Chuyờn 2: A DNG SINH HC V TIM NNG S DNG A DNG SINH
HC TY NGUYấN
A M U
1. t vn
Sự tồn tại của xã hội loài ngời liên quan mật thiết đến các nguồn tài nguyên thiên
nhiên, tài nguyên sinh vật. Tuy nhiên con ngời đang lạm dụng quá mức việc khai thác sử
dụng các nguồn tài nguyên này và kết quả là tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên sinh vật,
môi trờng bị suy thoái, gây ra mất cân bằng sinh thái, đe doạ cuộc sống của các loài sinh vật
trong đó có loài ngời chúng ta. Sức khoẻ của hành tinh phụ thuộc vào sự đa dạng của các
loài sinh vật. Vì vậy việc bảo tồn đa dạng sinh học đợc coi là nhiệm vụ rất cấp bách hiện
nay và cũng là trách nhiệm của cả nhân loại. Đã đến lúc con ngời phải thay đổi về suy nghĩ
và hành động của mình đối với việc khai thác sử dụng tài nguyên thiên nhiên theo phơng
châm "phát triển bền vững".
Tõy Nguyờn đợc coi là một trong những trung tâm về đa dạng sinh học của Vit Nam
cũng nh trong khu vc ụng Nam v trờn Th Gii. Những phát hiện loài mới cng nh
phỏt hin ra khu vc phõn b mi ca mt s ng vt quý him nh: Su u ó gây
chấn động thế giới gần đây đã cho thấy rằng thiên nhiên vựng Tõy Nguyờn núi riờng v Vit
Nam núi chung còn nhiều điều bí ẩn cha đợc khám phá. Tuy nhiên Tõy Nguyờn cũng đang
phải đối mặt với một thực trạng rất đáng lo ngại đó là sự suy thoái nghiêm trọng về môi tr-
ờng và tài nguyên đa dạng sinh học, đe doạ cuộc sống của các loài sinh vật và cuối cùng là
ảnh hởng đến sự phát triển bền vững của vựng v ca c t nc. Việc trang bị cho hc
viờn, sinh viên, hc sinhngi dõn những kiến thức, kĩ năng và thái độ cần thiết về bảo
tồn đa dạng sinh học là hết sức quan trọng góp phần nâng cao ý thức và trách nhiệm của
toàn xã hội đối với công tác bảo tồn đa dạng sinh học. Xut phỏt t ý tng ú, bn thõn l
hc viờn cao hc ngnh sinh hc trng i Hc Tõy Nguyờn mun gúp mt phn nh vo
mc tiờu chin lc phỏt trin bn vng ca t nc. ú cng chớnh l lớ do m em chn
chuyờn a dng sinh hc v tim nng s dng a dng sinh hc Tõy Nguyờn
B NI DUNG
2. C s lý lun
2.1.Khái niệm về đa dạng sinh học
Theo ớc tính gần đây nhất thì có đến 12 định nghĩa khác nhau về đa dạng sinh học (Gaston
và môi trờng tạo ra. Đa dạng di truyền cho phép các loài thích ứng đợc với sự thay đổi của
môi trờng. Thực tế cho thấy những loài quý hiếm thờng phân bố hẹp và do đó thờng đơn
điệu về gen (lợng biến dị nhỏ) so với các loài phổ biến, phân bố rộng (lợng biến dị lớn). Do
vậy loài quí hiếm thờng rất nhạy cảm với sự biến đổi của môi trờng và hậu quả là dễ bị tuyệt
chủng.
2.1.2 Một số nhân tố ảnh hởng đến đa dạng di truyền
- Những nhân tố làm giảm đa dạng di truyền
+Phiêu bạt gen
Đây là quá trình thờng xuất hiện trong các quần thể nhỏ, gây nên biến đổi về tần số gen. Quần thể
nhỏ thờng có số cá thể ít do đó khi giao phối ngẫu nhiên thì tần số gen sau giao phối đôi khi bị
lệch vì các alen ở quần thể nhỏ có tần số khác với các quần thể lớn. Ví dụ một quần thể gồm 10
gen trong đó có 5A và 5B. Đối với quần thể lớn, sau giao phối ngẫu nhiên các thế hệ sau thờng
vẫn có tần số gen nh ban đầu. Tuy nhiên với quần thể nhỏ chỉ cần một vài cá thể không tham gia
vào quá trình giao phối hoặc khả năng sinh sản kém, hoặc là tỉ lệ sống kém là tần số gen có thể bị
biến đổi hoàn toàn, lệch so với tần số gen ban đầu chẳng hạn thành 6A và 4B hoặc là 7A và 3B,
thậm chí thành 9A và 1B (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 1999).
+ Chọn lọc tự nhiên và nhân tạo
Trong quá trình tiến hoá thì bằng con đờng chọn lọc tự nhiên, từ một loài tổ tiên ban đầu đã
sinh ra các loài khác nhau. Tuy nhiên quá trình chọn lọc tự nhiên lại làm giảm lợng biến dị
bởi vì quá trình này liên quan đến sự đào thải các cá thể kém thích nghi và giữ lại các cá thể
thích nghi nhất với môi trờng sống.
Khác với chọn lọc tự nhiên, chọn lọc nhân tạo là chọn lọc có định hớng do con ngời
tiến hành nhằm đáp ứng các mục tiêu đề ra. Bởi vì con ngời chỉ chọn lọc một số cá thể và
loài nhất định và lai tạo chúng để đáp ứng nhu cầu của mình cho nên sẽ làm giảm lợng biến
dị di truyền. Thực tế là khi một số loài ít ỏi đợc gây trồng trên diện rộng sẽ dẫn đến hiện t-
ợng xói mòn di truyền. Xói mòn di truyền sẽ làm giảm sự đa dạng của các nguồn gen bên
trong mỗi loài và làm mất đi các biến dị di truyền cái mà các nhà chọn giống cần phải có để
triển khai công tác cải thiện giống. Có thể nói rằng những giống cây trồng và vật nuôi đợc
con ngời lai tạo và sử dụng đều có nền tảng di truyền hẹp hơn so với các loài hoang dã.
- Những nhân tố làm tăng đa dạng di truyền
Bảng 1: Số loài sinh vật đã đợc mô tả trên thế giới (Wilson, 1988 có bổ sung)
Nhóm Số loài đã mô tả Nhóm Số loài đã mô tả
Virus 1.000 Động vật đơn bào 30.800
Thực vật đơn
bào
4.760 Côn trùng 751.000
Nấm 70.000 ĐVKXS khác 238.761
Tảo 26.900 ĐVCXS bậc thấp 1.273
Địa y 18.000 Cá 19.056
Rêu 22.000 ếch nhái 4.184
Dơng xỉ 12.000 Bò sát 6.300
Hạt trần 750 Chim 9.040
Hạt kín 250.000 Thú 4.629
405.410 loài 1.065.043 loài
Tổng số 1.470.453 loài
Nguồn: Cao Thị Lý và Nhóm biên tập (2002)
Trong nghiên cứu đa dạng sinh học việc mô tả quy mô của đa dạng loài cũng rất quan trọng.
Do vậy các chỉ số toán học về đa dạng đã đợc phát triển để bao hàm đa dạng loài ở các
phạm vi địa lí khác nhau( 3 mức độ).
+ Đa dạng alpha (): là tính đa dạng xuất hiện trong một sinh cảnh hay trong một quần xã.
Ví dụ: sự đa dạng của các loài cây gỗ, các loài thú, chim. trong một kiểu rừng hoặc quần
xã.
+ Đa dạng beta (): là tính đa dạng tồn tại giữa các sinh cảnh hay là giữa các quần xã trong
một hệ sinh thái. Vì vậy nếu sự khác nhau giữa các sinh cảnh càng lớn thì tính đa dạng beta
càng cao.
+ Đa dạng gama (): là tính đa dạng tồn tại trong một quy mô địa lý rộng hơn. Ví dụ: sự đa
dạng của các loài cây gỗ, các loài thú, chim trong những sinh cảnh khác nhau, cách xa nhau
của cùng một vùng địa lý.
Nghiên cứu quy mô đa dạng sinh học theo hệ thống trên có ý nghĩa quan trọng đối với việc
xem xét quy mô khi thiết lập các u tiên trong công tác bảo tồn.
là cơ sở để tạo nên các loài mới.
* Sự mất loài (tuyệt chủng)
Nếu nh quá trình hình thành loài mới làm tăng tính đa dạng loài thì sự tuyệt chủng sẽ làm
giảm tính đa dạng sinh học. Sự mất loài (tuyệt chủng) sẽ đợc nghiên cứu kĩ trong phần "suy
thoái đa dạng sinh học".
2.3. Đa dạng hệ sinh thái
2.3.1. Khái niệm
Hệ sinh thái là một đơn vị cấu trúc và chức năng của sinh quyển bao gồm các quần xã sinh
vật, đất đai và các yếu tố khí hậu. Quần xã sinh vật đợc xác định bởi các loài sinh vật trong
một sinh cảnh nhất định vào một thời điểm nhất định cùng với mối quan hệ qua lại giữa các
cá thể trong loài và giữa các loài với nhau. Quần xã sinh vật có quan hệ với môi trờng vật lý
tạo thành hệ sinh thái. Các loài trong hệ sinh thái tạo thành một chuỗi thức ăn liên kết với
nhau một cách chặt chẽ và tạo thành một qui luật nhất định góp phần duy trì sự cân bằng
sinh thái.
Sự phong phú của môi trờng trên cạn và dới nớc trên trái đất tạo lên một số lợng lớn
các hệ sinh thái khác nhau. Sự đa dạng của các hệ sinh thái đợc thể hiện qua sự đa dạng về
sinh cảnh, cũng nh mối quan hệ giữa các quần xã sinh vật và các quá trình sinh thái trong
sinh quyển.
Việc xác định hệ sinh thái hay sinh cảnh trên thực tế là rất khó khăn vì ranh giới của
chúng không rõ ràng. Những sinh cảnh rộng lớn trên quả đất bao gồm rừng nhiệt đới, những
cánh đồng cỏ, đất ngập nớc, rừng ngập mặn Những hệ sinh thái có thể là một hồ nớc, rừng
cây hay đồng ruộng.
Trên thế giới bao gồm nhiều chỉnh thể sinh vật. Sự phân chia đó tuỳ thuộc vào điều kiện khí
hậu và các sinh vật sống trên đó. Một chỉnh thể bao gồm nhiều hệ sinh thái khác nhau. Các
chỉnh thể sinh vật trên thế giới bao gồm có:
1. Rừng ma nhiệt đới
2. Rừng ma á nhiệt đới - ôn đới
3. Rừng lá kim ôn đới
4. Rừng khô nhiệt đới
5. Rừng lá rộng rộng ôn đới
sau khi họ ra đời và phát triển nền văn minh của mình và cũng là tác nhân chủ yếu làm mất
đa dạng sinh học.
Sự mất đa dạng sinh vật ở Tây Nguyên cũng giống như các vùng khác trên thế giới
ngày càng một gia tăng, tốc độ suy giảm đa dạng sinh vật ngày một tăng do ảnh hưởng các
hoạt động của con người vào tự nhiên. Trên thực tế, tốc độ suy giảm đa dạng sinh vật Tây
Nguyên nhanh hơn nhiều so với các vùng khác trên lảnh thổ Việt Nam.
Ví dụ: Ở Đắk Lắk, trước đây loài hổ phân bố nhiều tại các khu rừng rậm thuộc các địa bàn
rừng Yor Đôn, vùng biên giới Buôn Đôn, Ea Súp, sống trên rừng núi Cư Yang Sin (huyện
Krông Bông); trong khu rừng rậm Nam Kar (Lắc), Buôn Za Wầm (Cư M’ga), Ea Sô (Ea
Kar) và các khu rừng bên trảng cỏ các huyện M’Đrắc, Krông Năng, Ea H’leo.
Suốt thời gian dài với nhiều biến động về điều kiện tự nhiên dưới tác động của con người,
môi trường sống của loài hổ bị thu hẹp dần.
Hơn nữa, từ lâu nhiều người vẫn coi các sản phẩm của chúa sơn lâm là rất quý giá, như cao
hổ là thuốc chữa bệnh; da và móng vuốt hổ để trưng bày và làm trang sức. Do vậy, loài hổ
đã trở thành đối tượng được nhiều kẻ săn lùng và tìm kiếm.
Cách đây 20-25 năm, trong khu rừng rậm Nam Kar là khu bảo tồn thiên nhiên có
nhiều cá thể hổ sinh sống cùng với nhiều loài động vật hoang dã tại đây, nhưng nay hổ ở
đây đã hoàn toàn biến mất.
Các khu rừng rậm nguyên sinh thuộc các huyện Cư M’Gar, Krông Năng, Ea H’elo,
vùng biên giới Buôn đôn, Ea Súp trước đây có khá nhiều động vật hoang dã và nhiều cá thể
hổ, nhưng nay rất hiếm hoi.
Tại Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô, cách đây hơn chục năm các nhà khoa học vẫn
thấy dấu vết hổ sinh sống. Do nạn săn trộm và sự tàn phá rừng, các loại động vật quý hiếm
của khu đa dạng sinh học này như bò tót, bò rừng đang bị chỉ tồn tại rất ít, loài hổ và hươu
đầm lầy là động vật rất quý ở đây nay cũng không còn. Theo các nhà khoa học, hiện nay chỉ
còn một số cá thể hổ đang sống trong rừng Vườn quốc gia Yor Đôn và Vườn quốc gia Cư
Yang Sin. Tuy vậy, số cá thể hổ ít ỏi này vẫn đang bị thu hẹp môi trường sinh sống và bị đe
dọa gay gắt hơn. Nếu công tác quản lý bảo vệ rừng, bảo vệ động vật hoang dã không được
đẩy mạnh thì một ngày không xa chúa sơn lâm sẽ bị tuyệt chủng.
Nguyên nhân của sự mất đa dạng sinh vật ở Tây Nguyên:
hoạt: lương thực, thực phẩm và các nhu cầu thiết yếu khác trong khi tài nguyên thì hạn hẹp,
nhất là đất cho sản xuất nông nghiệp. Hệ quả tất yếu là dẫn đến việc mở rộng đất nông
nghiệp vào đất rừng và làm suy giảm đa dạng sinh học.
+ Sự di dân: từ những năm 60, chính phủ đã động viên khoảng 1 triệu người từ vùng
đồng bằng lên khai hoang và sinh sống ở vùng núi, cuộc di dân này đã làm thay đổi sự cân
bằng dân số ở miền núi. Những năm 1990, nhiều đọt di cư tự do từ các tỉnh phía Bắc và
Bắc Trung Bộ vào các tỉnh phía Nam, Tây nguyên sự di dân này đã ảnh hưởng rõ rết đến đa
dạng sinh học của vùng này.
+ Sự nghèo đói: với gần 80% dân số ở nông thôn, vì vậy phụ thuộc phần lớn vào
nông nghiệp và tài nguyên thiên nhiên. Trong các khu bảo tồn được nghiên cứu, 90% dân
địa phương sống dựa vào nông nghiệp và khai thác rừng. Người nghèo không có vốn để
đầu tư lâu dài, sản xuất và bảo vệ tài nguyên, học buộc phải khai thác, bóc lột ruộng đất của
mình, làm cho tài nguyên càng suy thoái một cách nhanh chóng.
+ Một số nguyên nhân sâu xa khác có thể nói như: chính sách kinh tế vĩ mô, chính
sách kinh tế cộng đồng, chính sách sử dụng đất, lâm nghiệp, du canh du cư cũng
đã tác động không nhỏ đến thực trạng suy giảm đa dạng sinh học ở Tây Nguyên
chúng ta.
Ví dụ: Cách đây khoảng 10 năm chúng ta chỉ cần đi khoảng 10km lá đã thấy rừng,
nhưng bây giờ điều đó đã đi vào những câu truyện cổ tích. Tỉnh Đăk Lăk đã và đang tiếp
đón “lực lượng những người phá rừng” đang từng ngày đến từ khắp các tỉnh phía Bắc mà
danh từ báo chí thường gọi là “những người di dân tự do”. Trên các chuyến xe lên Đăk Lăk
bằng 2 con đường chính từ Khánh Hòa lên và từ Gia Lai vào mỗi ngày có hàng trăm người
đến Đăk Lăk “lập nghiệp” với hành trang là rìu, dao rựa và súng tự tạo.Những người này
“tự do” thực sự. Chính quyền địa phương không thể quản lý nổi với một địa hình quá rộng
lớn. Lực lượng “Bảo vệ rừng” của tỉnh Đăk Lăk nói riêng và của nước ta nói chung chỉ làm
được một việc chính là cuối tháng, cuối năm báo cáo ước lượng có bao nhiêu vụ vi phạm
Lâm luật, có bao nhiêu hec ta rừng đã bị tàn phá, đã bị biến thành rẫy. Không bao giờ dự
báo được con số hec ta rừng “sẽ” bị biến thành rẫy….Những con thác hùng vĩ của Đăk Lăk
bây giờ xung quanh không còn rừng nữa, thay vào đó là đủ loại nương rẫy, đang phải trải
qua nhưng đợt nắng hạn nghiệt ngã. Những đợt mưa dầm nhiều ngày không thấy mặt trời,
tiền… đã giảm số lượng đến mức cạn kiệt.
Trong đó, có loài bò xám là động vật cực kỳ quý hiếm nay đã bị tuyệt chủng. Nai cà
tong là động vật rất quý trước đây có số lượng khá nhiều ở một số khu rừng, nay chỉ còn
tồn tại số lượng rất ít ỏi trong Vườn quốc gia Yor Đôn. Loại hươu đầm lầy có vài cá thế ở
khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô (huyện Ea Kar), nhưng nay cũng biến mất. Diện tích rừng
thu hẹp, độ che phủ rừng và thảm thực vật thay đổi đã ảnh hưởng đến đời sống các loài
động vật. Mất dần môi trường sinh sống, nhiều loài động vật đã di cư đến nơi khác.
Cách đây 30-35 năm Voi rừng có khá phổ biến ở huyện M’Đrắc, Ea Kar, Lắk, Krông
Bông, Ea H’leo, Krông Năng nay đã hoàn toàn biến khỏi những vùng này. Loại hổ trước
đây có khá phổ biến ở nhiều khu rừng ở trong tỉnh, nay hầu như không còn thấy trong các
khu bảo tồn thiên nhiên. Hiện nay, các loại động vật quý hiếm vẫn đang nguy cơ bị giảm số
lượng và có thể bị tuyệt chủng trong thời gian không xa.
Với thực trạng rừng bị suy thoái, môi trường sinh thái tiếp tục biến đổi đang ảnh
hưởng nghiêm trọng đến sự đa dạng sinh học ở Đắk Lắk và cả vùng Tây Nguyên. Đó là
những yếu tố đang tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế bền vững và cuộc sống con
người đang sinh sống trên vùng cao nguyên này.
Và điều đáng lo ngại nhất là việc thác quặng bôxit chế biến thành alumin để luyện
nhôm là một quy trình tiêu tốn lượng nước và điện khổng lồ, đồng thời phát thải một lượng
khí thải nhà kính và bùn đỏ có sức hủy diệt môi trường rất ghê gớm. GS Đào Công Tiến -
nguyên hiệu trưởng Đại học Kinh tế TP.HCM - cảnh báo: “Nguồn nước của Tây nguyên
những năm gần đây sụt giảm nghiêm trọng, nếu trưng dụng nguồn nước cho khai thác
bôxit, chắc chắn Tây nguyên sẽ chết vì thiếu nước”.
3.2 . Tiềm Năng sử dụng đa dạng sinh học ở Tây Nguyên.
Tây Nguyên là vùng đất nhiều tiềm năng và lợi thế so sánh so với các vùng khác
trong cả nước, có điều kiện phát triển một nền kinh tế mở. Với độ che phủ của rừng 56%,
Tây Nguyên có điều kiện rất tốt để phát triển nghề rừng và công nghiệp rừng.
Lợi thế về đất rất lớn, trong đó đất đỏ bazan khoảng 1,5 triệu ha, được xếp vào loại
đất tốt nhất trên thế giới, thuận lợi để phát triển một nền nông nghiệp đa dạng, với nhiều
sản phẩm chủ lực như: cà phê, cao su, hồ tiêu, điều, ngô lai, bông vải, chè, rau, hoa xuất
khẩu Tài nguyên đát phong phú dẫn đến đa dạng sinh học đặc biệt với khí hậu ẩm gió mùa
còn tự phát và thiếu tính hệ thống, chưa xác định rõ được những sản phẩm du lịch đặc thù
có sức cạnh tranh trên cơ sở khai thác các giá trị tài nguyên du lịch đặc trưng. Đó là chưa kể
còn có sự trùng lặp trong phát triển sản phẩm du lịch. Sự phát triển tự phát dẫn đến tác động
của hoạt động phát triển du lịch đến tài nguyên và môi trường tự nhiên cũng như môi
trường văn hóa chưa được kiểm soát tốt. Một số dự án đầu tư, bao gồm cả đầu tư nâng cấp
hạ tầng du lịch còn chưa phát huy được hiệu quả.
Điểm đặc sắc ở Tây Nguyên, sản phẩm du lịch có nhiều nét tương đồng về tài
nguyên thiên nhiên và văn hóa. Vì vậy, mỗi tỉnh cần xây dựng và lựa chọn một vài loại
hình du lịch đặc trưng, tránh sự trùng lắp để định hướng đầu tư. Trong các tỉnh Tây
Nguyên, ngoại trừ Lâm Đồng có thương hiệu điểm đến khá tốt, các tỉnh còn lại cần tập
trung đầu tư một vài điểm nhấn, chẳng hạn ở Đắk Lắk có voi Bản Đôn, Kon Tum có khu du
lịch ở Măng Đen…
Để khai thác tiềm năng du lịch to lớn vùng Tây Nguyên không thể thiếu sự liên kết,
trước hết là liên kết liên vùng với khu vực miền Trung, đặc biệt với khu vực Nam Trung bộ.
Sự liên kết cấp vùng Tây Nguyên và Nam Trung bộ sẽ góp phần đa dạng hóa sản phẩm bởi
vùng duyên hải Nam Trung bộ có lợi thế là nghỉ dưỡng biển; trong khi Tây Nguyên với thế
mạnh là rừng núi, hệ sinh thái và du lịch văn hóa. Bên cạnh đó, cự ly di chuyển từ Nam
Trung bộ lên Tây Nguyên khá gần để kéo khách lên. Nhìn cấp độ liên kết vùng, sân bay
quốc tế Cam Ranh đi vào hoạt động sẽ không chỉ thúc đẩy du lịch vùng Nam Trung bộ phát
triển mà còn có ý nghĩa đặc biệt, trực tiếp thúc đẩy du lịch Tây Nguyên phát triển. Với
đường biên giới dài hàng trăm km, có nhiều cửa khẩu với các nước Lào và Campuchia, Tây
Nguyên còn có ý nghĩa đặc biệt đối với quá trình hội nhập của du lịch Việt Nam với khu
vực và quốc tế. Do đó, việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng tạo thuận lợi mở các tuyến du
lịch liên vùng và các nước trong khu vực như Lào, Campuchia, Thái Lan…
Phát triển du lịch Tây Nguyên cũng đi liền với việc bảo tồn, không để biến dạng văn
hóa truyền thống Tây Nguyên. Để làm được điều này thì cần phải khắc phục tình trạng chặt
phá rừng. Việc mất rừng diễn ra với tốc độ nhanh trong những năm gần đây cũng khiến văn
hóa truyền thống Tây Nguyên bị mai một hoặc biến dạng một cách nhanh chóng. Nhiều
buôn làng không còn biết tiếng chiêng, không còn người biết cầu cúng thần linh, không còn
người biết kể sử thi, hàng ngàn bộ cồng chiêng dần biến mất, hàng ngàn tượng nhà mồ bị
giám sát thông qua hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật (hệ thống mở). Đề xuất xây
dựng, hoàn thiện khung thể chế, tăng cường năng lực quản lý, bảo tồn cho các đơn vị,
ngành liên quan. Đặc biệt chú trọng xây dựng quy chế phối kết hợp trong công tác bảo vệ
rừng với buôn, làng, chính quyền địa phương (ban lâm nghiệp xã) và các đơn vị trên địa
bàn tham gia công tác bảo tồn. Tiến hành xây dựng hương ước quản lý bảo vệ rừng cho
cộng đồng nhằm chia sẻ quyền lợi, trách nhiệm trong công tác quản lý, bảo vệ rừng. Thi
hành luật pháp một cách nghiêm túc triệt để trong công tác bảo tồn.
Kiểm soát nhu cầu thị trường. Tăng cường lực lượng kiểm lâm cả số lượng và chất
lượng cũng như trang thiết bị, phương tiện cho công tác tuần tra, kiểm soát bảo vệ rừng một
cách hiệu quả các vùng, mùa trọng điểm tác động.
D – TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trần Trung Dũng, Đánh giá hiện trạng đất nương rẫy trên cao nguyên Buôn Ma
Thuột. Đề xuất phương hướng sử dụng hợp lý, luận văn tiến sĩ, Hà Nội 2000.
2. TS. Trần Trung Dung – Giáo trình sinh thái môi trương 2010.
3. Cao Thị Lý và cộng sự Giáo trình Đa dạng sinh học và bảo tồn đa dạng sinh học.
4. http://www/ Thiên nhiên.net
5. http://www/Tailieu.vn
6. http://www/dadangsinhhocvietnam.com.vn
6. _Nam_Kar.
7. />option=com_content&view=article&id=2%3Aho-lak-tho-mong&catid=15%3Agii-
tri&Itemid=15&lang=vi