PHÁP LỒNG GHÉP THƠ CA TRONG GIẢNG DẠY LỊCH SỬ 7 - Pdf 14

Sáng kiến kinh nghiệm Trường THCS Tôn Đức Thắng

Gíao viên: Lê Thị Thanh Châu
1
MỤC LỤC Trang
PHẦN I: MỞ ĐẦU 4
1. Lý do chọn đề tài 4
2. Mục đích nghiên cứu 4
3. Đối tượng nghiên cứu 4
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
4
5. Phương pháp nghiên cứu 4
6. Nội dung đề tài 5
PHẦN II: NỘI DUNG ĐỀ TÀI 5
Chương I: Cơ sở lí luận 5
1. Cơ sở pháp lí 5
2. Cơ sở lí luận 6
3. Cơ sở thực tiễn 6
Chương II: Thực trạng của đề tài nghiên cứu 6
1. Khái quát phạm vị nghiên cứu 6
2. Thực trạng của đề tài nghiên cứu 6
2.1.Thuận lợi 6
2.2.Khó khăn 7
3. Nguyên nhân thực trạng 7
3.1. Nguyên nhân khách quan 7

đánh, một mô hình, một bức tranh vẽõ một bức ảnh chụp…chỉ mới thỏa mãn được một
phần . Để khắc sâu, để lắng đọng, để trở thành tri thức học sinh còn khao khát một cái gì
đó chạm đến tâm linh lắng vào tiềm thức, các em có thể tìm lại sự kiện lịch sử trong kho
sách vở. Nhưng còn cái thần thái của lịch sửû, cái không khí lịch sử hào hùng, cái tâm
huyết… Cái mà học sinh cũng đang chờ đợi ở giáo viên dạy môn lịch sửû.
Người giáo viên dạy lịch sử phải biết sử dụng đến kiến thức các môn lân cận như địa
lí, giáo dục công dân song người giáo viên lịch sử có thể sử dụng cả văn học và các
nguyên lí về sản xuất thậm chí cả môn vật lí, hóa học…Những bộ môn lân cận sẽ làm
phong phú thêm tri thức học sinh về bộ môn lịch sử và chính bộ môn lịch sử sẽ giúp
chính các bộ môn khác. Người giáo viên lịch sử cần quan tâm tới sự tác động lẫn nhau
của môn học.
Vì vậy trong quá trình dạy học lịch sử phải biết kết hợp một số câu trích dẫn, một câu
văn, câu thơ… để miêu tả, để tường thuật một sự kiện, một cuộc đời hoạt động của nhân
vật, một cuộc cách mạng, một cuộc đấu tranh…điều đó làm cho giờ học lịch sử sống
động hơn, hấp dẫn học sinh hơn, học sinh sẽ yêu thích, hứng thú, say mê học tập môn
lịch sử và sẽ làm bớt đị sự khô khan của giờ học môn lịch sử.
2. Mục đích nghiên cứu:
- Góp phần nâng cao hứng thú trong giờ học, giúp các em nhớ lâu bài học
- Giúp học sinh có khả năng nhận thức kiến thức và tự hoàn thiện kiến thức
- Tìm ra phương pháp tối ưu trong việc dạy và học bộ môn lịch sử bậc Trung học cơ sở
3. Đối tượng nghiên cứu:
Toàn thể học sinh khối 7 trường THCS Tôn Đức Thắng
4. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu phương pháp lồng ghép thơ, ca trong giảng dạy, áp dụng vào từng bài
học cụ thể để nâng cao hiệu quả hơn trong công tác dạy và học bộ môn lịch sử ở khối 7
- Đưa ra những nguyên tắc chung trong việc lồng ghép thơ ca
5. Phương pháp nghiên cứu:
- Trong toàn bộ quá trình nghiên cứu đề tài Tôi sử dụng phương pháp thực nghiệm, đối
chiếu, so sánh kết quả
6. Nội dung đề tài:

tựu dựng nước của tổ tiên, xác định vị trí trong hiện tại, có thái độ đúng đắn đối với sự
phát triển hợp quy luật của tương lai trong Nghị quyết ban chấp hành Trung ương Đảng
lần thứ hai khóa VIII (tháng 2/ 1997)đã khẳng định vai trò của môn lịch sử, cùng cáùc
môn khoa học xã hội khác trong công tác giáo dục
- Lịch sử vốn tồn tại khách quan, là những vấn đề xảy ra trong quá khứ nên trong quá
trình giảng dạy để học sinh nắm bắt những hình ảnh lịch sử cụ thể, đòi hỏi bên cạnh
những lời nói sinh động giáo viên phải lực chọn các phương pháp dạy khác nhau để đạt
hiệu quả cao trong truyền thụ.
- Ngày nay Nhà nước quan tâm đến giáo dục, Luật giáo dục cũng đã xác định “phương
pháp giáo dục phải phát huy tính cực của học sinh , bồi dưỡng năng lực học tập có lòng
say mê học tập, có ý thức vươn lên "
- Dạy học liên môn là một trong những nguyên tắc quan trọng của việc dạy ở trường
phổ thông nói chung, môn lịch sử nói riêng. Đối với môn lịch sử chức năng mà cung cấp
những kiến thức cơ bản về quá trình phát triển của xã hội loài người, việc nắm vững
Sáng kiến kinh nghiệm Trường THCS Tôn Đức Thắng

Gíao viên: Lê Thị Thanh Châu
4

những sự kiện lịch sử liên quan chặt chẽ với hiểu biết tri thức về nhiều môn khoa học xã
hội và nhân văn và cả khoa học tự nhiên là yêu cầu quan trọng
- Việc dạy học liên môn đòi hỏi giáo viên lịch sử không chỉ có kiến thức vững vàng về
bộ môn mà còn phải nắm nội dung chương trình các môn học ở trường phổ thông như:
Địa lí, Giaó dục công dân, văn học, đặc biệt là một số câu văn, câu thơ, câu trích dẫn…có
liên quan đến sự kiện lịch sử. Người dạy phải đề ra những phương pháp, hình thức giảng
dạy phù hợp với đối tượng học sinh giúp các em nắm bắt nhanh và lưu giữ tốt kiến thức
lịch sử, biết nhận xét, đánh giá một sự kiện, một chân dung, một giai đoạn lịch sử… Tạo
nên hứng thú trong quá trình chủ động lĩnh hội kiến thức của học sinh. Vì vậy việc sử
dụng câu văn, thơ, câu trích dẫn để lồng ghép trong giảng dạy có vai trò quan trọng trong
quá trình giảng dạy lịch sử.


- Nhìn chung trình độ học sinh không đồng đều, phụ huynh chưa thật sự quan tâm đến
việc học tập của con em mình
- Việc tiếp cận kiến thức môn học còn hạn chế, phần lớn học sinh còn coi lịch sử là môn
phụ nên chưa nhiệt tình với môn học.
3. Nguyên nhân của thực trạng:
3.1/ Nguyên nhân khách quan:
- Công tác giảng dạy tại trường THCS Tôn Đức Thắng là vùng dân cư nông thôn, học
sinh chưa thật sự chăm học, trình độ học sinh không đồng đều.
- Qua thực tế giảng dạy và dự giờ thăm lớp học hỏi kinh nghiệm ở các đồng nghiệp của
Trường THCS Tôn Đức Thắng tôi thấy trong tiết học lịch sử hầu như giáo viên chỉ tường
thuật sự kiện lịch sử cho học sinh làm cho giờ học trở nên cứng nhắc và khô khan, làm
cho học sinh chán nản và thậm chí không yêu thích bộ môn lịch sử, dẫn đến kết quả của
bộ môn chưa cao.
- Trong quá trình thiết kế giáo án để giảng dạy các bài lịch sử, một số giaó viên ít chú ý
đến việc lồng ghép thơ ca . Khai thác kiến thức truyền thống như hôm nay: hỏi - trả lời,
nhận xét – so sánh, phân tích – đối chiếu…
- Mặc khác, khi giảng dạy giáo viên chưa nhận thức được tầm quan trọng của thơ ca, mà
đây là cách khai thác kiến thức giúp cho học sinh mau thuộc, nhớ bài học
3.2/ Nguyên nhân chủ quan:
- Phương tiện dạy học như máy chiếu đã qua sử dụng nhiều lần nên máy không được rõ
- Đồ dùng dạy học đã cũ nên không rõ; mặt khác trong trận lũ lụt vừa rồi cũng đã hư
hỏng rất nhiều nhưng nhà trường chưa đủ điều kiện để cấp lại để tiện cho việc giảng dạy
hiệu quả.
- Việc tiếp cận kiến thức môn học còn hạn chế, phần lớn học sinh còn coi lịch sử là môn
phụ nên chưa nhiệt tình với môn học.


việc yêu cầu đi kèm theo những nội dung bài học câu thơ, ca. Để đáp ứng những vấn đề
nêu trên trong bài viết này tôi chỉ đi sâu vào gốc độ, một khía cạnh của vấn đề là việc sử
dụng câu thơ, câu văn, đoạn trích dẫn… để giảm bớt sự khô khan trong dạy học lịch sử ở
Trường Trung học cơ sở trong chương trình Lịch sử lớp 7
- Các bước tiến hành:
+ Bước 1: Đầu năm học tổ chuyên môn sẽ phân công mỗi giáo viên giảng dạy theo từng
khối lớp phải sử dụng thơ, ca theo thứ tự từng bài trong chương của chương trình.
+ Bước 2: Cuối mỗi học kì giáo viên trong tổ cùng nhau trao đổi những thơ, ca đã sưu
tầm được, đôi khi giáo viên cũng cần phải chọn những mẫu chuyện hay, đúng trọng tâm
để làm ngân hàng tư liệu cho tổ.
Sáng kiến kinh nghiệm Trường THCS Tôn Đức Thắng

Gíao viên: Lê Thị Thanh Châu
7

+ Ngoài ra giáo viên có thể khuyến khích, động viên học sinh cùng sưu tầm và có hình
thức khen thưởng phù hợp.
Như vậy qua thời gian mỗi giáo viên sẽ có những nguồn tư liệu quí về những câu thơ, ca
phù hợp theo khối lớp mình dạy và góp phần làm cho bài giảng phong phú về kiến thức,
tiết học sinh động và học sinh sẽ hứng thú trong học tập
- Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin thì bên cạnh những câu
thơ, ca sinh động chúng ta có thể tìm nhũng hình ảnh tương ứng với nội dung như chuyện
kể từ nhiều nguồn khác nhau từ mạng internet. Và song song với nó chúng ta sẽ lựa chọn
những hình thức sử dụng hình ảnh phù hợp với điều kiện thực tế hiện có. Chúng ta có thể
sử dụng hình ảnh đi kèm trực tiếp hoặc có thể dùng dưới hình thức là những tấm hình
photo để tạo sự hứng thú cho tiết học, tạo sự yêu thích bộ môn cho học sinh.
3. Tổ chức triển khai phương pháp:
- Sau đây tôi xin giới thiệu một vài những câu thơ và hình ảnh mà tôi đã sưu tầm
được và áp dụng trong quá trình giảng dạy chương trình Lịch sử lớp 7. Vì chương trình
khá dài nên tôi xin nêu ra đây những câu thơ và hình ảnh mang tính chất tiêu biểu áp

kỉ XIII)
Vào thế kỉ XIII, quân Mông Cổ rất hùng mạnh và hiếu chiến. Sức mạnh của một thế
lực xâm lược đang sung sức qua đoạn thơ của nhà thơ Acmenia: “Không còn một dòng
sông, một con suối nào không tràn đầy nước mắt chúng ta, không còn một ngọn núi, một
cánh đồng nào không bị quân Tác – ta giày xéo”
Trước sức mạnh xâm lược của quân Mông Cổ, quân dân nhà Trần đã chuẩn bị kháng
chiến như thế nào, chúng ta cùng tìm hiểu phần 2…
3.2. Sử dụng câu đố về nhân vật lịch sử:
Sử dụng câu đố về nhân vật sẽ giúp các em nhớ lâu về nhân vật và học thuộc một cách
dễ dàng, làm cho các em hứng thú hơn trong học tập
* Khi dạy bài 10 “ Nhà Lý đẩy mạnh công cuộc xây dựng đất nước”
Một tên vua càn rỡ, dâm đãng, tàn bạo khiến cho trong triều, ngoài nội ai ai cũng
căm giận :
“ Ai là kẻ hôn quân bạo ngược,
Cố giết anh để được làm vua.
Ngày đêm yến tiệc say sưa
Đứng ngồi chẳng được, nằm bừa trên ngai? ”
(Trích 1001 câu đố vui của Bảo Vân – Nguyên Cát)
(Học sinh sẽ trả lời ngay đó là vua Lê Long Đỉnh)
Sau khi vua Lê Long Đỉnh qua đời, các tăng sư và đại thần tôn người có học, có đức và
có uy tín lên ngôi vua:

“Vua nào xuống chiếu dời đô
Về Thăng Long vững cơ đồ nước Nam”
(Trích 1001 câu đố vui của Bảo Vân – Nguyên Cát)
(Học sinh sẽ biết ngay đó là Lý Công Uẩn)
* Khi giảng dạy bài 11 “Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống (1075 –
1077)
Sáng kiến kinh nghiệm Trường THCS Tôn Đức Thắng


Kiệt )
Cuộc chiến ở Như Nguyệt là trận đánh quyết định số phận của quân Tống xâm lược.
Đây cũng là mộ trong những trận đánh tuyệt vời trong lịch sử chống ngoại xâm của dân
tộc. Người chỉ huy trận đánh thực sự là một tướng tài. Tên tuổi của ông mãi là niềm tự
hào của dân tộc:
“ Tuổi già nhưng sức chẳng già,
Vung gươm Bắc tiến: quân nhà Tống tan.
Xuôi Nam: Chiêm quốc kinh hoàng,
Thơ thần một áng: lời vàng còn ghi? ”
(Trích 1001 câu đố vui của Bảo Vân – Nguyên Cát)
(Học sinh cũng trả lời được ngay đó là nhà quân sự tài ba Lý Thường Kiệt)
* Khi dạy bài 12 “Đời sống kinh tế, văn hóa”
Sáng kiến kinh nghiệm Trường THCS Tôn Đức Thắng

Gíao viên: Lê Thị Thanh Châu
10

Khi nói đến văn hóa, giáo dục thời Lý; nhà nước quan tâm đến giáo dục, khoa thi để
tuyển chọn nhân tài.
“ Từ bảy tuổi đã lên ngôi
Việc dân việc nước trọn đời lo toan
Mở trường thi chọn văn quan
Lập Quốc tử giám luyện hàng danh nhân ”
(Trích 1001 câu đố vui của Bảo Vân – Nguyên Cát)
(Học sinh sẽ biết ngay, đó là Vua Lý Nhân Tông cho xây dựng Văn Miếu, mở nhiều khoa
thi để tuyển chọn nhân tài )
* Khi dạy bài 14: “ Ba lần kháng chiến chống quân xâm lược Mông – Nguyên (thế
kỉ XIII)
Tháng 1- 1258, 3 vạn quân Mông Cổ, do Ngột Lương Hợp Thai chỉ huy, tiến vào
xâm lược Đại Việt. Trước thế giặc mạnh, tàn bạo, người đứng ra thề trước mặt vua Trần:


phiá Nam, Toa Đô từ Champa đánh ra Nghệ An, Thanh Hóa tạo thế “gọng kìm” hòng
tiêu diệt quân ta. Quân ta chiến đấu anh dũng, nhiều tấm gương hi sinh như:
“ Tước vương đất Bắc nào thèm,
Mà quân xâm lược hầu đem dụ người.
Dù quỷ Nam vẫn vui tươi,
Đền ơn Tổ quốc thỏa đời làm trai? ”
(Trích 1001 câu đố vui của Bảo Vân – Nguyên Cát)
( Gíao viên cho học sinh biết, tấm gương hi sinh ấy đó chính là Trần Bình Trọng. Mặc dù
bị giặc bắt dụ hàng ông đã nó: “Ta thà làm ma nước Nam còn hơn là làm Vương đất Bắc)
Nhận thấy thời cơ tiêu diệt quân Nguyên, giải phóng đất nước đã tới:
“ Đố ai nổi sóng sông Rừng?
Đã vui Hàm Tử, lại mừng Chương Dương.
Vân Đồn cướp sạch binh lương,
Nội Bàng mai phục, chặn đường giặc lui? ”
(Trích 1001 câu đố vui của Bảo Vân – Nguyên Cát)
( Học sinh sẽ biết ngay đó là Hưng Đạo Vương và danh tướng Trần Khánh Dư)
Cuộc kháng chiến chống xâm lược Mông - Nguyên giành thắng lợi, quân giặc hốt hoảng
tháo chạy về nước:
“Tướng Tàu chui ống chạy dài Bắc phương”
(Sưu tầm)
( Học sinh trả lời ngay đó chính là Thoát Hoan. Thoát Hoan chạy thoát về nước chui vào
đồng bắt quân lính khiêng chạy )
* Khi dạy bài 15 “Sự phát triển kinh tế và văn hóa thời Trần”
Người thầy giáo tiêu biểu thời Trần . Từ nhỏ ông đã bộc lộ những đức tính cao quý
như ham học, cương trực, liêm khiết. Thời Trần Dụ Tông, chính sự nhà Trần đổ nát, quan
lại nhũng nhiễu dân chúng, tham lam, bè phái. Ồng dâng sớ lên vua xin chém đầu 7 tên
nịnh thần gây rối loạn triều chính. Vua không nghe , ông từ quan về Chí Linh dạy học,
viết sách, làm thơ :
“ Muốn cho nước mạnh dân giàu,

tiền chỉ huy sứ; là người có đức, có tài được triều Lê trọng dụng”:
“ Vua nào trong buổi hàn vi ở chùa? ”
( Trích 1001 câu đố vui của Bảo Vân – Nguyên Cát )
* Khi dạy bài 18 “ Cuộc kháng chiến của nhà Hồ và phong trào khởi nghĩa chống
quân Minh đầu thế kỉ XV”
Sau thất bại của nhà Hồ, nhà Minh thiết lập chính quyền thống trị trên khắp đất nước ta;
thi hành chính sách đồng hóa và bóc lột nhân dân tàn bạo: “Trương Phụ đia đến đâu là
giết hại, hoặc thây chất thành núi, hoặc moi ruột quấn vào cây, rán thịt người lấy mỡ,
hoặc nướng đốt làm trò chơi…”
“ Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa hết mùi ”
( Trích Bình Ngô đại cáo – Nguyễn Trãi)
3.4. Sử dụng thơ ca để củng cố:
* Khi dạy bài 12 “Đời sống kinh tế, văn hóa”
Nông nghiệp ở thời Lý phát triển. Em hãy đọc câu thơ trong dân gian truyền tụng nói
về thời Lý mùa màng bội thu. Học sinh sẽ đọc ngay:
“ Đời vua Thái Tổ, Thái Tông
Thóc lúa đầy đồng trâu chẳng muốn ăn ”
* Khi dạy bài 14: “ Ba lần kháng chiến chống quân xâm lược Mông – Nguyên (thế kỉ
XIII)
Năm 1285, vua Trần mở Hội nghị mời các bậc phụ lão có uy tín trong nước về Thăng
Long họp để bàn kế đánh giặc:
“ Khắp nơi bô lão về đây,
Lòng già chí trẻ giơ tay thề nguyền.
Muôn lời quyết chiến vang lên,
Hội gì đoàn kết, giặc Nguyên tan tành? ”
Sáng kiến kinh nghiệm Trường THCS Tôn Đức Thắng

Gíao viên: Lê Thị Thanh Châu
13

Chương Dương, Tây Kết qua cuộc kháng chiến này đã được ghi vào lịch sử.
Ba lần kháng chiến thắng lợi ta đã tiêu diệt hàng chục vạn quân xâm lược, làm cho
kẻ thù phải khiếp sợ, không dám xâm lược nước ta. Với tâm trạng bi đát của người lính
già trong quân đội Nguyên đã từng nếm mùi thất bại:
“Lính già từng trải mùi chinh chiến
Nghe nói Nam chinh ủ mặt mày”
(Thơ Nguyễn Trung Ngạn )
Cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên giành thắng lợi, Thượng hoàng Trần
Thánh Tông và Trần Nhân Tông cùng đại quân trở về kinh đô Thăng Long để tổ chức ăn
mừng đại thắng, Trần Quang Khải đã cảm khái mà viết rằng:
“Đoạt sáo Chương Dương độ
Sáng kiến kinh nghiệm Trường THCS Tôn Đức Thắng

Gíao viên: Lê Thị Thanh Châu
14

Cầm Hồ Hàm Tử Quan
Thái Bình tu trí lực
Vạn cổ thử giang sang”.
Dịch thơ: “Chương Dương cướp giáo giặc,
Hàm Tử bắt quân thù.
Thái bình nên gắng sức,
Non nước ấy ngàn thu”
(Trần Quang Khải – Tụng giá hoàn kinh sư – Phò giá về kinh – Bản dịch
thơ của Trần Trọng Kim)
Dịch nghĩa: “Cướp giáo giặc ở bến đò Chương Dương
Bắt giặc Hồ ở cửa Hàm Tử
Thái Bình rồi nên dốc hết sức
Muôn đời vẫn có non sông này”
( Học sinh sẽ biết ngay, giặc Hồ trong bài thơ trên là giặc Mông – Nguyên). Sau đó giáo

Từ nửa sau thế kỉ XIV, nhà nước không còn quan tâm đến sản xuất nông nghiệp,
không chăm lo tu sửa, bảo vệ đê điều, các công trình thủy lợi…làm cho đời sống nhân
dân hết sức cơ cực. Để mô tả tình cảnh dân chúng lúc bấy giờ Gíao viên có thể đọc những
câu thơ sau:
“Ruộng lúa ngàn dặm đỏ như cháy
Đồng quê than vãn trông vào đâu?
…Lưới chài quan lại còn vơ vét
Máu thịt nhân dân cạn nữa rồi…”
(Thơ Nguyễn Phi Khanh)
* Bài 19: “Khởi nghĩa Lam Sơn 1418 – 1427”
Vì thương trăm họ bị quân Minh đày đọa, Lê Lợi đã khôn khéo tập hợp anh hùng hào
kiệt, ẩn nhẫn chờ thời cơ để dựng cờ cứu nước cứu dân.
“ Xạ hương dẫu ở trong rừng,
Khi thơm bưng bít mấy tầng cũng thơm.”
Trước khi để lại danh thơm muôn thuở cho nước nhà, Lê Lợi là xạ hương đặc biệt của
núi rừng Lam Sơn đó chăng? Nếu không, trăm họ ở khắp bốn phương làm sao biết được
tìm đến mà tụ nghĩa?
Những năm đầu hoạt động của nghĩa quân Lam Sơn, lực lượng còn non yếu, nghĩa quân
gặp rất nhiều khó khăn, nguy nan. Nhưng với chủ trương đúng đắn của bộ chỉ huy, buộc
tướng giặc phải đầu hàng, hạ thành Đông Quan:
“ Đố ai gian khổ chẳng lùi,
Chí Linh mấy lượt nếm mùi đắng cay.
Mười năm bình định ra tay,
Thành Đông Quan mất vía bầy Vương Thông? ”
( Trích 1001 câu đố vui của Bảo Vân – Nguyên Cát )
Trong gian khổ có rất nhiều tấm gương chiến đấu hi sinh dũng cảm:
“Lên yên khoác chiếc hoàng bào,
Phất cờ lệnh, tiến quân vào vòng vây.
Bỏ mình ở lại chốn đây.
Cứu vua, cứu nước tràn đầy hi sinh.”

Đó là một dân tộc đã có hàng ngàn năm lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, đã có
năm thế kỉ sống độc lập hoàn toàn với tư cách là một quốc gia tiên tiến, không một thế
lực xâm lược nào có thể khuất phục nổi:
“ Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc – Nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần… bao đời dựng nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương
Song hào kiệt đời nào cũng có”
( Trích Bình ngô đại cáo của Nguyễn Trãi)
Nắm được ý đồ và hướng tiến quân của Vương Thông, nghĩa quân ta đã đặt phục binh
ở Tốt Động và Chúc Động. Khi quân Minh lọt vào trận địa, nghĩa quân nhất tề xông
thẳng vào quân giặc, đánh tan tác đội hình của chúng, dồn quân giặc xuống cánh đồng lầy
lội để tiêu diệt. Kết quả trên 5 vạn quân giặc tử thương, bắt sống trên 1 vạn; Vương
Thông bị tháo chạy về Đông Quan; Thượng thư bộ binh Trần Hiệp cùng các tướng giặc
Lý Lượng, Lý Đằng bị giết tại trận. Câu thơ nói về sự thất bại thảm hại của quân Minh
trong trận Tốt Động – Chúc Động, học sinh sẽ biết ngay là hai câu thơ:
“ Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh trôi vạn dặm,
Tốt Động thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm.”
(Trích Bình Ngô đại cáo – Nguyễn Trãi)
Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi vẻ vang là do nhân dân ta có lòng yêu nước nồng
nàn, ý chí bất khuất quyết tâm giành lại độc lập tự do cho đất nước, toàn dân đoàn kết
chiến đấu. Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn gắn liền với đường lối chiến lược,
chiến thuật đúng đắn, sáng tạo của bộ tham mưu
Sáng kiến kinh nghiệm Trường THCS Tôn Đức Thắng

Gíao viên: Lê Thị Thanh Châu
17


“Ai vào Bình Định mà nghe,
Nghe thơ chàng Lía, hát vè Quảng Nam.
Chiều chiều én liệng Truông Mây
Cảm thương chú Lía bị vây trong thành”
Sau khi đánh tan quân xâm lược Xiêm và tiêu diệt học Trịnh ở Đàng Ngoài, trên
đường trở về Nam, Nguyễn Huệ cho Nguyễn Hữu Chỉnh ở lại Nghệ An. Sau khi Tây Sơn
rút, tình hình Bắc Hà lại rối loạn. Lê Chiêu Thống không dẹp nổi loạn của con cháu học
Trịnh, Nguyễn Hữu Chỉnh giúp vua Lê đánh tan các tàn dư họ Trịnh.
Gíao viên đọc câu thơ chứng tỏ sự lộng quyền của Nguyễn Hữu Chỉnh, muốn xây
dựng lực lượng riêng và ra mặt chống Tây Sơn:
Sáng kiến kinh nghiệm Trường THCS Tôn Đức Thắng

Gíao viên: Lê Thị Thanh Châu
18

“ Đường trời mở rộng thênh thênh,
Ta đây cũng một triều đình kém ai.”
(Trích thơ Nguyễn Hữu Chỉnh)
* Khi dạy “Phong trào Tây Sơn” phần IV, mục 2 “Tây Sơn đại phá quân Thanh
năm 1789”
Khi giáo viên trình bày trước thế mạnh của giặc, quân Tây Sơn do Ngô Văn Sở chỉ huy
theo kế hoạch của Ngô Thì Nhậm rút khỏi Thăng Long về xây dựng phòng tuyến Tam
Điệp – Biện Sơn. Để học sinh hiểu được vị trí Tam Điệp giáo viên dẫn hai câu thơ của
Ngô Thì Sĩ:
“Đoạn trụ quần sơn nhãn giới khoan
Ngư đồng thiên khổng cửa trùng quan”
(Đứng nhìn rạng núi mênh mông
Cửa trời miệng đó trấn hùng một phương)
Trước khi xuất phát Quang Trung mở tiệc khao quân và tuyên bố: “Nay hãy làm lễ ăn
Tết Nguyên Đán trước, đợi đến sang xuân, ngày mùng 7 vào Thăng Long sẽ mở tiệc lớn.

Ba hồn tướng tá Mãn Thanh
Nghìn năm vĩnh hiển, sử xanh còn truyền”
( Trích 1001 câu đố vui của Bảo Vân – Nguyên Cát )
Sau khi đuổi quân Mãn Thanh ra khỏi đất nước. Ngày 16 – 9 – 1972, Quang Trung đột
ngột từ trần. Công chúa Lê Ngọc Hân đã ghi lại sự nghiệp của Quang Trung:
“Mà nay áo vải cờ đào,
Gíup dân dựng nước, xiết bao công trình”
* Khi dạy bài 27 “Chế độ phong kiến nhà Nguyễn’
Gíao viên có thể khái quát tình cảnh xơ xác của đời sống xã hội trong thời nhà Nguyễn
như:
“Lều nho nhỏ kéo tấm tranh lướp tướp
Ngày thê lương nặng giọt mưa sa
Đèn con con gon chiếc chiếu lôi thôi
Đêm tịch mịch soi chung vừng trăng tỏ”
Nông Văn Vân là tù trưởng dân tộc Tày; không chịu nổi sự chèn ép của triều đình nhà
Nguyễn, Nông Văn Vân và một số tù trưởng đã tập hợp dân chúng nổi dậy. Nông Văn
Vân đã truyền hịch tố cáo vua Nguyễn (Minh Mạng)
“Mười năm đức chính có chi !
Kho hình luật vẽ nên hùm có cánh
Ba mươi tỉnh nhân dân đều oán
Tiếng oan hào kêu dậy đất không lung !”
* Khi dạy bài 28 “Sự phát triển của văn hóa dân tộc cuối thế kỉ XVIII – nửa đầu
thế kỉ XIX ”.
Đến cuối thế kỉ XVIII, nền văn học dân gian ở nước ta càng phát triển rực rỡ: tục ngữ,
ca dao. Giáo viên cho học sinh đọc một số câu ca dao, tục ngữ:
“Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày
Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần”
Văn học chữ Nôm phát triển đến đỉnh cao, tiêu biểu là Truyện Kiều của Nguyễn Du.

quan họ mà còn biết đến với làng tranh Đông Hồ. Thi sĩ Hoàng Cầm đã từng viết trong
“Bên kia sông Đuống”
“Tranh Đông Hồ gà lơn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”
Giấy in tranh Đông Hồ nổi tiếng đã đi vào ca dao:
“Hỡi cô thắt lưng bao xanh
Có về làng mái với anh thì về
Làng mái có lịch có lề
Có sông tắm mát, có nghề làm tranh”
Khi giới thiệu một số dòng tranh Đông Hồ: Hứng dừa
“Khen ai khéo tạc nên dừa
Đấy trèo đây hứng cho vừa một đôi”
Tranh dân gian: “Chăn trâu thổi sáo”
“ Ai bảo chăn trâu là khổ
Chăn trâu sướng lắm chứ”
Gíao viên cho học sinh hiểu được qua bức tranh dân gian. Tranh Đông Hồ nổi tiếng,
đậm đà bản sắc dân tộc, đã đi vào cuộc sống người dân Việt Nam bằng những bức tranh
Về lĩnh vực kiến trúc: Độc đáo, tinh xảo như chùa Tây Phương
Nói đến chùa Tây Phương Gíao viên nói đến 18 pho tượng La Hán trong chùa Tây
Phương; 18 pho tượng là 18 cá thể, mỗi người một dáng vẻ, một tư thế, ai nấy có cuộc
sống riêng biệt. Các nghệ nhân xưa đã thả hồn vào bức tượng cho ta thấy những người đã
đắc đạo mà lòng vẫn nặng nỗi đau trần thế. Khi vãn cảnh chùa Tây Phương năm 1960,
Cù Huy Cận đã sáng tác bài “Các vị La Hán chùa Tây Phương”, trong đó những đoạn mà
đọc lên ta cảm thấy được hình ảnh những vị La Hán, tuy đắc đạo mà lòng vẫn tranh ngâm
suy nghĩ về những khổ đau quằn quại của chúng sinh
Sáng kiến kinh nghiệm Trường THCS Tôn Đức Thắng

Gíao viên: Lê Thị Thanh Châu
21



TL SL

TL SL

TL

SL TL
Đầu
năm
269

22 8.3

76 28.4

88 32.7

56 20.9

27 9.7

183

69.1

Cuối
năm
269


vào vấn đề những câu thơ, ca thì phần nội dung bài học cũng như là thời gian tiết học sẽ
khó được đảm bảo và việc truyền tải kiến thức giữa giáo viên với học sinh sẽ khó hoàn
thành. PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1. Kết luận:
Trong dạy học lịch ở trường trung học cơ sở ,tôi thấy giáo viên cần chú trọng việc sử
dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử, bởi vì các tác phẩm văn học sẽ góp phần
quan trọng cho việc dạy học lịch sử , sinh động, nâng cao hứng thú học tập cho học sinh
Thơ, văn, đoạn trích là rất phong phú, song người giáo viên phải biết chọn lọc những
câu tiêu biểu, ăn khớp, phản ánh lịch sử có trong bài học, thì sẽ gây kích thích, hứng thú
phát triển tư duy lịch sử cho học sinh, nhất là phải tìm những đoạn văn, đoạn thơ, câu
trích dẫn…hòa nhập với sự kiện lịch sử, đưa sự kiện lịch sử ấy thấm nhuần vào trí nhớ và
tâm hồn của các em.
Dùng thơ, văn, đoạn trích…dù một chút thôi vào những lúc cần sẽ có tác dụng lớn lao
trong dạy học lịch sử. Chính một chút ấy đã đánh thức khơi lên biết bao hoài cảm về ước
mơ, góp phần cho việc hình thành nhân cách học sinh
Sáng kiến kinh nghiệm Trường THCS Tôn Đức Thắng

Gíao viên: Lê Thị Thanh Châu
23


thường xuyên)
2. Sách “1ooo câu đố vui” của tác giả Bảo Vân – Nguyên Cát
(Nhà xuất bản trẻ)
2. Sách “Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn
lịch sử Trung học cơ sở” (Nhà xuất giáo dục Việt Nam)
Sáng kiến kinh nghiệm Trường THCS Tôn Đức Thắng

Gíao viên: Lê Thị Thanh Châu
24

4. Sách giáo khoa Lịch sử 7 (Nhà xuất bản giáo dục)
5. Sách giáo viên Lịch sử 7 (Nhà xuất bản giáo dục) Chủ tịch hội đồng khoa học ngành
Trưởng phòng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status