điều tra, đánh giá hiện trạng khai thác, sử dụng tài nguyên nước và xả nước thải vào nguồn nước trên địa bàn thị xã cửa lò, tỉnh nghệ an - Pdf 35

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

-------

-------

VŨ HOÀI NAM

ĐIỀU TRA, ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG KHAI THÁC,
SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀ XẢ NƯỚC THẢI
VÀO NGUỒN NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ CỬA LÒ,
TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI, NĂM 2015


HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

-------

-------

VŨ HOÀI NAM

ĐIỀU TRA, ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG KHAI THÁC,
SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀ XẢ NƯỚC THẢI
VÀO NGUỒN NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ CỬA LÒ,
TỈNH NGHỆ AN


thầy cô, các anh chị, các bạn và gia đình. Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc,
xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới thầy TS. Trịnh Quang Huy người đã tận
tình chỉ bảo, hướng dẫn, động viên và tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình
nghiên cứu.
Các thầy cô giáo trong Khoa Môi trường đã truyền đạt cho tôi kiến thức,
kinh nghiệm trong quá trình học tập và nghiên cứu trên giảng đường.
Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư và Công nghệ môi trường HQ đã nhiệt tình
cộng tác và giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra, khảo sát và thu thập thông tin.
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình và bạn bè đã luôn
sát cánh, đồng hành, giúp đỡ, chia sẻ, động viên và khích lệ tôi trong suốt thời
gian học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu này.
Hà Nội, ngày

tháng năm 2015

Tác giả luận văn

Vũ Hoài Nam

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page iii


MỤC LỤC
Lời cam đoan

ii

Lời cảm ơn


1.1.2. Hiện trạng khai thác tài nguyên nước mặt

3

1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng tài nguyên nước

9

1.2.1. Các yếu tố ảnh hướng dẫn tới suy giảm chất lượng tài nguyên nước

9

1.2.2. Hiện trạng chất lượng tài nguyên nước ngầm

12

1.2.3. Hiện trạng chất lượng tài nguyên nước mặt

12

1.3. Các giải pháp trong quản lý tài nguyên nước

20

1.3.1. Cơ sở pháp lý trong quản lý tài nguyên nước

20

1.3.2. Các giải pháp kinh tế


2.3. Nội dung nghiên cứu

30

2.4. Phương pháp nghiên cứu

30

2.4.1. Thu thập số liệu thứ cấp

30

2.4.2. Điều tra phỏng vấn

30

2.4.3. Phương pháp lấy mẫu

32

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page iv


2.4.4. Phương pháp phân tích mẫu

33


39

3.2. Hiện trạng hoạt động khai thác, sử dụng nước trên địa bàn thị xã Cửa Lò.

41

3.2.1. Hiện trạng khai thác, sử dụng tài nguyên nước mặt

41

3.2.3. Hiện trạng chất lượng các nguồn nước

46

3.3. Hiện trạng xả nước thải vào nguồn nước trên địa bàn thị xã Cửa Lò

52

3.3.1. Ước tính tổng lượng nước thải trên địa bàn thị xã Cửa Lò

52

3.3.2. Hiện trạng thu gom và xử lý nước thải

65

3.4. Hiện trạng công tác quản lý tài nguyên nước và các đối tượng xả thải.

70



78

3.5.4. Giải pháp về nâng cao hiệu quả công tác quản lý tài nguyên nước

79

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

82

TÀI LIỆU THAM KHẢO

83

PHỤ LỤC

85

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page v


DANH MỤC BẢNG
STT
1.1.

Tên bảng



1.6.

15

Tải lượng một số chất ô nhiễm trong nước thải từ nông nghiệp đổ vào
kênh rạch năm 2009

17

2.1.

Bảng tổng hợp số phiếu điều tra

31

2.2.

Bảng tổng hợp số lượng điểm lấy mẫu

32

2.3.

Tiêu chuẩn phân tích các thông số

33

3.1.



Kết quả phân tích mẫu nước mặt của các đối tượng sử dụng

48

3.7.

Kết quả nồng độ trung bình của một số thông số trong mẫu nước

50

3.8.

Tổng lượng nước sử dụng và nước thải tại các bệnh viện

55

3.9.

Kết quả nồng độ trung bình của một số thông số trong nước thải của

56

3.10. Tông lượng nước sử dụng và xả thải của một số khách sạn tại thị xã
Cửa Lò

57

3.11. Kết quả nồng độ trung bình của một số thông số trong nước thải


65

3.18. Các văn bản được ban hành

71

3.19. Tổng hợp tình hình cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước trên
địa bàn thị xã Cửa Lò

73

3.20. Quan trắc môi trường của một số cơ sở

75

3.21. Mức phạt đối với hành vi tiến hành xả thải không có giấy phép của các
cơ sở sản xuất – kinh doanh dịch vụ trên địa bàn thị xã Cửa Lò

76

3.22. Mức xử phạt đối với vi phạm sau cấp phép của các cơ sở sản xuất –
kinh doanh dịch vụ trên địa bàn thị xã Cửa Lò

77

3.23. Mức thu phí xử lý nước thải của các loại hình sản xuất kinh doanh

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

77


Hình 3.5. Tỷ lệ phần trăm một số thông số vượt QCVN 09:2008/BTNMT

51

Hình 3.6. Biểu đồ cơ cấu tổng lượng xả thải

53

Hình 3.7. Vị trí phường Nghi Tân – Thị xã Cửa Lò – Nghệ An.

54

Hình 3.8. Vị trí phường Nghi Thủy – Thị xã Cửa Lò – Nghệ An

54

Hình 3.9. Tỷ lệ phần trăm các thông số vượt QCVN 14:2008 đối với nước
thải nhà hàng khách sạn

59

Hình 3.10. Tỷ lệ phần trăm các thông số vượt QCVN 40:2011 đối với nước
thải ngành chế biến thực phẩm

63

Hình 3.11. Cơ cấu cách thức xả nước thải của các cơ sở trong thị xã Cửa Lò

66

khu vực thị xã Cửa Lò nói riêng, tuy nhiên dựa trên một số tài liệu điều tra, khảo
sát về tài nguyên nước đã được tiến hành trên địa bàn tỉnh Nghệ An, có thể đánh
giá sơ bộ rằng tài nguyên nước mặt và nước ngầm ở mức trung bình, mật độ sông
suối tương đối thấp so với các khu vực khác trong tỉnh.
Với vị thế địa lý và tài nguyên thiên nhiên tương đối thuận lợi, cùng với sự
phát triển chung của cả tỉnh, tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, đô thị hóa, công
nghiệp hóa của thị xã những năm gần đây gia tăng mạnh mẽ. Cùng với đó, nhu
cầu về nước – gắn liền với các hoạt động khai thác, sử dụng nước mặt và nước
ngầm, và nhu cầu xả nước thải – gắn liền với các hoạt động xả nước thải vào
nguồn nước ngày càng tăng, đẩy các nguồn nước trong khu vực đứng trước nguy
cơ suy thoái, ô nhiễm và cạn kiệt.
Trong khi nguồn nước mặt phân bố không đều, lưu lượng dòng chảy rất
thấp vào mùa khô, lại đang có dấu hiệu suy thoái chất lượng và ô nhiễm cục bộ
thì hoạt động khai thác sử dụng nước mặt và nước ngầm cho các mục đích sinh
hoạt, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, nuôi trồng thủy sản... trong khu vực này
vẫn ngày càng gia tăng. Việc khai thác sử dụng nước quá mức và tràn lan, đặc
biệt là tại các khu vực tập trung đông dân cư, các cơ sở sản xuất, kinh doanh,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 1


làng nghề... càng gây áp lực nặng nề lên nguồn nước mặt và nước ngầm cả về số
lượng và chất lượng.
Trước tình trạng các nguồn nước đã và đang đứng trước nguy cơ suy thoái,
ô nhiễm và cạn kiệt trong vài năm gần đây, công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên
nước trên phạm vi toàn tỉnh đã và đang được quan tâm đẩy mạnh. Tuy nhiên,
công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên nước trong thời gian qua chưa hiệu quả vì
còn gặp nhiều khó khăn. Trong đó khó khăn cơ bản là thiếu các thông tin, dữ liệu
về tình hình khai thác, sử dụng tài nguyên nước và xả nước thải vào nguồn nước.

và từ lớp trên của khí quyển, trong đó, nguồn nước từ bên trong lòng đất là chủ
yếu. Nước hình thành trong quá trình phân hóa các lớp đá ở nhiệt độ cao, khi
thoát dần ra lớp vỏ ngoài thì bốc hơi, cuối cùng ngưng tụ lại thành nước. Các
khối nước ban đầu khi thoát ra và ngưng tụ lại đã chảy tràn trên những miền
trũng, tạo nên các đại dương mênh mông và sông hồ nguyên thủy. Khối lượng
nước ở trạng thái tự do phủ trên Trái Đất là 1,4 tỉ km3, chỉ bằng 1% trữ lượng ở
lớp vỏ giữa. Tập trung chủ yếu trong thuỷ quyển với tỷ lệ là 97,2%, phần còn lại
trong khí quyển và thạch quyển. Trong đó, 94% lượng nước là nước mặn, 2% là
nước ngọt tập trung trong băng ở hai cực, 0,6% là nước ngầm, còn lại là nước
sông và hồ.
Trên phạm vi toàn cầu, lượng nước con người sử dụng trong một năm
khoảng 35.000 km3, nước dùng cho sinh hoạt chiếm 8%, cho công nghiệp là
23%, và cho hoạt động nông nghiệp là 63%.
Nước ngọt là nguồn tài nguyên tái tạo, tuy nhiên hiện nay khả năng cung
cấp nước ngọt và sạch trên thế giới đang ngày càng giảm sút trong khi nhu cầu sử
dụng lại tăng lên. Dự báo đến năm 2030, nhu cầu về nước của thế giới sẽ tăng
thêm 40% và nhu cầu năng lượng sẽ tăng thêm 50% so với hiện tại (Tổng cục
Môi trường, 2012). Tài nguyên nước sẽ tiếp tục phải chịu sức ép của các yếu tố
như tăng dân số, ô nhiễm, nắng nóng và hạn hán do sự nóng lên toàn cầu.
Trước thực trạng thiếu hụt và suy thoái của tài nguyên nước hiện nay, các
quốc gia trên thế giới cần chú trọng và có các biện pháp mạnh mẽ hơn nữa để bảo
vệ tài nguyên nước, hướng đến phát triển bền vững, đáp ứng nhu cầu phát triển
của xã hội hiện tại và trong tương lai.
1.1.1. Hiện trạng khai thác tài nguyên nước mặt
a. Đặc điểm tài nguyên nước mặt Việt Nam
Vị trí địa lý và đặc điểm điều kiện tự nhiên đặc thù nên khoảng 60% lượng
nước của cả nước tập trung ở lưu vực sông Cửu Long và 16% ở lưu vực sông

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp


trình tiểu thủy nông. Lưu vực sông Hương với 100 hồ chứa các loại được xây
dựng ở vùng trung du, miền núi và vùng cát. Lưu vực sông Đồng Nai với 911
công trình, trong đó 406 hồ chứa, 371 đập dâng và cống, 134 trạm bơm và hệ
thống thủy lợi. Lưu vực sông Mê Công với kế hoạch phát triển 15 bậc thang thủy
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 4


điện, phía hạ lưu có 12 công trình đang được đề xuất (phần lớn các công trình
này nằm ở phía thượng lưu và không thuộc lãnh thổ Việt Nam)(Tổng cục Môi
trường, 2012).
Những năm gần đây, do nhiều nguyên nhân, ở hạ lưu hầu hết các lưu vực
sông, tình trạng suy giảm nguồn nước dẫn tới thiếu nước, khan hiếm nước không
đủ cung cấp cho sinh hoạt, sản xuất đang diễn ra ngày một thường xuyên hơn,
trên phạm vi rộng lớn hơn và ngày càng nghiêm trọng, gây tác động lớn đến môi
trường sinh thái các dòng sông, gia tăng nguy cơ kém bền vững của tăng trưởng
kinh tế, xóa đói giảm nghèo và phát triển xã hội. Thêm vào đó, tài nguyên nước
trên các lưu vực sông ở Việt Nam đang bị suy giảm và suy thoái nghiêm trọng do
nhu cầu dùng nước tăng cao trong sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, nuôi trồng
thủy sản, thủy điện, làng nghề và do khả năng quản lý yếu kém. Các hệ sinh thái
rừng tự nhiên duy trì nguồn sinh thủy từ thượng nguồn các lưu vực cũng bị suy giảm
trên diện rộng do nạn phá rừng, do canh tác nông nghiệp, khai khoáng và xây dựng
cơ sở hạ tầng. An ninh về nguồn nước cho thấy sự phát triển bền vững và bảo vệ
môi trường đang không được bảo đảm ở nhiều nơi, nhiều vùng ở nước ta.
b. Tổng hợp tài nguyên nước mặt trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Ước tính tổng lượng nước mặt trên toàn tỉnh Nghệ An vào khoảng 15,9 tỷ m3,
trong đó mùa lũ là 11,0 tỷ m3, chiếm 69,2% tổng lượng dòng chảy cả năm và mùa cạn
là 4,88 tỷ m3 chiếm 30,8%.
Tổng lượng nước đóng góp của các sông độc lập ven biển tỉnh Nghệ An vào

0,502
0,215

Các sông độc
lập ven biển
(109m3)
2,44
1,43
1,01

80,1

4,53

15,4

Tổng
(109m3)
15,9
11,0
4,88
100

Nguồn: Sở TNMT tỉnh Nghệ An,2011.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 5



Bảng 1.2. Hiện trạng khai thác sử dụng nước và nhu cầu nước tại một số các
đô thị ở Việt Nam đến năm 2020.
Loại đô
thị

Nhu cầu đến
2020 m3/ng.đêm

Hiện tại
Tên đô thị
Nước ngầm

m3/ngày
đêm
780.000

Nước mặt

968.000

Nước ngầm

560.000

Hải Phòng

Nước mặt

126.000


Nước mặt
Nước ngầm
Nước mặt

23.000
16.000
20.000

III

Yên Bái

Nước mặt

10.000

30.700

III

Điện Biên

Nước mặt

8.000

30.000

IV


3.050.000

141.000
107.000

Nguồn: Trần Thị Huệ, 2014
Theo báo cáo của Tổng Cục Môi trường nguồn nước ngầm Việt Nam khá
phong phú nhờ mưa nhiều. Hiện tổng trữ lượng khai thác dưới đất trên toàn quốc
đạt gần 20 triệu m3, tổng công suất của hơn 300 nhà máy khai thác nguồn nước

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 7


này vào khoảng 1,47 triệu m3/ngày. Nhưng thực tế, các nhà máy chỉ khai thác
được 60 – 70% so với công suất thiết kế.
b. Tài nguyên nước ngầm tại tỉnh Nghệ An
Nước ngầm trên toàn tỉnh Nghệ An có tổng trữ lượng khai thác tiềm năng
đạt 21,223 triệu m3, phân bố trong nhiều tầng chứa nước và có nhiều cấp độ trữ
lượng khác nhau có thể khai thác phục vụ cho các mục đích dân sinh và phát
triển nông nghiệp. Sử dụng nguồn nước ngầm có thể đáp ứng được 60% nhu cầu
dùng nước.
Dải ven biển từ Quỳnh Lưu đến Cửa Hội có trữ lượng nước ngầm kém
phong phú, chỉ phục vụ một phần cho tưới và sinh hoạt. Vùng Vinh – Cửa Lò –
Hưng Nguyên có trữ lượng nước lợ khá dồi dào, đạt 58,140 m3/ng có thể khai
thác phục vụ nuôi trồng thủy sản.
Nước ngầm ở Nghệ An chủ yếu được khai thác cho mục đích nông nghiệp
và dân sinh. Trong nông nghiệp, nước được dùng theo nhiều quy mô khác nhau,
trong đó, nước tưới mang tính tập trung chỉ có một số vùng như Bãi Ngang

5285

21000

3738

Cửa Lò

2800

qh2

11083

2102

Bãi Ngang –
Quỳnh Lưu
Đô Lương –
Diễn Châu
Đông Nghi
Lộc

3683

qh2

8805

2318


Nguồn: Sở TNMT tỉnh Nghệ An, 2011.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 8


Vùng nước nhạt của tỉnh Nghệ An được chia làm 6 vùng: Vùng Nam Đàn,
vùng Vinh – Cửa Lò, vùng Hoàng Mai, vùng Quỳnh Lưu, vùng Quỳ Hợp –
Nghĩa Đàn, vùng Đô Lương – Diễn Châu. Vùng nước nhạt được thăm dò, đánh
giá theo các cấp trữ nước trên tổng diện tích 1147km2 cho thấy cấp B là
3096m3/ngày, cấp C1 là 17619 m3/ngày và cấp C2 là 1.010.000m3/ngày.
Nước mặn và lợ phân bố chủ yếu ở dải ven biển từ Quỳnh Lưu, Yên
Thành đến Hưng Nguyên. Do bị ảnh hưởng của thủy triều,nước biển cũng như
quá trình thành tạo, nước ngầm mặn và lợ thường phân bố ở tầng sâu và vùng
cửa sông ven biển.
1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng tài nguyên nước
1.2.1. Các yếu tố ảnh hướng dẫn tới suy giảm chất lượng tài nguyên nước
- Phát triển dân số và quá trình đô thị hóa
Theo kết quả điều tra dân số của Tổng cục Thống kê và Quỹ Dân số Liên
hợp quốc công bố ngày 17/12/2014 tại Hà Nội, dân số Việt Nam đạt gần 90,5
triệu người, số dân thành thị chiếm 31,8% số dân cả nước. Dân số thành thị
không ngừng tăng theo thời gian, mật độ dân số nước ta phân bố không đồng đều
giữa các vùng. Mật độ dân số cao nhất đạt 3589 người/km2 tại thành phố Hồ Chí
Minh, tiếp đến là Hà Nội với 2013 người/km2.
Dân số đông không chỉ tác động về mặt kinh tế - xã hội, quá trình đô thị hóa
cũng là nguyên nhân gây biến động nguồn tài nguyên đất, theo đó, các sông hồ trong
các đô thị ngày một bị thu hẹp dòng chảy hoặc bị lấp hoàn toàn để lấy đất phục vụ
cho quá trình phát triển, xây dựng công trình giao thông, khu dân cư, v.v…
- Tăng trưởng kinh tế và việc sử dụng nước

Gia – Thu Bồn 5,2, sông Srepok 4%, sông Lô – Gâm – Chảy 3,8% và các sông
khác 30,2%.
Việc chuyển dòng của một số công trình thủy điện sang lưu vực khác
thiếu sự xem xét đầy đủ tác động môi trường lên lưu vực, làm thay đổi đến chế
độ thủy văn, gây ra những tác động lớn đến các hệ sinh thái và hoạt động phát
triển kinh tế - xã hội trên các lưu vực sông. Điển hình có thể kể đến công trình
chuyển nước từ lưu vực sông Đồng Nai sang nhóm sông Đông Nam Bộ đã gây ra
tình trạng thiếu nước cho hoạt động phát triển công nghiệp và các nhu cầu cấp
nước đô thị ở khu vực hạ lưu đặc biệt vào mùa khô.
- Khai thác khoáng sản
Việt Nam được đánh giá là quốc gia có nhiều tiềm năng về khoáng sản với
khoảng 60 loại, trong đó nhiều loại có trữ lượng lớn như boxit, titan, đất hiếm với
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 10


giá trị kinh tế lớn, đóng góp của ngành công nghiệp khai khoáng vào GDP ngày
càng tăng.
Theo tính toán, việc sản xuất 1 tấn than sẽ thải từ 1 – 3 m3 nước thải mỏ.
Như vậy, với sản lượng khai thác năm 2012 của ngành than là hơn 42 triệu tấn
thì lượng nước thải thải ra môi trường trung bình khoảng hơn 70 triệu m3. Đây là
nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước mặt cho nhiều khu vực tại Mạo Khê,
Uông Bí…
Theo kết quả phân tích mẫu nước của Nhà máy tuyển quặng sát Kbang
ngày 04/7/2011 (Tổng cục Môi trường, 2012) cho thấy có 3/7 chỉ tiêu vượt
QCVN, cụ thể: chỉ tiêu độ màu vượt 18 lần, COD vượt 3,6 lần và chất rắn lơ
lửng vượt 39 lần.
Công nghiệp khai khoáng hiện nay đã và đang để lại nhiều hậu quả lớn và
khó khắc phục về mặt môi trường, xã hội. Biểu hiện rõ nét nhất là việc sử dụng

sông. Lượng nước thải sinh hoạt đổ vào các sông hàng năm đều tăng do tốc độ đô
thị hóa cao. Do đặc điểm điều kiện tự nhiên và tình hình phát triển kinh tế xã hội
thuận lợi, tổng số dân khu vực miền Bắc lên đến gần 31,3 triệu người (chiếm
35,6% dân số toàn quốc)(Tổng cục Môi trường, 2012). Trong đó, dân số đô thị
lên đến gần 8,1 triệu người (Tổng Cục Thống kê, 2012). Tỷ lệ tăng dân số hàng
năm vào khoảng 1%, dân số đô thị tăng nhanh gấp 3 lần mức tăng dân số cả
nước. Bên cạnh đó, không chỉ ở thành thị, mà tại khu vực nông thôn lượng nước
thải sinh hoạt chiếm tỷ lệ rất lớn và tăng nhanh. Hầu hết, nước thải sinh hoạt của
các thành phố đều chưa được xử lý, trực tiếp đổ vào các kênh mương và chảy
thẳng ra sông gây ô nhiễm môi trường nước mặt. Phần lớn các đô thị đều chưa có
nhà máy xử lý nước thải tập trung, hoặc đã xây dựng nhưng chưa đi vào hoạt
động, hoặc hoạt động không có hiệu quả. Tổng lượng nước thải từ các nguồn
khác nhau của thành phố Hà Nội thải ra lưu vực sông Nhuệ - Đáy khoảng
670.000 m3, trong đó 620.000 m3 (chiếm 93% tổng lượng nước thải) chưa được
xử lý xả thẳng vào hệ thống thoát nước. Tại thành phố Hà Nội, hiện nay mới chỉ
có 4 trạm xử lý nước thải tập trung (Kim Liên, Trúc Bạch, Bắc Thăng Long –
Vân Trì và một trạm xử lý nhỏ trong khu đô thị mới Mỹ Đình) với tổng công suất
thiết kế là 50000 m3/ngày.đêm nhưng hầu hết các trạm xử lý nước thải sinh hoạt
tập trung này có tỷ lệ xử lý còn rất thấp so với yêu cầu (Tổng cục Môi trường,
2012).

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 12


Vùng Đông Nam Bộ với 3 trung tâm đô thị lớn: Thành phố Hồ Chí Minh,
Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, là vùng có mức độ đô thị hóa cao nhất cả nước,
khu vực có tỷ lệ dân cư sống ở các đô thị cao nhất cả nước. Hiện nay, tỷ lệ dân số
thành thị khu vực này chiếm 57,1% (năm 1999 là 55,1%), tỷ lệ tăng dân số cũng

1

Nghệ An

17

28

27

114

182

176,5

2

Hà Tĩnh

8,8

14,05

13,6

46,5

73


30,7

29,7

5

Thừa Thiên Huế

25,7

40,7

39,46

24

38

37

6

Đà Nẵng

37,3

59,2

57,3


thải sinh hoạt khá thấp. Hầu hết nước thải sinh hoạt đều xả thẳng ra sông hồ hay
kênh mương.
* Nước thải công nghiệp
Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhiều
ngành công nghiệp được mở rộng với quy mô sản xuất, cũng như phạm vi phân
bố. Cùng với đó là sự tăng lượng nước thải lớn, nhưng mức đầu tư cho hệ thống
xử lý nước thải chưa đáp ứng yêu cầu.
Phát triển công nghiệp ở đồng bằng sông Hồng đã có quá trình lịch sử lâu
dài và đã hình thành các trung tâm công nghiệp, phân bố chủ yếu ở các tỉnh thành
như Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Quảng Ninh… Tuy nhiên, đến nay vẫn còn
tình trạng nhiều khu công nghiệp, nhiều nhà máy lớn xả nước thải chưa qua xử lý
xuống hệ thống sông, hồ xung quanh đã gây ô nhiễm nguồn nước tại nhiều đoạn
sông trong lưu vực. Năm 2010, Tổng Cục Môi trường đã tiến hành thanh tra 33
cơ sở sản xuất và 23 khu công nghiệp trên địa bàn các tỉnh nằm trên lưu vực sông
Nhuệ - Đáy, kết quả cho thấy, có tới 20 cơ sở xả nước thải vượt QCVN về nước
thải công nghiệp từ 2 đến 10 lần trở lên. Đồng thời cũng chưa thực hiện các nội
dung cam kết trong báo cáo đánh giá tác động môi trường hay cam kết bảo vệ
môi trường, dẫn đến ô nhiễm môi trường ở một số nơi vẫn tiếp diễn. Đặc biệt,
tình trạng thải nước thải chưa xử lý vào hệ thống thoát nước mưa vẫn khá phổ
biến, gây khó khăn trong việc quản lý và kiểm soát ô nhiễm môi trường ở các
khu công nghiệp.
Khu vực Trung du và miền núi phía Bắc có tài nguyên khoáng sản phong
phú, do đó đã hình thành nhiều loại hình sản xuất công nghiệp, điển hình như
khai thác, chế biến khoáng sản tại các tỉnh Hà Giang, Thái Nguyên… Đây được
xem là thế mạnh phát triển của khu vực. Với thế mạnh của vùng, hoạt động công
nghiệp vùng này chủ yếu là phát triẻn các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và
một số cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc nhiều loại hình sản xuất khác nhau như:
sản xuất luyện cán thép, sản xuất giấy, sản xuất hóa chất, khai khoáng... Nước
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp


TSS

COD

BOD5

N-NO2

N-NO3

SUNFUA

7255,59

6943,59

1010,40

121,11

452,92

0,4

137400,76

3572,08

2097,96


892,59

0,96

172544,72

18069,35

7110,16

225,95

2243,54

12,37

1901,45

doanh 4772,64 67576,10

nghiệp ngoài
các KCN
Các

doanh 472,84

nghiệp trong
KCN

nhưng


Hiện chưa có số liệu thống kê đầy đủ về tình hình hoạt động cũng như các dữ
liệu nguồn thải từ các cơ sở này. Tuy nhiên có thể nhận xét đây là nhóm nguồn
thải công nghiệp chính gây ô nhiễm nguồn nước lưu vực hệ thống sông Đồng
Nai, vì phần lớn đều xả thẳng nước thải ô nhiễm ra môi trường.
* Nước thải nông nghiệp
Bên cạnh những nguồn thải từ sinh hoạt và hoạt động công nghiệp, nguồn
thải nông nghiệp cũng là vấn đề đáng quan tâm hiện nay. Đó là nguyên nhân
chính gây ảnh hưởng đến nguồn nước tại những địa phương có nền kinh tế nông
nghiệp phát triển mạnh như đồng bằng sông Cửu Long. Nước thải từ hoạt động
nông nghiệp có chứa hóa chất bảo vệ thực vật, hay thuốc trừ sâu, là thành phần
độc hại cho môi trường và sức khỏe con người. Đặc biệt, các khu vực này đời
sống dân cư gắn liền với nguồn nước sông, dùng làm nước sinh hoạt hoặc sử
dụng để nuôi trồng thủy sản.
Theo tính toán chưa đầy đủ nhu cầu sử dụng phân bón cho các hoạt động
sản xuất nông nghiệp của khu vực phía Bắc chiếm 30 – 40% tổng nhu cầu toàn
quốc. Lượng hóa chất và phân bón nêu trên là nguồn gây ô nhiễm đáng kể cho
các con sông trong mùa mưa, khi các chất gây ô nhiễm bị rửa trôi sau các mùa
mưa lũ.
Đồng bằng sông Hồng là khu tập trung nhiều làng nghề nhất trong cả nước
với gần 900 làng nghề (chiếm gần 60% tổng số làng nghề trên cả nước). Các làng
nghề này chủ yếu với quy mô sản xuất thủ công, lạc hậu, nhỏ lẻ, phần lớn không
có các công trình xử lý nước thải… đã và đang làm cho chất lượng nước tại
nhiều làng nghề suy giảm nghiêm trọng, ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng và
ngày càng trở nên bức xúc, được cộng đồng hết sức quan tâm. Lưu vực hệ thống
sông Đồng Nai có khoảng 710 làng nghề tiểu thủ công nghiệp với một số loại
hình: chế biến thực phẩm, chiếu cói, sơn mài, mây tre, chế biến kim loại và một
số loại hình khác. Phần lớn các cơ sở tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề có
công nghệ đơn giản, mặt bằng sản xuất nhỏ, khả năng đầu tư cho hệ thống xử lý
nước thải rất hạn chế, do đó đã gây ô nhiễm môi trường khá trầm trọng với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status