BÀI TẬP NHÓM MÔN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG: CÁC CHỈ TIÊU PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM - Pdf 14

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, nền kinh tế hội nhập đang trên đà phát triển mạnh mẽ,
đô thị ngày càng xuất hiện nhiều hơn trong xã hội văn minh, nhưng sự hiểu biết của con
người về đô thị và đô thị hóa vẫn còn ít ỏi.
Hiện tượng đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ ở Việt Nam. Nhiều đô thị không
ngừng phát triển và mở rộng. Thành phố Hà Nội đang trên đà trở thành đô thị siêu hạng
(super city)
1
, còn thành phố Hồ Chí Minh đã vượt quá ngưỡng của đô thị siêu hạng và
đang có khuynh hướng trở thành thành phố cực lớn (mega city)
2
. Bên cạnh hai đô thị lớn
này là các đô thị khác cũng đang có những bước tích cực đẩy nhanh quá trình đô thị hóa.
Mặc dù phát triển khá mạnh song các đô thị Việt Nam hiện vẫn chưa thực sự đáp
ứng được nhu cầu xã hội hóa nhà ở cho mọi đối tượng. Hệ thống các đô thị - trung tâm
chưa hình thành đều khắp các vùng đa phần dân số đô thị sống ở Hà Nội và TP.HCM. Các
đô thị lớn có sức hút mạnh đang tạo ra sự tập trung dân cư, công nghiệp quá tải nhưng
chưa có biện pháp hữu hiệu điều hòa quá trình tăng trưởng đó, trong khi các đô thị nhỏ và
vừa thì kém sức hấp dẫn, không có khả năng đảm nhiệm nổi vị trí và vai trò trung tâm của
mình trong mạng lưới đô thị quốc gia. Bản thân mỗi đô thị trong quá trình phát triển đã và
1
Super city: thành phố có trên 4 triệu dân.
2 Mega city: thành phố có trên 8 triệu dân.
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG GV: TS. NGUYỄN VIẾT THÀNH
đang bộc lộ những mặt trái của nó, những tiêu cực về kinh tế, xã hội và môi trường. Vì
vậy trong bối cảnh đó, vấn đề phát triển đô thị bền vững vẫn còn nằm ở phía trước, đặt ra
những vấn đề cần giải quyết với thế giới quan khoa học. Để có thể phát triển đô thị bền
vững đặc biệt trên các lĩnh vực bền vững về môi trường, kinh tế và xã hội thì mỗi quốc
gia cần phải có những chiến lược và kế hoạch cụ thể. Đây cũng là những vấn đề đang
được đặt ra đối với hệ thống đô thị ở Việt Nam khi mà Nhà nước ta đang đẩy mạnh quá

gia nào, lĩnh vực nào. Thế giới chỉ PTBV khi và chỉ khi các quốc gia PTBV, quốc gia
PTBV khi các lĩnh vực, các ngành, các vùng lãnh thổ của quốc gia PTBV.
Thế giới phát triển bền vững
Quốc gia phát triển bền vững
Địa phương phát triển bền vững
Hình 2: Phát triển bền vững theo lãnh thổ
PTBV giáo dục
PTBV
y tế
PTBV xây dựng
PTBV
GTVT
PTBV nông nghiệp
PTBV Công nghiệp
NHÓM 7 Page 4
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG GV: TS. NGUYỄN VIẾT THÀNH
PTBV giáo dục
PTBV
y tế
PTBV xây dựng
PTBV
GTVT
PTBV nông nghiệp
PTBV Công nghiệp
PTBV giáo dục
PTBV
y tế
PTBV xây dựng
PTBV
GTVT

y tế
PTBV xây dựng
PTBV
GTVT
PTBV nông nghiệp
PTBV Công nghiệp
PTBV giáo dục
PTBV
y tế
PTBV xây dựng
NHÓM 7 Page 6
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG GV: TS. NGUYỄN VIẾT THÀNH
PTBV
GTVT
PTBV nông nghiệp
PTBV Công nghiệp
PTBV giáo dục
PTBV
y tế
PTBV xây dựng
PTBV
GTVT
PTBV nông nghiệp
PTBV Công nghiệp
PTBV giáo dục
PTBV
y tế
PTBV xây dựng
PTBV
GTVT

Có thể nói, đô thị là một hình thức quần cư đặc biệt của xã hội loài người. Hiểu
một cách đơn giản, đô thị là một tổ chức không gian cư trú, sinh sống tập trung với mật
độ dân số cao của cộng đồng người với các hoạt động chủ yếu trong những lĩnh vực phi
nông nghiệp.
Ngày nay, đô thị không chỉ đơn thuần là nơi tập trung dân cư đông đúc với các
hoạt động mang tính chất phi nông nghiệp; các trung tâm đơn chức năng về hành chính
hoặc thương mại, mà đô thị đã trở thành một không gian cư trú của dân cư, là kết quả
tất yếu của một quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đóng vai trò là trung tâm tổng hợp
hoặc về một số mặt: hành chính, kinh tế - xã hội của một vùng hoặc quốc gia, biểu
NHÓM 7 Page 9
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG GV: TS. NGUYỄN VIẾT THÀNH
hiện của nó là sự tập trung dân cư với mật độ cao với lối sống đô thị và các hoạt động
phi nông nghiệp chiếm ưu thế, có cơ sở hạ tầng phát triển ngày càng hiện đại,
1.2.2 Vai trò của đô thị
Hệ thống đô thị đóng vai trò như một hệ thống “khung xương” phát triển của mỗi
lãnh thổ, mỗi quốc gia. Ngay từ khi mới xuất hiện, các đô thị đã trở thành các hạt nhân
(trung tâm) thu hút tài nguyên tự nhiên, nhân văn của lãnh thổ; các trung tâm phát triển
tổng hợp (hành chính, kinh tế, chính trị…) của lãnh thổ. Chính sự ra đời và phát triển của
hệ thống đô thị đã đem lại cho con người một cuộc sống đầy đủ hơn, sung túc hơn, tiện
nghi hơn…
Sự tiến bộ của cách mạng khoa học - kĩ thuật nói riêng và tiến bộ xã hội nói
chung đã giúp cho đô thị phát triển, hạn chế nhiều mặt tiêu cực của đô thị, làm cho đô thị
và nông thôn gần nhau hơn thông qua sự phân công lao động xã hội.
Quá trình đô thị hóa tạo ra nhiều thuận lợi và bất lợi cần được phân tích. Tuy
nhiên, đô thị hóa là con đường văn minh của loài người, bởi các đô thị là nơi chủ yếu tạo
ra của cải vật chất cho loài người. Thu lợi nhiều từ quá trình đô thị hóa, nhưng con người
cũng phải trả giá không ít vì những bất lợi của nó. Chỉ có con đường duy nhất để tránh
được thách thức này là tạo ra đô thị bền vững.
1.2.3 Quan niệm về phát triển đô thị bền vững
Rất khó để đưa ra được một định nghĩa hay hệ khái niệm được coi là thống nhất về

thành phố do Liên hợp quốc tổ chức tại Johannesburg – Nam Phi (1992), Trung tâm
môi trường khu vực Trung và Đông Âu (The Regional Environmental Center for Central
and Eastern Europe),
Tổng quan về phát triển bền vững đô thị từ nhiều cơ sở lý luận khác nhau, nhưng
chúng đều có những điểm cốt lõi sau đây:
Quan niệm chung về phát triển bền vững đô thị.
NHÓM 7 Page 11
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG GV: TS. NGUYỄN VIẾT THÀNH
• Phát triển bền vững thống nhất cả ba mặt kinh tế, xã hội và môi trường trong một
khuôn khổ: thể hiện trong quan niệm về đô thị bền vững của UNDP, UN -
HABITAT, Achentina.
• Nâng cao chất lượng cuộc sống: thể hiện trong quan điểm của Ấn Độ, UN
-HABITAT.
• Không ảnh hưởng tới thế hệ tương lai: thể hiện sự đồng thuận cao trong các quan
điểm của UN - HABITAT, Hội nghị đô thị 21 (Beclin 2000), Achentina, Trung tâm
môi trường khu vực về Trung và Đông Âu.
• Quan hệ mật thiết với vùng: thể hiện trong quan điểm của UNDP, riêng Hội thảo
về thành phố bền vững (1992) ở Nam Phi nhấn mạnh yếu tố vùng là vùng nông
thôn.
• Sự thống nhất trong kế hoạch và hành động, tính công bằng: thể hiện trong quan
niệm của Trung tâm môi trường khu vực về Đông Âu và trung tâm Châu Âu.
• Qui hoạch và quản lý thống nhất, đồng thuận ở mọi cấp: thể hiện trong quan niệm
của UN - HABITAT
• Rủi ro về môi trường có thể chấp nhận được trong mục đích phát triển: thể hiện
trong quan niệm của UNDP.
Từ đó, có thể kết luận rằng: một đô thị bền vững trong quá trình phát triển, quan
niệm đầy đủ là: khi nó đạt được sự thống nhất trong một khuôn khổ bền vững cả ba mặt
kinh tế, xã hội và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng sống của thế hệ hiện tại mà
không làm ảnh hưởng tới các nhu cầu phát triển của thế hệ tương lai. Khuôn khổ đó
phải thể hiện thống nhất giữa kế hoạch, qui hoạch, quản lý phát triển và hành động thực

• Đảm bảo phát triển đa văn hóa và đời sống đạo đức, tinh thần của các nhóm
người khác biệt nhau
• Đảm bảo an ninh, hòa bình, trật tự và ổn định xã hội
• Đảm bảo sự tham gia dân chủ của người dân trong tiến trình phát triển đô thị
• Công bằng xã hội trong đời sống kinh tế
• Đảm bảo hài hòa giữa các thế hệPhát triển không gian hợp lý
• Phát triển cân đối đô thị - nông thôn
Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam đã được Chính phủ ban
hành là một chiến lược khung bao gồm những định hướng lớn làm cơ sở pháp lý để các
NHÓM 7 Page 14
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG GV: TS. NGUYỄN VIẾT THÀNH
Bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện; đồng thời thể hiện sự cam kết của Việt Nam
với quốc tế vì mục tiêu chung này.
1.6. Nội dung chính phát triển bền vững đô thị Việt Nam
1.6.1 Phát triển kinh tế
Đô thị cần được tính toán phát triển phù hợp với tiềm năng sẵn có và triển vọng
phát triển kinh tế của địa phương. Cân đối vốn đầu tư theo khả năng tăng trưởng KT-XH
theo từng giai đoạn/ theo từng nhóm ngành/ theo kế hoạch PTĐT ngắn và dài hạn đã được
QHXDĐT được duyệt quy định, ngoài ra kinh tế đô thị còn cần được tính toán sử dụng
tiết kiệm hiệu quả các nguồn tài nguyên: đất đai, nguồn nước, năng lượng và lao động đô
thị
1.6.2. Phát triển dân số lành mạnh
 Về yếu tố xã hội, đô thị cần được đánh giá đầy đủ về dân số lao động, tỷ lệ đô thị hoá,
dòng dịch cư và xu hướng di dân, sức chứa tối đa, khả năng chịu tác động của thiên tai,
tác động của địa chấn đến phát triển dân số đô thị.
 Tăng cường quản lý dân số từ ngoài thành phố vào, điều chỉnh phân bố dân cư thúc đẩy
phát triển dân số hài hoà với PTKT- XH và bảo vệ giữ gìn tài nguyên môi trường.
1.6.3. Quy hoạch xây dưng đô thị tạo sự hấp dẫn cho đô thị
 Quy hoạch xây dựng đô thị phải đánh giá được đầy đủ điệu kiện địa lý và nguồn tài
nguyên để đánh giá đúng vị trí, chức năng và vai trò của từng đô thị. Cân đối đất đai, cơ

nguyên liệu sửdụng đểsản xuất vật liệu xây dựng).
 Tạo dựng môi trường cảnh quan, môi trường văn hoá xã hội phù hợp với sinh thái địa
phương và thểhiện rõ tất cảcác giá trịvật chất và tinh thần của đô thị
1.6.6. Xã hội hoá công tác quy hoạch và PTĐT và ĐT hoá BV
Xã hội hoá công tác PTĐT trên cơ sở quan tâm nâng cao sự hiểu biết của chính
quyền địa phương và cộng đồng về công tác PTĐT và ĐT hoá BV, đồng thời khuyến
khích họ tham gia vào công tác lập, thực hiện và quản lý quy hoạch và phát triển đô thị.
NHÓM 7 Page 16
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG GV: TS. NGUYỄN VIẾT THÀNH
1.6.7. Quản lý hành chính đô thị
Quản lý thực hiện PTĐT phải được phối hợp hai chiều từ cấp quản lý TW/ quản lý
địa phương đến người dân và ngược lại. Đề xuất quy chế, gắn kết quy hoạch với thể chế
quản lý hành chính công tại địa phương.
1.6.8. Tài chính đô thị
Huy động và cân đối hợp lý các nguồn tài chính đô thị trên cơ sở tăng cường sự
tham gia của cộng đồng trong công tác QHXD ĐT. Ngoài ra quản lý PTĐT còn cần quan
tâm điều chỉnh công tác quản lý hành chính và phân phối vốn đầu tư cho xây dựng cơ bản
theo định kỳ, hàng năm, 5 năm/lần và dài hạn
1.7 Lựa chọn chỉ tiêu đánh giá
Căn cứ vào định hướng và nội dung của phát triển đô thị bền vững cũng như Bộ
chỉ tiêu giám sát, đánh giá, phát triển bền vững địa phương giai đoạn 2013 -2020, nhóm
đã quyết định tập trung tính toán và đánh giá sự phát triển bền vững của đô thị thông qua
một số tiêu chí và chủ yếu đi tập trung, phân tích vào 2 đô thị lớn ở Việt Nam đó là Hà
Nội và thành phố Hồ Chí Minh.
Sau đây là các tiêu chí được lựa chọn để đánh giá:
STT Tên chỉ tiêu
Đơn
vị
tính
Kỳ công

Thương, Sở Y tế
4
Chỉ tiêu diện đất cây xanh
công cộng bình quân đầu
người
m
2
/ng
ười
5
Tỷ lệ tiết kiệm điện năng
trong cơ cấu sử dụng năng
lượng ở thành phố (trong
giai đoạn tối thiểu là 3
năm)
6
Tỷ lệ % qũy đất cho giao
thông đô thị trên tổng diện
tích đất xây dựng đô thị
(%)
%
Bảng 1: Các chỉ tiêu được lựa chọn để đánh giá sự phát triển đô thị bền vững
Cụ thể mức thang điểm với từng chỉ tiêu được đưa ra như sau:
Chỉ tiêu Thực hiện
- Tỷ lệ dân số được sử dụng nước
sạch (%)
50-60 60-70 70-80 80-90 90-100
Mức điểm 20 40 60 80 100
- Nồng độ chất ô nhiễm PM10
trung bình đạt tiêu chuẩn

Tiêu chuẩn đánh giá đô thị phát triển bền vững dựa theo các mức điểm đạt được, cụ
thể:
 Mức kém, khi số điểm của các tiêu chí là ≤ 40;
 Mức đạt, khi số điểm của các tiêu chí là từ 41 đến 60;
 Mức khá, khi số điểm của các tiêu chí là từ 61 đến 80;
 Mức xuất sắc, khi số điểm của các tiêu chí là từ 81 đến 100.
NHÓM 7 Page 19
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG GV: TS. NGUYỄN VIẾT THÀNH
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ BỀN VỮNG Ở
VIỆT NAM THÔNG QUA CÁC CHỈ TIÊU
2.1. Tỷ lệ dân số được sử dụng nước sạch
2.1.1. Giới thiệu chỉ tiêu
Tỷ lệ dân số được sử dụng nước sạch là phần trăm dân số được sử dụng nguồn
nước hợp vệ sinh trong tổng dân số. Chỉ tiêu phản ánh mức độ tiếp cận nước sạch của
người dân; đánh giá hiệu quả của các chương trình cung cấp nước sạch quốc gia; phản
ánh mức sống của người dân.
Chỉ tiêu Thực hiện
Tỷ lệ dân số được
sử dụng nước sạch
(%)
50-60 60-70 70-80 80-90 90-100
Mức điểm 20 40 60 80 100
Công thức như sau:
Tỷ lệ dân số được
sử dụng nước sạch
(%)
Dân số được sử dụng nguồn nước
hợp vệ sinh
= x 100
Tổng dân số

Giấy, hay những khu vực có tốc độ đô thị hóa cao như huyện Từ Liêm, Thanh Trì, Gia
Lâm, Ðông Anh, Sóc Sơn.
Năm 2008, sau khi mở rộng địa giới hành chính, Hà Nội có diện tích tự nhiên
3.344,7 km2 (rộng gấp 3,6 lần diện tích cũ) với 29 quận, huyện, 6,5 triệu người dân, đặt
ra những yêu cầu, nhiệm vụ mới đối với ngành cấp nước. Cũng vào thời gian này, Nhà
NHÓM 7 Page 21
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG GV: TS. NGUYỄN VIẾT THÀNH
máy xử lý nước sông Ðà - nhà máy xử lý nước mặt thành nước sinh hoạt đầu tiên được
đưa vào sử dụng, nâng tổng số nhà máy sản xuất nước của Hà Nội lên 15 nhà máy và 19
trạm cấp nước, tổng sản lượng nước đạt 1,2 triệu m3/ngày đêm. Nhờ nguồn cung cấp
nước dồi dào, vận hành mạng lưới hợp lý, đến nay, 100% số hộ dân nội thành và hơn 33%
số hộ dân ngoại thành, với gần ba triệu người dân của Thủ đô đã được sử dụng nước sạch
với tiêu chuẩn 121 lít/ngày, chất lượng nước đạt tiêu chuẩn của Bộ Y tế. Nhiều khu vực
trước đây thường xuyên khan hiếm nước, như một số phường của quận Hoàng Mai,
Thanh Xuân, khu vực đường Láng, đường Ðê La Thành (quận Ðống Ða), đường đê Nghi
Tàm - An Dương Vương (quận Tây Hồ) , tình hình cấp nước được cải thiện đáng kể.
Vào những thời điểm như mùa hè - khi nhu cầu sử dụng nước lớn, hoặc mùa khô - khi
mực nước ngầm hạ thấp, sản lượng nước vẫn được duy trì ổn định.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng đáng ghi nhận, nhưng việc cung cấp nước sạch cho
người dân giữa các khu vực trên địa bàn Thủ đô chưa đồng đều. 33,23% số dân ngoại
thành được sử dụng nước sạch chủ yếu là các hộ dân thuộc các huyện ven đô của Hà Nội
cũ. Phần lớn các hộ dân chưa được sử dụng nước sạch (bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng)
chủ yếu nằm trên địa bàn các huyện của Hà Tây (cũ). Tại các khu vực này, trước đây,
người dân thường sử dụng nước giếng khoan, giếng khơi để sinh hoạt, nhưng nay, do
nguồn nước ngầm bị cạn kiệt, chất lượng nước bị ô nhiễm, nước sạch rất khan hiếm.
Tình hình cung cấp nước sạch ở TP Hồ Chí Minh vài năm gần đây đã được cải
thiện đáng kể, nhưng tỷ lệ hộ dân được cấp nước sạch qua hệ thống cấp nước của Tổng
Công ty cấp nước Sài Gòn mới đạt khoảng 84,3%. Ở nhiều khu vực cuối nguồn, người
dân vẫn phải chịu cảnh thiếu nước.
Có thể nói việc cung cấp nước và nhu cầu sử dụng nước sạch ở TP Hồ Chí Minh

• Nguồn gốc của ô nhiễm bụi khí PM10:
NHÓM 7 Page 23
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG GV: TS. NGUYỄN VIẾT THÀNH
Bụi sinh ra do các quá trình vận động của tự nhiên như động đất, núi lửa, sol khí
biển , cháy rừng, động đất, bão bụi , bụi thực vật như bụi gỗ, bong, bụi phấn hoa hay bụi
động vật như len, lông,… Và sinh ra từ các quá trình hoạt động sản xuất, sinh hoạt của
con người như giao thông vận tải , nhựa hóa học, cao su, cement,… bụi kim loại, bụi hỗn
hợp, do mài đúc,.
Nếu chỉ xét các bụi khí mịn PM 2,5 thì các nguồn phát thải do đốt nhiên liệu chiếm
phần chủ yếu. Đặc biệt , ammonium sulphate, nitrate, cac – bon hữu cơ và cac-bon đen
sinh ra từ các nguồn đốt nhiên liệu chiếm đến 50% trong bụi mịn.
Phương pháp được sử dụng để xác định hàm lượng chất độc hại trong không khí là
phương pháp đo trực tiếp ở các trạm đã được quy định.
2.2.2. Thực trạng ô nhiễm bụi PM10 tại hai thành phố lớn là Hà Nội và Hồ Chí Minh
Tại TP Hồ Chí Minh, ô nhiễm không khí cũng đang ở mức đáng lo ngại, đặc biệt là
xu hướng gia tăng nồng độ các chất độc hại trong không khí như benzen, nitơ ôxit Nồng
độ một số chất ô nhiễm đều vượt tiêu chuẩn cho phép đối với chất lượng không khí xung
quanh (dân cư) lẫn chất lượng không khí ven đường.
Không khí xung quanh khu dân cư có nồng độ bụi đặc trưng PM10 (kích thước hạt
bụi nhỏ hơn 10 micrômét) có xu hướng tăng trong những năm gần đây. Có khu vực nồng
độ PM10 đạt hơn 80 micrôgam/mét khối, trong khi tiêu chuẩn cho phép thấp hơn con số
này nhiều lần là 50 micrôgam/mét khối. 88% giá trị quan trắc không đạt quy chuẩn
(QCVN 05:2009/BTNMT), nồng độ trung bình dao động từ 0,35 – 0,62 mg/m3, so với
tháng 04/2011 và so với cùng kỳ năm 2010, nồng độ bụi có xu hướng giảm.
Ngoài ra, tiêu chuẩn về ôxít lưu huỳnh (SO2), qua kết quả quan trắc cũng cho thấy
nồng độ chất ô nhiễm này tuy chưa vượt tiêu chuẩn cho phép nhưng lại có xu hướng tăng
trong những năm gần đây. Một số nơi ở Thành phố Hồ Chí Minh, nồng độ SO2 lên đến
khoảng 30 micrôgam/mét khối. Năm 2005 là năm đầu tiên Thành phố Hồ Chí Minh bắt
đầu quan trắc nồng độ benzen hiện diện trong không khí tại nhiều khu vực của thành phố.
Theo đó, kết quả quan trắc tại 6 điểm cho thấy nồng độ benzen ghi nhận được có nơi đạt

NHÓM 7 Page 25

Trích đoạn tưởng phát triển, quy hoạch và đô thị hóa: Chiến lược xây dựng và phát triển bền vững đô thị Việt Nam trong thế kỷ Giải pháp nhóm nghiên cứu đưa ra
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status