêm nghiệm các hiện tợng, các
điềm báo trớc sự thay đổi của thời tiết: Vảy mại thì ma, bối bừa thì nắng; Gió
nam đa xuân sang hè; Chớp đông nhay nháy, gà gáy thì ma; Cầu vồng mống cụt,
không lụt thì bão; Kiến dọn tổ thì ma; Mau sao thì nắng, vắng sao thì ma,
Ngời Hmông trông trăng để đoán thời tiết, khí hậu: Vòng gần chóng ma, vòng xa
thì lâu ma. Ngời Thái ở Tây Bắc nghe con chong đỏ (giống con cào cào) kêu thì hiểu
rằng trời sẽ chuyển từ nắng sang ma, và khi bắt cá dới suối thấy ít hơn bình thờng là
điềm báo trời sắp đổi thời tiết. Còn ngời Mờng ở Thanh Hoá thờng nhìn trăng, sao,
ráng mặt trời và ánh nắng để đoán thời tiết: Quầng dù thì cạn, quầng tán thì ma;
Sao mờ thì cạn, sao sáng thì ma; Ráng bông bầu trời lụt, ráng bông bụt trời cạn;
Nắng đợc mùa lúa ruộng, ma đợc mùa lúa rẫy
Nhìn chung, những điềm, những hiện tợng khí hậu trong thiên nhiên là một lĩnh vực
đáng lu tâm và độc đáo mà ngày nay cha đợc quan tâm nghiên cứu thấu đáo. Lĩnh
Để thích nghi với môi trờng tự nhiên và khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên, đồng
bào các dân tộc đã tìm ra biện pháp khai thác đặc sắc, trong đó chứa đựng sự kết hợp
giữa nhân tố môi trờng tự nhiên với nhân tố tộc ngời. Chẳng hạn,ngời Tày, Nùng đã
sớm biết cách xây dựng hệ thống ruộng bậc thang nhằm vừa giữ đợc nớc, độ ẩm, độ
phì nhiêu của đất trong điều kiện địa hình dốc, vừa góp phần ổn định sự cân bằng sinh
thái theo hớng có lợi cho cộng đồng. Có lẽ đây là biện pháp bảo vệ đất, chống xói mòn
rất hiệu quả, và đang đợc áp dụng rộng rãi ở nhiều nơi trên vùng cao nớc ta. Có thể
nói, từ xa tới nay, hệ thống ruộng bậc thang, cùng với hệ thống ruộng bằng đã góp
phần tạo nên những vùng trồng lúa tập trung của một số tộc ngời ở Việt Nam. Mặt
khác, trong quá trình trồng trọt, đồng bào đã sớm nhận ra hậu quả của quá trình rửa trôi,
xói mòn đất thờng xuyên xảy ra làm cho đất bị thoái hoá nhanh, nhất là ở những nơi
không còn lớp phủ thực vật. ở những nơi có địa thế dốc, đồng bào đã tìm cách khắc
phục bằng việc làm ruộng bậc thang để canh tác, còn ở những nơi không thể làm đ
ợc
ruộng bậc thang thì khi vun luống trồng hoa màu, khi gieo tỉa phải tuân theo hớng
đờng bình độ để cản bớt dòng chảy tràn khi ma to. Đặc biệt ở một số vùng, đồng bào
đã tiến hành đào rãnh khá sâu theo hớng đờng bình độ cũng với mục đích nh trên
(Viện Dân tộc học, 1992, tr.24-29). Hoặc ở những vùng núi đá vôi có địa hình cacxtơ
ngầm thờng thiếu nớc cho sản xuất và sinh hoạt, do đúc kết đợc kinh nghiệm (tri
thức dân gian) từ lâu đời mà đồng bào đã chọn lựa đợc các giống cây trồng chịu hạn tốt
hoặc có khả năng cho năng suất trong điều kiện thiếu nớc (Viện Dân tộc học, 1992,
tr.29).
Bên cạnh ruộng bậc thang còn có nơng rẫy mà chúng ta có thể xem nh là ví dụ thứ hai
của loại hình thích ứng với môi trờng tự nhiên. Trên nơng rẫy, đồng bào thờng sản
xuất một vụ vào thời kì ma ẩm, phần thời gian còn lại bỏ hoá tự nhiên để đất tự phục
hồi. Do vậy, tuy đất nơng rẫy đã đợc đồng bào sử dụng từ lâu đời trên các địa hình
dốc, nhng nó vẫn có khả năng cho năng suất cao. Nhằm duy trì tốt hơn độ ẩm và nhiệt
độ thích hợp, đồng bào đã sớm có tập quán trồng trọt theo kĩ thuật xen canh, gối vụ
(13)
.
Thiết nghĩ, những phong tục, quy ớc, thiết chế của thôn bản nh
vừa nêu trên có lẽ là
những tri thức dân gian không thể thiếu trong việc quản lý, bảo vệ đất làm nơng rẫy
của ngời Tày, Nùng ở Việt Nam.
Nh chúng ta đã biết, hầu hết nơng rẫy vùng Tày, Nùng thuộc hai loại: nơng bằng
(rẩy phiêng) và nơng dốc (rẩy phài hay rẩy lính). Dù canh tác nơng bằng hay nơng
dốc, ngời Tày, Nùng đều phải tuân theo một quy trình khép kín nh phát > đốt >
làm đất > trồng tỉa > làm cỏ > chăm bón > thu hoạch > bảo quản.
Cũng do làm nơng rẫy từ lâu đời nên đồng bào tích luỹ đợc nhiều kinh nghiệm chọn
đất làm nơng rẫy ở những nơi có thảm thực vật tơi tốt để khi phát, đốt đợc nhiều tro
làm phân bón cho cây trồng. Họ lại có kiến thức về phân loại đất khô : Đất đen hợp với
da gang, da bở; đất đỏ, lúa nơng (Đin đăm qua pheng, đin đeng khẩu rẩy), hay Đất
màu mỡ thì gieo hạt bông, đất bạc màu thì trồng đỗ nho nhoe (Đin đầy ván phải, đin
rại páng thúa giài), và giỏi xem địa thế, nhìn màu đất, đoán độ ẩm để trồng loại ngô, lúa
thích hợp. Lấy thí dụ, ngời Nùng An, Hà Giang dùng dao cắm xuống đất, rút lên thấy
đất bám vào thì nơi đó là đất có độ ẩm tốt, và đất màu đen thì gieo lúa tốt, Hoặc thời
- Nơng ngô thờng trồng xen đậu tơng, lúa miến, gừng, vừng hay lạc
- Nơng bông thờng trồng xen da
- Nơng sắn thờng trồng xen ngô gối vụ hay đậu tơng
19
điểm đốt nơng rẫy đợc đồng bào chọn không phải là tháng có nhiệt độ cao nhất mà lại
có độ ẩm thấp nhất (tháng ba dơng lịch: độ ẩm 73%), và vừa trải qua thời kỳ có lợng
ma ít nhất (vào các tháng từ tháng mời đến tháng hai năm sau). Đốt xong, đất nguội
là vào mùa gieo hạt, ở thời điểm này hạt sẽ nảy mầm và sinh trởng tốt.
Đặc biệt, theo kinh nghiệm của ngời Tày, Nùng, cấy trồng trên nơng rẫy phải tha,
dới ruộng nớc phải cấy mau : Nơng ăn sải, ruộng ăn gang (Rẩy kin và, nà kin
cháp), còn kỹ thuật canh tác nơng rẫy và ruộng nớc khác nhau ở chỗ : Nơng rẫy ủ
cành lá, ruộng ngâm nớc (Rẩy úm chà, nà úm nặm). Và một điều hiển nhiên là cấy
+ Bảo đảm rẫy khô đều, có thể đốt trong cùng một thời điểm, cũng nh lúa có thể
chín đều và thu hoạch trong cùng một thời điểm.
20
- Trong khi phát rẫy, bớt lại một số cây rừng để sau này làm bóng mát cho lúa,
hạn chế quá trình bốc hơi nớc của lúa trong điều kiện bức xạ ánh sáng cao ở Tây
Nguyên.
- Sau khi phát rẫy, dọn một phần cây xung quanh rẫy đa vào trong, tạo đờng
biên để tránh cháy lan ra rừng trong khi đốt.
- Chỉ phát và đốt rồi dùng gậy chọc lỗ, tra hạt. Tuyệt đối không thực hiện các tác
động cơ học vào đất nh cuốc, cày, xới, đào, nhằm mục đích vừa hạn chế tối đa xói mòn
đất do ma, vừa bảo đảm để cây trồng có năng suất khả quan.
- Thực hiện xen canh đồng thời nhiều loại cây trồng trên rẫy (lúa, ngô, bông, cà,
ớt, thuốc lá, bầu, bí, rau) nhằm:
+ Tiết kiệm đất
+ Hạn chế xói mòn đất do ma
+ Nâng cao hiệu quả sử dụng đất (có đợc khối lợng lớn nhất sản phẩm trồng
trọt trên một đơn vị diện tích trồng trọt)
+ Cùng một lúc, có đợc nhiều loại sản phẩm trồng trọt, phù hợp với cuộc sống
tự cấp tự túc tại chỗ
- Thực hiện luân canh trên mỗi đám rẫy, thẻotình tự: năm đầu đất còn tốt, trồng
lúa; năm thứ hai đất đã giảm độ phì trồng lúa xen ngô; năm thứ ba, nếu còn canh tác,
do đất đã bạc màu, trồng ngô xen lúa hay sắn; năm thứ t bỏ hóa.
- Quay vòng đất rẫy theo lối luân khoảnh khép kín, trong đó, mỗi đám rẫy chỉ
đợc canh tác một năm (trớc kia) hai, ba năm (ngày nay) rồi bỏ hóa, chuyển sang các
đám rẫy khác, để rồi 10 đến 15 năm sau, khi rừng đã mọc tốt, mới khai phá trở lại. Mục
đích của quay vòng rẫy luân khoảnh khép kín nhằm:
+ Không làm mất khả năng tái sinh rừng của đất
+ Khai thác hợp lý độ phì và chất dinh dỡng của đất
+ Bảo đảm để có năng suất cây trồng cao và ít bấp bênh
của mùa khô (Viện Dân tộc học, 1992, tr.24). Hệ thống mơng, phai, lái, lìn và hồ chứa
nớc, đợc tập trung xây dựng nhằm điều hoà lợng nớc hàng năm. Thực tế đã chỉ ra
rằng ở nơi nào, đồng bào chú ý đúng mức đến khâu thuỷ lợi thì ở đó cây trồng cho năng
suất cao và đời sống ổn định (Viện Dân tộc học, 1992, tr.30).
Ngời Tày, Nùng, Thái còn sử dụng nớc ở ao và ruộng để nuôi cá. Ao cá gần nhà, dới
chân đồi tơng đối đặc trng, thờng nằm dới chuồng trâu, bò, lợn, dê để hứng phân,
nớc thải. Đồng bào thờng nuôi hai, ba loại cá : cá trắm cỏ ăn cỏ cây nổi trên mặt
nớc; lớp giữa là cá mè ăn những sinh vật phù du và cá chép (hay cá trôi) ăn ở lớp đáy.
Ngoài cá, đồng bào nuôi thêm ốc và cũng là môi trờng để chăn thả ngan, vịt. Ao cá là
nơi hứng chứa phân tro, chất thải để nuôi dỡng các thức ăn cho cá. Mỗi năm, ao đợc
tháo một lần vào cuối tháng mời để đem cá thả vào các chuôm ngoài đồng, đến mùa
cấy tháng năm năm sau mới đem cá trở về ao nhà. Cá đợc ăn các thức ăn đầy chất dinh
dỡng ở các chuôm nên rất nhanh lớn và chóng béo. Đây là nguồn thực phẩm bán ra thị
trờng và sử dụng trong gia đình.
ở những cánh đồng sẵn n
ớc, ngời Tày, Nùng, Thái có tập quán nuôi cá ruộng.
Khoảng tháng hai âm lịch, đồng bào chọn cá chép lớn với tỷ lệ 1/3 là cá cái từ ao nhà
thả vào một góc ruộng. Góc ruộng này đợc chuẩn bị kỹ : đất rắn, phẳng, có cành cây
và rơm cỏ rồi tháo nớc trong vào kích thích cho cá vật đẻ. Sau vật đẻ 24 tiếng, cá lớn
đợc bắt trở lại ao. Góc ruộng cá vật đẻ đó đợc tháo cạn, phơi nắng gió để kích thích
trứng, rồi cho nớc vào, trứng nở thành cá con. Đợc sáu, bảy ngày thì mở cửa vũng
(góc ruộng) cho cá con tràn vào ruộng ơng cá giống. Khoảng tháng t, năm hay tháng
sáu, khi thu hoạch xong lúa chiêm và xuân, cày cấy xong lúa mùa thì vớt cá con thả
xuống ruộng. Mỗi ruộng nuôi cá cũng làm lùm nà, cắm cành cây cho cá dựa. Phải giữ
cho ruộng đều nớc, không tràn bờ, và điều tiết nớc ruộng bằng cách chôn xuống bờ
một ống tre chủ nặm giữ cho nớc ruộng ở mức nhất định. ống này có hom chắn giữ
cho cá không đi khỏi ruộng. Xa kia, với giống lúa cũ cao cây, mực nớc ruộng sâu, có
thể thả cá dày hơn. Ngày nay, với giống lúa mới cây thấp, đồng bào thả cá với mật độ 1-
1,5 nghìn con/2000m
2
tre, công việc phải hoàn thành trong ngày.
Để bảo vệ nguồn nớc, ngời Hmông đề ra một số qui ớc, ai vi phạm tuỳ theo mức độ
nặng nhẹ sẽ bị xử phạt, chẳng hạn ngời Hmông ở Kỳ Sơn (Nghệ An) qui định: Cấm
tắm, giặt, mổ lợn, gà ở nguồn nớc, nơi đào giếng lấy nớc ăn, ai vi phạm lần đầu,
trởng làng chịu trách nhiệm nhắc nhở, giáo dục, nếu lần sau tái phạm, nộp phạt một
con gà, một qủa trứng, một bát gạo mang đến nhà trởng làng, ông ta đa số lễ vật đó ra
chỗ lấy nớc chung của làng trớc sự chứng kiến của đông đảo dân làng rồi lễ và nói :
Chỗ này là nơi mọi nhà tập trung lấy nớc về ăn, anh (chị) tự tiện đến tắm giặt làm ô
uế, nên phải làm lễ này cúng thần nớc. Xa kia ngời nào làm độc hại, gây bẩn đục
nguồn nớc, phải bị phạt theo hai mức:
- Nếu thả thuốc độc để giết cá ở nguồn nớc dùng chung cho vài ba bản thì phạt
7 lạng 2 bạc trắng.
- Do mâu thuẫn mà dùng thuốc độc thả vào nguồn nớc để mu hại nhau bị phạt
12 lạng bạc trắng.
ở Đồng Văn, Mèo Vạc (Hà Giang) nơi chỗ lấy nớc ăn, ng
ời Hmông có qui ớc cấm
không đợc giặt giũ và làm bẩn, nếu vi phạm phải chịu nộp phạt 3 cân rợu (khoảng 2
lít) mang đến nhà trởng làng để cả làng đến uống (Nguyễn Ngọc Thanh, 2002, tr.4-5).
Hơng ớc của nhiều làng ngời Việt (Kinh) qui định nghiêm ngặt việc giữ gìn vệ sinh
môi trờng trong sạch nh không đợc thả vật phế tạp xuống hồ ao, đầm, sông ngòi,
(16)
Trong bài Tri thức dân gian của ngời Nùng An trong việc bảo vệ môi trờng (Tạpchí Văn
hoá dân gian gian, số 1, 2002, tr.48), hai tác giả Nguyễn Thị Yên, Nguyễn Thuý Loan cũng đã
dẫn những quy ớc về nguồn nớc nh:
- Không đợc dùng thuốc độc và các loại cây, lá để ruốc cá xuống các nguồn nớc ao,
hồ, sông, ngòi,
- Không đợc vứt bỏ bừa bãi xác chết động vật xuống các nguồn nớc, nơi công cộng
mà phải đem chôn cất không gây ô nhiễm.
(17)
, đồng bào Nùng ở Lạng Sơn thờng trồng xen kẽ trong
rừng hồi.Biện pháp trồng trọt này đã làm cho rừng hồi của đồng bào trở thành rừng ba
tầng:
* Tầng cao nhất là cây trám đen
* Tầng giữa là cây hồi
* Tầng thấp là cây chè
Xây dựng rừng ba tầng là một trình độ hiểu biết về sinh lí của thế giới thực vật, là kinh
nghiệm bảo vệ đất, rừng ngàn năm do cha ông để lại (Hoàng Nam, 1992, tr.26).
Cũng cần nói thêm rằng, nguồn tài nguyên rừng ở những vùng có ngời Tày, Nùng sinh
sống là khá phong phú. Đó là các loại gỗ có giá trị kinh tế cao (đinh, lim, sến, táu,
lát, ), các loại cây dùng trong công nghệ làm giấy, sơn (vầu, tre, nứa, gỗ tạp, ), các
loại cây cho tinh dầu (quế, hồi, sả, ), các loại cây cho dầu béo (trẩu, mác liềng, sở, ),
(17)
Trám có hai loại: trám đen (mác bay) và trám trắng (mác cởm). Trám đợc đồng bào trồng
là trám đen.
24
các loại cây cho nhựa (thông, cánh kiến đỏ, ), các loại cây cho bột (củ mài, sắn rừng,
đao, ), các loại cây làm dợc liệu, làm hàng thủ công mĩ nghệ, làm nhà cửa,cùng với
một hệ động vật gồm những loài thú, chim, cá, v.v Nói nh vậy, có nghĩa là rừng đã và
đang thờng xuyên cung cấp cho đồng bào Tày, Nùng cái ăn, cái mặc, cái ở và nhiều
phơng diện khác phục vụ cho cuộc sống hàng ngày. Chính vì thế, đồng bào rất thông
thuộc những loại tài nguyên trên rừng này và có rất nhiều tri thức về chúng. Xin dẫn ra
một số ví dụ minh chứng:
Ví dụ 1:
* Con gì mặc áo sắt qua đờng nàng ơi
Con gì áo có đuôi lội qua khe suối
Con gì áo có vằn luồn núi chui rừng