Điều tra tri thức địa phương của một số dân tộc ở vùng cao phía bắc trong khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường - Pdf 13


Uỷ ban Dân tộc

Báo cáo tổng hợp
D N điều tra tri thức địa phơng của
các dân tộc thiểu số vùng cao phía Bắc
trong khai thác, sử dụng tài nguyên thiên
nhiên và bảo vệ môi trờng Cơ quan quản lý: Uỷ ban Dân tộc
Cơ quan chủ trì: Trờng Cán bộ dân tộc
Chủ nhiệm: TS. Hoàng hữu bình

7654
02/02/2010 Hà Nội - 2009

kết quả họp thẩm định kinh phí ngày 03/6/2009;
Xét đề nghị của Vụ trưởng Vụ Kế hoạch – Tài chính,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1: Phê duyệt Đề cương dự án “Điều tra tri thức địa phương của một số dân
tộc ở vùng cao phía Bắc trong khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo
vệ môi trường” với nội dung cụ thể như sau:

2
Điều 2: Mục tiêu của dựa án
- Thu thập, đánh giá một số tri thức địa phương của một số dân tộc vùng cao
phía Bắc trong lĩnh vực khai thác, sử dụng một số nguồn tài nguyên thiên nhiên
và bảo vệ môi trường.
- Đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy các tri thức địa phương của
một số dân tộc ở vùng cao phía Bắc trong khai thác, sử dụng tài nguyên thiên
nhiên và bảo vệ môi trường hiệ
n nay.
2. Nội dung
1. Nghiên cứu khảo sát
- Điều tra, thu thập, đánh giá tri thức địa phương của một số dân tộc ở vùng cao
phía Bắc trong khai thác nguồn tài nguyên đất;
- Điều tra, thu thập, đánh giá tri thức địa phương của một số dân tộc ở vùng cao
phía Bắc trong khai thác nguồn tài nguyên rừng;
- Điều tra, thu thập, đánh giá tri thức địa phương của một số dân tộc ở vùng cao
phía Bắc trong khai thác ngu
ồn tài nguyên nước.

Điều 3: Chánh Văn phòng Uỷ ban, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch – Tài chính, Hiệu
trưởng Trường Cán bộ dân tộc, Thủ trưởng các đơn vị liên quan và Chủ nhiệm
dự án chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.

Nơi nhận:
- Như điều 3;
- Bộ trưởng, CNUB (để b/c)
- PCN TT Bế Trường Thành;
- Trườ
ng Cán bộ dân tộc (4);
- Lưu VT, Vụ KHTC (4).
KT. BỘ TRƯỞNG, CHỦ NHIỆM
PHÓ CHỦ NHIỆM

(®· ký)
Bế Trường Thành
4
MỤC LỤC Tiêu đề Trang
MỞ ĐẦU 6
1 Tính cấp thiết 6
2 Mục tiêu 7

2.2.2 Tri thức địa phương của các tộc người thiểu số vùng cao
phía Bắc trong khai thác tài nguyên nước
64

5
2.2.3 Tri thức địa phương của các tộc người thiểu số vùng cao
phía Bắc trong khai thác tài nguyên rừng
75
2.3 Thực trạng sử dụng và mai một tri thức địa phương các tộc
người thiểu số vùng cao phía Bắc hiện nay
85
Phần III GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ VỀ BẢO TỒN, PHÁT HUY
TRI THỨC ĐỊA PHƯƠNG TRONG KHAI THÁC, SỬ
DỤNG TÀI NGUYÊN VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
CỦA CÁC TỘC NGƯỜI THIỂU SỐ VÙNG CAO PHÍA
BẮC
101
3.1 Vấn đề phát huy và bảo tồn tri thức địa phương 101
3.2 Giải pháp bảo tồn, phát huy tri thức địa phương 104
KẾT LUẬN 115
TÀI LIỆU THAM KHẢO 118
PHỤ LỤC SỐ LIỆU ĐIỀU TRA
+ Kiến thức địa phương luôn gắn liền và hoà hợp với văn hoá truyền thống
địa phương, tộc người.
Tri thức địa phương có một số hạn chế:
+ Tính địa phương, tộc người rất cao nên khó phổ cập và phổ biến rộng rãi
cho vùng khác, tộc người khác.
+ Một số
kiến thức địa phương ngày nay đã không còn phù hợp với điều
kiện môi trường và hoàn cảnh xã hội hiện đại.
Vai trò của tri thức địa phương:

7
Thực tiễn cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật và sự phát triển xã hội trong
nhiều năm qua đã cho thấy:
+ Nhiều giải pháp phát triển được du nhập từ bên ngoài vào không có tính
khả thi về kinh tế, hoặc không thích ứng về văn hoá, nên bị đào thải dần dần.
Trong khi đó những tri thức địa phương (hay của tộc người) không được khai
thác, áp dụng vào các chương trình phát triển miền núi. Ví dụ, Dự án trồ
ng rừng
ở Việt Nam đã không chú ý tới các giống cây bản địa mà chỉ tập trung đầu tư cho
cây nhập nội như bạch đàn, thông, keo, do vậy đã không được người nông dân
miền núi hưởng ứng và chăm sóc, bảo vệ lâu dài.
+ Công nghệ, khoa học hiện đại của phương Tây chưa đáp ứng đầy đủ
những đòi hỏi của thách thức xã hội, môi trường, kinh tế vô cùng phong phú, đa
dạ
ng và đang biến động hàng ngày
+ Không ít bộ môn khoa học đang trông chờ ở tri thức địa phương các gợi
ý quan trọng, thiết thực để giải quyết có hiệu quả những vấn đề phức tạp do thực
tiễn đặt ra. So với khoa học, công nghệ hiện đại, nhiều giải pháp của kĩ thuật
truyền thống được thử thách qua nhiều thế hệ, có hiệu quả cao, có sẵn t
ại cộng

chúng trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới; đề xuất các giải pháp nhằm bảo
tồn và phát huy các tri thức địa phương của một số dân tộc ở vùng cao phía Bắc
trong khai thác một số nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường hiện
nay.
3. Phạm vi, phương pháp, đối tượng và địa bàn điều tra
3.1. Phạm vi dự án
Ph
ạm vi không gian:
Điều tra ở một số dân tộc cư trú ở các tỉnh vùng cao phía Bắc.
Phạm vi thời gian:
Điều tra một số tri thức địa phương tiêu biểu đã hoặc đang được đồng bào
các dân tộc sử dụng trong thực tiễn ở vùng cao phía Bắc. Trong đó chú trọng đến
nhóm tri thức địa phương đang được sử dụng nhưng có nguy cơ mai một; nhóm
tri thức địa phươ
ng đã bị mai một sẽ được dùng để phân tích và tìm nguyên nhân
mai một để đề xuất giải pháp phục hồi, phát huy.
Phạm vi vấn đề:
+ Điều tra về một số tri thức địa phương tiêu biểu của một số dân tộc cư
trú ở vùng cao phía Bắc, trong khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên đất,
rừng, nước và bảo vệ môi trường.
+ Trên cơ sở điều tra, đánh giá về th
ực trạng sử dụng, hiệu quả mang lại
cũng như sự mai một của các tri thức địa phương nói trên trong thời kỳ CNH,
HĐH; dự án đề xuất giải pháp bảo tồn, phát huy chúng trong công cuộc xoá đói
giảm nghèo, phát triển kinh tế – xã hội, góp phần phát triển bền vững vùng cao
phía Bắc.


3.2.3. Phương pháp điều tra xã hội học
Dự án đã tiến hành phỏng vấn 400 phiếu hỏi tại địa bàn nghiên cứu. Phân
bố phiếu điều tra theo đối tượng và địa bàn thể hiện ở đối tượng, địa bàn đ
iều tra.
Nội dung cơ bản của các loại phiếu hỏi để nắm được ý kiến của đối tượng
về các vấn đề: Nhận thức về tài nguyên, môi trường, tri thức địa phương, thực
hành tri thức địa phương, mai một tri thức địa phương và giải pháp bảo tồn, phát
huy hiện nay (xem bảng phỏng vấn ở phụ lục báo cáo).

10
Ngoài 400 phiếu điều tra, khảo sát về tri thức địa phương, về thực hành tri
thức địa phương và đánh giá của người dân về tri thức địa phương, sử dụng tri
thức địa phương trong sản xuất và đời sống; các cuộc phỏng vấn sâu, dự án còn
thực hiện một số cuộc thảo luận nhóm phụ nữ ở các lứa tuổi khác nhau, nhóm
nam giới ở các lứa tu
ổi khác nhau, nhóm người già, người có uy tín trong các
dân tộc thiểu số tại địa phương để thu thập thông tin về dự án.
Sau khi xử lý trên phần mềm SPSS, dự án đã có bộ số liệu để phân tích,
đánh giá về tri thức địa phương, hiện trạng sử dụng tri thức địa phương ở các dân
tộc thiểu số vùng cao phía bắc hiện nay; nguyên nhân của thực trạng.
3.2.4. Phương pháp hội thả
o
Phương pháp hội thảo nhằm thu thập ý kiến đánh giá kết quả nghiên cứu,
lấy ý kiến đóng góp, bổ sung thông tin của người dân về các kết quả mà cán bộ
dự án khảo sát, nghiên cứu, thu thập được. Trong quá trình nghiên cứu, sưu tầm
tri thức địa phương cũng như điều tra bằng phiếu phỏng vấn người nghiên cứu
kết hợp với các kỹ năng quan sát, phỏng v
ấn sâu, chụp ảnh, PRA một cách
đồng bộ để thu thập một cách đầy đủ nhất tư liệu tại các địa phương.
3.2.5. Phương pháp chuyên gia

+ Tổ chức thảo luận nhóm
+ Tổ chức hội thảo ở huyện Phong Thổ
Sản phẩm:
Báo cáo nhóm + kỷ yếu hội thảo + tập tài liệu thứ cấp
Tỉnh Bắc Kạn:
+ Thu thập tài liệu thứ cấp
+ Điều tra 100 phiếu (50 phi
ếu nhân dân + 30 phiếu lãnh đạo địa phương+
20 phiếu trí thức địa phương. Riêng 50 phiếu nhân dân, sẽ có 20 phiếu điều tra
người già, 20 phiếu điều tra phụ nữ và đối tượng khác là 10 phiếu).
+ Thực hiện các phỏng vấn sâu
+ Tổ chức thảo luận nhóm
+ Tổ chức hội thảo ở huyện Bạch Thông
Sản phẩm:
Báo cáo nhóm + kỷ yếu hội thảo + tập tài liệu thứ c
ấp
Tỉnh Hà Giang:
+ Thu thập tài liệu thứ cấp
+ Điều tra 100 phiếu (50 phiếu nhân dân + 30 phiếu lãnh đạo địa phương+
20 phiếu trí thức địa phương. Riêng 50 phiếu nhân dân, sẽ có 20 phiếu điều tra
người già, 20 phiếu điều tra phụ nữ và đối tượng khác là 10 phiếu).
+ Thực hiện các phỏng vấn sâu
+ Tổ chức thảo luận nhóm
+ Tổ chức hội thảo ở huyện Xín Mầ
n
Sản phẩm:
Báo cáo nhóm + kỷ yếu hội thảo + tập tài liệu thứ cấp

12
Tỉnh Hoà Bình:

5.1. Báo cáo tổng hợp.
5.2. Báo cáo tóm tắt.
5.3. Kỷ yếu khoa học của dự án. 13
PHẦN I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRI THỨC ĐỊA PHƯƠNG, TÀI
NGUYÊN, MÔI TRƯỜNG VÀ TRI THỨC ĐỊA PHƯƠNG CỦA CÁC
DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM
1.1. Tri thức địa phương
Thuật ngữ tri thức địa phương (local knowledge) hay kiến thức bản địa
(Indigenous knowledge) từ lâu đã được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đề
cập. Theo Louise Grenier (1996), kiến thức bản địa là kiến thức của bấ
t kỳ một
cộng đồng nào đã được xác định, nó được tồn tại bên trong và được phát triển
trong những hoàn cảnh cụ thể của tộc người. Tri thức địa phương được tất cả
các thành viên thuộc các lứa tuổi và giới khác nhau trong một cộng đồng tạo
dựng nên. Nó biểu hiện sự tích luỹ của các thế hệ giàu kinh nghiệm qua các quan
sát tinh tế và thử nghiệm công phu, được thể hiệ
n trong văn học dân gian, luật
tục và các tín ngưỡng, nghi lễ. Viện Tái thiết nông thôn quốc tế (IIRR) cũng đưa
ra khái niệm về tri thức bản địa, đó là những kiến thức do người dân của một
cộng đồng phát triển trong nhiều năm và hiện vẫn đang tiếp tục phát triển kiến
thức này. Kiến thức bản địa không chỉ giới hạn trong một bộ tộc hay một khu
vực dân cư mà nó thuộc quyền sở hữu của tất cả cộng đồng. Ở Việt Nam, khái
niệm tri thức địa phương đầu tiên được các nhà nghiên cứu sinh thái môi trường
đưa ra “là sản phẩm của quá trình lao động, được tích luỹ và hoàn thiện qua
nhiều thế hệ của các cộng đồng địa phương”. Các nhà nghiên cứu khoa học xã
hội cũng đưa ra các nội hàm của thuật ngữ tri thức địa phươ

phân biệt sự khác nhau ở một vài khía cạnh của bốn thuật ngữ này. Hơn nữa
cũng có nhà khoa học đã dịch cụm từ folk knowledge ra tiếng Việt là kiến thức
dân gian, cho nên các cụm từ traditional knowledge, local knowledge,
indigenous knowledge đều đã được chuyển dịch thành kiến thức truyề
n thống,
kiến thức địa phương, kiến thức bản địa.
Đặc biệt hơn, thuật ngữ folklore do nhà khảo cổ học người Anh William J.
Thoms đưa ra lần đầu tiên trong một bài báo nhỏ kí bút danh là Ambrose Merton
đăng trên tờ Tạp chí Athnaeum, số ra ngày 22 tháng 8 năm 1846 ở Luân Đôn, có
lẽ mới đầu chỉ hàm chứa một nội dung đơn giản như “Tri thức, trí tuệ của dân
chúng”, hoặc “tri thức dân gian”. Nhưng sau đ
ó, do bộ môn khoa học nhân văn
này phát triển rộng ra toàn thế giới, nên hàm nghĩa của nó cũng được mở rộng
như: “Dân tộc học”, “Văn học dân gian”, “Văn nghệ dân gian”, “Văn hoá dân
gian”, Chính vì thế, hiện nay tri thức dân gian chỉ còn tồn tại như là một thành
tố của Văn hoá dân gian (folklore), và ở một chừng mực nào đó được hiểu tương
đương với các cụm từ thuật ngữ: Tri thứ
c địa phương, tri thức truyền thống, tri
thức bản địa (nhất là trong không gian văn hoá - xã hội của từng tộc người thiểu
số ở Việt Nam).
Còn tri thức khoa học hiện đại (hay tri thức hàn lâm) được thừa nhận là
tương đương với cụm từ thuật ngữ bằng tiếng Anh, tiếng Pháp: “modern

15
scientific knowledge”, “connaissances scientifiqnes modernes” (academic
knowledge, connaissances académiques). Tức là những hiểu biết được hình
thành bởi cá nhân hay tập thể các nhà khoa học, được hệ thống hoá và truyền lại
qua sách vở, hoặc là một hệ thống những kiến thức được tích luỹ trong quá trình
lịch sử, được thực tiễn kiểm chứng, và phản ánh những quy luật khách quan của
thế giới bên ngoài cũng như của hoạt động tinh thần của con người, giúp con

biết dưới những hình thức như cảm giác, tri giác, biểu tượng.
(2)
Nhận thức lí tính (tư duy trừu tượng) là giai đoạn tiếp theo và cao hơn về chất của quá trình
nhận thức và được nảy sinh trên cơ sở các tài liệu của nhận thức cảm tính. Muốn nhận thức
được nội dung, bản chất của sự vật, chúng ta phải nhờ đến nhận thức lí tính. Những hình thức
cơ bản của nhận thức lí tính là khái niệm, phán đoán và suy lí. Ở
đây có thể hiểu thêm: Nhận
thức kinh nghiệm và nhận thức lí luận không đồng nhất với nhận thức cảm tính và nhận thức lí
tính, tuy chúng có quan hệ với nhận thức cảm tính và nhận thức lí tính, bởi vì trong nhận thức
kinh nghiệm đã bao hàm yếu tố lí tính. Do đó, có thể coi tri thức kinh nghiệm và tri thức lí
luận là những bậc thang của nhận thức lí tính, nhưng khác nhau về trình độ, tính chất phản ánh
hiện thực, về chức năng cũng như về trật tự lịch sử.

16
ngày nay quá trình ấy không còn là tất yếu nữa. Kinh nghiệm cá nhân đã được
tích luỹ và được thay thế ở mức độ đáng kể bởi những kinh nghiệm của nhiều thế
hệ và được khái quát thành tri thức kinh nghiệm và tri thức lí luận. Vậy tri thức
kinh nghiệm và tri thức lí luận là gì?
Tri thức kinh nghiệm là loại tri thức mà nội dung của nó về cơ bản là thu
nhận được từ kinh nghiệm, từ quan sát và thự
c nghiệm. Ở trình độ tri thức này,
đối tượng của nhận thức được phản ánh từ bình diện các đặc tính và các mối liên
hệ bên ngoài của sự vật. Hay nói một cách khác, tri thức kinh nghiệm là tri thức
nảy sinh một cách trực tiếp từ thực tiễn, từ lao động sản xuất, đấu tranh xã hội
hoặc thực nghiệm khoa học
(3)
. Ở đây, tri thức kinh nghiệm được giới hạn ở lĩnh
vực các sự kiện, miêu tả, phân loại những dữ kiện thu nhận được từ quan sát và
thực nghiệm. Tri thức kinh nghiệm đã mang tính trừu tượng và khái quát, song
mới là bước đầu và còn hạn chế bởi nó chỉ mới đem lại sự hiểu biết về các mặt

dân tự tổng kết từ thực tiễn, rút ra những tri thức quan trọng trên nhiều mặt của
cuộc sống Và trên con đường tiếp cận chân lí, tri thức khoa học đóng vai trò
chủ đạo, song tri thức dân gian cũng xứng đáng có vị trí của mình. Trân trọng tri
thức dân gian là trân trọng một chân lí khách quan.
Muốn hiểu rõ hơn về vấn đề này, chúng ta cũng nên tham khảo thêm quan
niệm của Ngô Đức Thịnh về tri thức dân gian. Chẳng hạ
n như tri thức dân gian
(tri thức địa phương) là tri thức phi học đường, là vốn kinh nghiệm mà con người
tích luỹ được qua quá trình hoạt động lâu dài nhằm thích ứng và biến đổi môi
trường tự nhiên và xã hội, phục vụ lợi ích vật chất và tinh thần cho bản thân.
Vốn tri thức ấy tồn tại và phát triển chủ yếu không thông qua con đường học vấn
và sách vở, mà thường truyền tụng và làm phong phú hơn thông qua trí nhớ và
truyền mi
ệng, qua các câu châm ngôn, thành ngữ, tục ngữ, qua thực hành lao
động nghề nghiệp hàng ngày của người nông dân, thợ thủ công, người đánh cá
và chăn nuôi Có thể phân chia vốn tri thức dân gian của các dân tộc ra thành
các loại: 1) Tri thức về tự nhiên và môi trường, 2) Tri thức về bản thân con
người, 3) Tri thức về sản xuất, 4) Tri thức về quản lí xã hội, cộng đồng (Ngô
Đức Thịnh, 1995, tr.70). Năm năm sau, trong một bài nghiên cứu về các hiện
tượng vă
n hoá phi vật thể, tác giả lại có dịp bổ sung thêm quan niệm của mình về
vấn đề này: Tri thức dân gian (folk knowledge) cũng là một lĩnh vực của văn hoá
phi vật thể. Tri thức dân gian là toàn bộ những hiểu biết của cộng đồng về tự
nhiên, xã hội và bản thân con người, được tích luỹ trong trường kì lịch sử qua
kinh nghiệm (trải nghiệm) của bản thân cộng đồng đó. Tri thức dân gian ấy
được
trao truyền cho các thế hệ kế tiếp thông qua trí nhớ, truyền miệng và thực hành
xã hội. Nó giúp cho con người có được những ứng xử thích hợp với môi trường
tự nhiên, điều hoà các quan hệ xã hội, những hiểu biết cần thiết trong sản xuất,
trong dưỡng sinh và trị bệnh. Tri thức dân gian của mỗi cộng đồng tương thích

ập mới có thể tới được quần chúng nhân dân. Hơn nữa, tri
thức khoa học hiện đại lại mang tính trừu tượng và khái quát cao nên nó đem lại
sự hiểu biết sâu sắc về bản chất, về tính quy luật của các sự vật, hiện tượng
khách quan. Vì vậy, tri thức khoa học hiện đại thể hiện tính chân lí một cách sâu
sắc, chính xác, hệ thống và có căn cứ khoa học hơn, nghĩa là có tính bản chấ
t sâu
sắc hơn. Do đó, phạm vi ứng dụng của nó cũng phổ biến rộng hơn nhiều so với
tri thức dân gian .
Còn tri thức dân gian không giống với tri thức khoa học hiện đại ở chỗ nó
được hình thành chủ yếu dựa vào sự tích luỹ, mò mẫm, chứ không phải dựa vào
các thí nghiệm mang tính khoa học và có hệ thống. Nó là vốn tri thức của nhân
dân lao động địa phương (hay của cộng đồng tộ
c người) đang được lưu truyền
trong dân chúng và được người dân lao động địa phương thực hành trong cuộc
sống hằng ngày. Tri thức dân gian rất có ích trong việc quản lý môi trường tự
nhiên và xã hội (hệ sinh thái nhân văn). Nó chứa đựng các giá trị văn hoá như
một nguồn thông tin có xu hướng dài lâu và những sự cố bất thường có thể
không xảy ra trong khoảng thời gian mà các nhà khoa học đang tiến hành nghiên

19
cứu ở ngay địa phương (hay tộc người) đó. Tuy nhiên, tri thức dân gian của nhân
dân lao động địa phương (hay của cộng đồng tộc người) thường khó so sánh
được với những tri thức khoa học hiện đại. Chẳng hạn như: Những người nông
dân ở vùng cao không biết gì về vi sinh vật và nấm bệnh bởi vì họ không có tri
thức khoa học về vi sinh vật học và kĩ thuật thích hợp để lĩnh hộ
i chúng. Nhưng
họ lại có thể nhận ra rằng cây họ đậu có khả năng cải tạo độ phì nhiêu cho đất
mà họ không thể hiểu vì sao điều đó thường xảy ra. Có lẽ đây là điểm hội tụ giữa
tri thức dân gian của nhân dân lao động địa phương và tri thức khoa học hiện đại
của các nhà khoa học.

thích
3.2. Phân loại sinh học
Chậm/ chưa kết luận
Tinh thần
Có tính sinh thái
Nhanh/ khoa học
Giả thuyết/ quy luật
Theo di truyền và thứ
bậc
4. Phạm vi ứng dụng Hẹp (địa phương, tộc
người)
Rộng (trên toàn thế giới)
(Louise Grenier, 1997)
Một số hạn chế của tri thức địa phương:
Chính việc xem xét một số đặc điểm của tri thức dân gian và sự khác nhau
giữa tri thức dân gian và tri thức khoa học hiện đại, chúng ta có thể rút ra một số
hạn chế nhất định của tri thức dân gian như sau:
- Do tính địa phương (hay tính bản địa, tính tộc người) rất cao, nên tri thức
dân gian khó phổ biến rộng sang cộng đồng dân c
ư (hay cộng đồng tộc người)
khác.
- Do độ chính xác kém hơn tri thức khoa học hiện đại, nên rất khó cho
việc sử dụng tri thức dân gian để đo đạc và kiểm tra thực hành. Trong thực tế ở
vùng cao nước ta, một số tri thức dân gian có liên quan đến tập tục du canh quay
vòng có thể không còn phù hợp nữa do áp lực gia tăng dân số.
Như vậy, không thể cho rằng quan niệm truyền thống của nhân dân lao
động
địa phương về tri thức dân gian của họ, về mối quan hệ gắn kết giữa con
người với môi trường tự nhiên đã thể hiện một cách hoàn chỉnh, khoa học. Rõ
ràng trong quan niệm truyền thống về tri thức dân gian và mối quan hệ giữa con

các nguồn vật chất tự nhiên mà con người dùng nó làm nguyên liệu cho các hoạt
động chế tác của mình để có được vật dụng. Khi nói đến tài nguyên theo nghĩa
này chủ yếu là muốn nói đến tài nguyên khoáng sản, đất đai, lâm thổ sản Ở
nước ta, tài nguyên gồm các loạ
i chủ yếu sau:
Tài nguyên đất:
Đất canh tác chiếm 21% diện tích lãnh thổ, bình quân đất canh tác theo
đầu người ở nông thôn là 0,14 ha.
Tài nguyên rừng:
Trong thảm rừng, ngoài các loại gỗ còn có nhiều loại tài nguyên khác, như
nguồn dược liệu, động, thực vật quý hiếm
Tài nguyên ngư nghiệp:
Loại tài nguyên này rất phong phú, có ở cả vùng nước ngọt, nước lợ và
nước mặn với nhiều chủng loại thuỷ, hả
i sản khác nhau. Đó là 1 triệu ha nước
nội địa, 1 triệu ha nước lợ, nước mặn; đặc biệt là 3.260 km bờ biển với nhiều ngư
trường có tiềm năng phong phú về hải sản, hệ sinh thái biển và những kỳ quan
thiên nhiên hấp dẫn.
Tài nguyên khoáng sản và năng lượng:
Theo Luật khoáng sản năm 1996, khoáng sản là tài nguyên trong lòng đất,
trên mặt đất dưới dạng những tích tụ tự nhiên khoáng vậ
t, khoáng chất ở thể rắn,
thể lỏng, thể khí, hiện tại hoặc sau này có thể khai thác. Khoáng vật, khoáng chất

22
ở bãi thải của mỏ mà sau này có thể được khai thác lại, cũng là khoáng sản. Theo
đó, hiện tại nước ta có khoảng 3.500 mỏ và điểm quặng của 80 loại khoáng sản;
trong đó có hơn 32 loại và trên 270 mỏ và điểm quặng đã được đưa vào khai thác
hoặc thiết kế khai thác.
Nguồn năng lượng thuỷ lực (thuỷ điện) ở nước ta khá phong phú, phân bố

và các hệ sinh thái đang được sử dụng không hợp lý nên đang có xu hướng
nghèo đi và cạn kiệt dần.
1.3. Môi trường và vấn đề suy thoái môi trường

23
Theo nghĩa rộng, môi trường là tổng hợp các điều kiện bên ngoài, có ảnh
hưởng tới một vật thể hoặc một sự kiện. Theo đó, bất cứ một vật thể, một sự kiện
nào cũng tồn tại và diễn biến trong một môi trường.
Đối với từng đối tượng và mục đích nghiên cứu cụ thể, khái niệm môi
trường có các nội dung tương ứ
ng:
Đối với các cơ thể sống, môi trường sống là tổng hợp những điều kiện bên
ngoài có ảnh hưởng tới đời sống và phát triển của cơ thể.
Đối với con người, môi trường là tổng hợp các điều kiện vật lý, hoá học,
sinh học, xã hội bao quanh, có ảnh hưởng tới sự sống và sự phát triển của từng
cá nhân cũng như toàn thể cộ
ng đồng.
Luật Bảo vệ môi trường ở nước ta (thông qua ngày 10/1/1994) đã quy
định: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan
hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất,
sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên” (Điều 1, Luật Bảo vệ môi
trường, 1993).
Thành phần môi trường bao gồm các yếu tố
: không khí, nước, đất, âm
thanh, ánh sáng, lòng đất, núi, rừng, sông, hồ, biển, sinh vật, các hệ sinh thái, các
khu dân cư, khu sản xuất, khu bảo tồn thiên nhiên, cảnh quan thiên nhiên, danh
lam thắng cảnh, di tích lịch sử và các hình thái vật chất khác (Điều 2, Luật Bảo
vệ môi trường, 1993).
Riêng đối với môi trường sống của con người, người ta còn phân chia
thành: Môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và môi trường nhân tạo.

dân địa phương hay của tộc người bản địa. Những kinh nghiệm này có được là
do tích luỹ nhiều đời mà người dân hoặc tộc người từ nơi khác mới đến không
có, hay chưa có đượ
c. Có lẽ đây chính là những hiểu biết có hệ thống về sự vật,
về môi trường tự nhiên (hệ sinh thái) và xã hội (hệ xã hội) của các cộng đồng
dân cư trên các quy mô lãnh thổ khác nhau. Nó được hình thành, phát triển và
tồn tại lâu dài trong quá trình lịch sử của cộng đồng dân cư bản địa (hay của
cộng đồng tộc người) với sự tham gia của mọi thành viên trong cộng đồng (già,
trẻ, gái, trai, đàn ông, đ
àn bà, hoặc cụ thể hơn là những già làng, trưởng bản,
trưởng thôn, những ông lang, những bà đỡ, nông dân, ngư dân, thợ săn, ). Nó
cũng được bảo tồn trong các truyện kể dân gian, thành ngữ, tục ngữ, ca dao, lời
ca, tiếng hát, trong lời giáo huấn, bài cúng lễ, luật tục, hương ước, quy ước,
phong tục tập quán và trong nhiều nghi lễ tín ngưỡng tôn giáo Loại tri thức này
được tạo dựng trên một dòng đời mà con người thừa nhận quy
ền lợi của giới tự
nhiên và học hỏi qua những thử thách, sai lầm với sự quan sát và thực nghiệm
không ngừng
Như ví dụ nghiên cứu điển hình trên đã minh chứng, sự tác động lẫn nhau
giữa tri thức dân gian và môi trường có một vai trò phức hợp và biện chứng.
Thành công mà một nhóm tộc người được hưởng là do kết quả của quá trình sở
hữu các giá trị nhất định của tri thứ
c dân gian bản địa, có thể đã tạo ra những


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status