MỤC LỤC
Nội dung Trang
Mục lục 1
Danh mục các từ viết tắt 2
Danh mục các hình vẽ 3
Danh mục các bảng biểu 4
Mở đầu 5
Lời cảm ơn 6
Phần 1: GIỚI THIỆU VỀ ĐƠN VỊ THỰC TẬP
Phần 2: NỘI DUNG TÌM HIỂU TRONG QUÁ TRÌNH THỰC TẬP
1: TRUYỀN HÌNH VÀ CÁC PHƯƠNG THỨC TRUYỀN DẪN 7
1.1. Giới thiệu về truyền hình 8
1.1.1. Khái niệm 9
1.1.2. Sóng điện từ 10
1.2. Các phương thức truyền dẫn 11
1.2.1. Truyền hình quảng bá tương tự mặt đất (truyền hình vô tuyến) 12
1.2.2. Truyền hình quảng bá số mặt đất 13
1.2.3. Truyền hình vệ tinh tương tự và số 14
1.2.4. Truyền hình vi ba 15
1.2.5. Truyền hình cáp tương tự và số 16
1.2.6. Truyền hình SMATV (Sattelite Master Antenna Television) 17
1.3. Băng tần của hệ thống truyền hình cáp tại Việt Nam
2: CÁC THÀNH PHẦN CỦA HỆ THỐNG PHÁT VÀ THU TRUYỀN HÌNH VỆ
TINH 18
2.1. Trạm phát mặt đất 19
2.2. Vệ tinh 20
2.2.1. Giới thiệu về vệ tinh 21
GVHD: Th.S Đặng Trung Hiếu SVTH: Nguyễn Khắc Tú
1
2.2.2. Băng tần vệ tinh 22
2.2.3. So sánh giữa hai băng tần 23
chính trị cho đời sống nhân dân. Truyền hình còn là cơ quan thông tin, ngôn luận của
quần chúng nhân dân. Ngoài ra còn cung cấp nhiều chương trình giải trí phong phú và
hấp dẫn đối với người xem.
Tuy vậy, việc thu sóng truyền hình tại các vùng lõm, các chung cư và cao ốc
thường rất khó khăn vì các chung cư hay cao ốc đã trở thành vật cản sóng truyền hình
với các căn hộ bên trong cao ốc hay chung cư đó dẫn đến tín hiệu thu được thường rất
xấu gây ra hiện tượng bóng và nhiễu. Đòi hỏi của người xem về chất lượng của các
chương trình truyền hình ngày càng cao không chỉ với các chương trình quảng bá mà
còn có nhu cầu được cung cấp thông tin về các sự kiện mọi lúc, mọi nơi trên thế giới
kể cả những yêu cầu được học tập, giải trí, giao dịch mua sắm ngay trên thiết bị truyền
hình của mình. Nhất là tại các khách sạn hay chung cư cao cấp thì nhu cầu giải trí về
truyền hình của khách hàng là rất phong phú. Từ đó đã có nhiều công nghệ, dịch vụ
truyền hình ra đời với nhiều chủng loại và phương pháp truyền dẫn khác nhau. Cung
cấp ngày càng nhiều các chương trình truyền hình hấp dẫn và phong phú phục vụ cho
mọi nhu cầu của các tầng lớp khán giả.
Cùng với sự phát triển của công nghệ truyền hình, một hệ thống truyền hình mới
đã ra đời có tên gọi là Hệ thống truyền hình SMATV (Sattelite Master Antenna
Television). Nó thích hợp với các khách sạn hay các chung cư cao cấp vì chi phí thấp
số lượng và chất lượng các kênh truyền hình cao đáp ứng được những yêu cầu đòi hỏi
của khách hàng. Xuất phát từ những lý do trên nên em đã chọn chủ đề “Hệ thống
truyền hình SMATV” cho bài báo cáo thực tập của mình.
GVHD: Th.S Đặng Trung Hiếu SVTH: Nguyễn Khắc Tú
3
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên em xin bày tỏ lòng biết ơn đến toàn thể thầy cô khoa Điện tử - Viễn
thông, trường Đại học Điện Lực đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi để em tiếp cận được
với môi trường thực tế thông qua đợt thực tập đầy ý nghĩa thiết thực này.
Em xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc, cán bộ công nhân viên Trung tâm kĩ
thuật và dịch vụ Công ty cổ phần xuất nhập khẩu công nghệ mới đã tạo điều kiện thuận
Thực hiện khảo sát lên phương án và trực tiếp tham gia thi công các công
trình của công ty như : Thi công lắp đặt hệ thống tuyến trục truyền hình
cáp.
2. Nhóm Truyền hình vệ tinh:
Thực hiện bảo trì định kỳ hệ thống MATV (Master Antenna Television)
cho 7 khách sạn.
Thực hiện cung cấp lắp đặt dịch vụ truyền hình cáp quang cho 34 khách
sạn và chung cư cao cấp.
GVHD: Th.S Đặng Trung Hiếu SVTH: Nguyễn Khắc Tú
5
Thực hiện khảo sát, lên phương án và trực tiếp tham gia thi công các
công trình của công ty.
3. Nhóm Truyền dẫn:
Hiện tại nhóm quản lý 145km cáp quang trong đó tuyến cáp trục chiếm
120km còn lại 25km là cáp vào các hộp thuê bao.
Công ty có hai cơ sở:
Cơ sở 1: Trụ sở giao dịch: 40 Phương Mai, Đống Đa, Hà Nội.
Cơ sở 2: C6 – Thanh Xuân Bắc, Thanh Xuân, Hà Nội.
GVHD: Th.S Đặng Trung Hiếu SVTH: Nguyễn Khắc Tú
6
Phần 2: NỘI DUNG TÌM HIỂU TRONG QUÁ TRÌNH THỰC TẬP
1: TRUYỀN HÌNH VÀ CÁC PHƯƠNG THỨC TRUYỀN DẪN
1.1. Giới thiệu về truyền hình
1.1.1. Khái niệm
Định nghĩa: Truyền hình là hệ thống cho phép truyền hình ảnh và âm thanh
tương ứng từ trạm phát đến người xem ở một khoảng cách nhất định.
Phương thức truyền dẫn là sử dụng khả năng truyền lan của sóng điện từ trong
môi trường xác định. Môi trường truyền dẫn có thể là vô tuyến hoặc hữu tuyến. Khi
truyền sóng điện từ ra không gian thì người ta gọi là sóng vô tuyến.
Hình ảnh mà mắt người cảm nhận được có bản chất là tín hiệu điện từ nhưng ở
1.2.3. Truyền hình vệ tinh tương tự và số
Hình 1.3 : Sơ đồ khối của hệ thống truyền vệ tinh tương tự và số.
Đối với truyền hình vệ tinh, tín hiệu này được điều chế một lần nữa để đưa lên
tần số phát lên vệ tinh rồi mới được khuếch đại công suất và đưa ra antten phát lên vệ
tinh. Tại vệ tinh, tín hiệu được này được đổi về tần số phát xuống để phát xuống mặt
GVHD: Th.S Đặng Trung Hiếu SVTH: Nguyễn Khắc Tú
Trung tâm
phát hình
Hệ thống
điều chế và
khuếch đại
công suất
Không gian
Trung tâm
phát hnh
Anten
phát sóng
Anten
phát sóng
Không gian
Trung
tâm
phát
hình
Hệ thống
điều chế và
khuếch đại
công suất
Hệ thống
điều chế và
Hệ thống
điều chế và
khuếch đại
công suất
Anten
phát sóng
Không gian
Trung tâm
phát hình
Hệ thống
điều chế
và khuếch
đại công
suất
Mạng
HFC
Thuê bao
sử dụng
tín hiệu
9
Hình 1.6 : Sơ đồ khối của hệ thống truyền hình SMATV.
Là hệ thống truyền hình đa kênh được truyền dẫn từ trung tâm đến các thuê bao
khác, chủ yếu dùng cho các khu khách sạn, khu chung cư, Thực chất SMATV là một
hệ thống thu nhỏ của truyền hình cáp CATV mà trong đó tín hiệu truyền dẫn từ trung
tâm tới các thuê bao qua hệ thống cáp đồng trục.
Ưu điểm:
Các thiết bị mạng đơn giản, giá thành thấp.
Nhược điểm:
Do truyền tín hiệu bằng cáp đồng trục có mức suy hao lớn nên khi sử
dụng nhiều bộ khuếch đại dẫn đến chi phí cho mạng tăng cao, đồng thời
Tại vệ tinh, tín hiệu được này được đổi về tần số phát xuống để phát xuống mặt đất. Hệ
thống thu tín hiệu vệ tinh, bao gồm antten parabol, LNB, đầu thu vệ tinh sẽ chuyển tín
hiệu về dạng Video để có thể hiện thị trên màn hình TV.
2.1. Trạm phát mặt đất
Sơ đồ khối trạm phát:
GVHD: Th.S Đặng Trung Hiếu SVTH: Nguyễn Khắc Tú
Vệ tinh
Đường lên
Đường xuống
Trạm phát
Trạm thu
12
Hình 2.2 : Sơ khối trạm phát vệ tinh.
Tín hiệu A/V từ studio được chuyển đổi sang tín hiệu số, mã hoá và nén MPEG-
2. Đây là tiêu chuẩn thống nhất trong việc truyền dẫn phát sóng tín hiệu video số qua
vệ tinh có độ phân giải tiêu chuẩn (SDTV). Đối với tiêu chuẩn tiếng : MPEG-1. Sau đó
các tín hiệu A/V qua các bộ phận sau như:
Scrambler (xáo trộn mật mã tín hiệu) của hệ thống truy nhập có điều kiện CA
(Conditional Access) theo các yêu cầu về quản lý thuê bao và chương trình cung cấp
cho thuê bao. Tín hiệu sau khoá mã được ghép kênh để tạo thành dòng truyền tải đa
chương trình (từ 10 đến 20 chương trình).
Tín hiệu sau ghép kênh được đưa đến khối điều chế. Trong truyền hình số qua vệ tinh
sử dụng kỹ thuật điều chế QPSK. Tiếp theo đến bộ khuếch đại công suất và đưa lên hệ
thống anten phát lên vệ tinh.
2.2. Vệ tinh
2.2.1. Giới thiệu về vệ tinh
Vệ tinh có tác dụng như một trạm chuyển tiếp tín hiệu (transponder): nhận tín
hiệu phát ra từ trạm mặt đất sau đó dịch tần, khuếch đại rồi phát trở lại trái đất. Vệ tinh
chuyển động quanh trái đất theo một quỹ đạo nhất định. Vị trí này được xác định bằng
Hình 2.6 : Vùng phủ sóng vệ tinh băng Ku.
GVHD: Th.S Đặng Trung Hiếu SVTH: Nguyễn Khắc Tú
15
2.2.3. So sánh giữa hai băng tần
Băng C:
Ít chịu ảnh hưởng của thời tiết (mưa ), đường truyền ổn định.
Anten có kích thước đòi hỏi lớn, đường kính tối thiểu 2,4 m, giá thành hệ
thống thu tín hiệu lớn.
Phù hợp cho các hệ thống truyền hình chuyên nghiệp, trạm phát lại.
Băng Ku:
Chịu nhiều ảnh hưởng của thời tiết (mưa ), đường truyền không ổn định.
Truyền được nhiều kênh trên cùng một băng tần.
Kích thước anten nhỏ, đường kính từ 0,6 – 0,9 m, giá thành hệ thống thu
tín hiệu không quá lớn.
Hiện tại , truyền hình vệ tinh chủ yếu là truyền hình số. Gồm 2 dải tần là băng C
và băng Ku. Băng C có tần số phát lên từ 5 - 6,5 GHz, tần số phát
xuống từ 2-3,5 GHz. Băng Ku có dải tần phát lên từ 13 - 15 GHz, phát xuống từ
10 - 12 GHz.
2.3. Trung tâm Headend
Trung tâm truyền hình cáp Headend là nơi tập hợp, chọn lọc và quy tụ các kênh
truyền hình trong nước và thế giới. Các kênh tín hiệu truyền hình có thể lấy từ nhiều
nguồn khác nhau như :
Các kênh truyền hình độc quyền trong nước được biên tập từ các trung
tâm sản xuất chương trình sau đó được đưa đến trung tâm truyền hình.
Các kênh truyền hình địa phương lân cận có thể được thu lại bằng các
anten Yagi băng tần VHF , UHF.
Còn các kênh truyền hình quốc tế thì được thu trực tiếp từ vệ tinh bằng
các loại anten parapol băng tần C-band hay Ku-band.
Để quản lý hệ thống được chặt chẽ hơn hay hạn chế kênh phát hoặc để dễ dàng
quản lý các thuê bao, chống thu trộm tín hiệu ta đưa tín hiệu Video-Audio từ các máy
hiện tượng sóng phản chiếu, các tần số tạp sẽ có cơ hội xâm nhập vào đường truyền để
gây rối hướng sóng chính từ đài phát, ngược lại nếu như anten thu có hệ số khuếch đại
thấp hơn so với yêu cầu thì hình ảnh sẽ bị bóng mờ, phù hạt và âm thanh bị rè …
Hình 3.1: Một số loại anten yagi.
3.1.2. Anten Parabol
Anten thu tín hiệu vệ tinh gồm có: anten parabol, phễu hứng sóng (feed horn) và
bộ dịch tần tạp âm thấp LNB (Low-Noise Block Converter).
GVHD: Th.S Đặng Trung Hiếu SVTH: Nguyễn Khắc Tú
18
Hình 3.2 : Anten Parabol.
Tín hiệu siêu cao tần truyền từ vệ tinh xuống đập vào bề mặt anten thu, phản xạ
vào phễu hứng sóng(feed-horn) đặt tại tiêu điểm của gương parabol. Sau đó, tín hiệu sẽ
được khuyếch đại nhờ LNA(Low-Noise-Amplifier) và được dịch tần số xuống (950-
2150MHz) nhờ LNB. Tín hiệu này sẽ được dẫn bằng cáp tới thiết bị thu vệ tinh.
- Anten parabol: Thường có 2 dạng chính: Dạng Anten parapol làm bằng Tole
đặc và dạng Anten parapol làm bằng lưới nhôm.
Anten parapol có kích thước nhỏ đường kính từ 0,4m~1,8m thường được
làm bằng Tole đặc.
Các loại anten có đường kính lớn hơn thừơng được làm bằng lưới nhôm
nhằm tránh được sức gió khi lắp đặt trên cao.
Các Anten có đường kính nhỏ thường có hình ô van, làm bằng Tole đặc,
sử dụng cho Band Ku .
Một số loại anten parabol:
GVHD: Th.S Đặng Trung Hiếu SVTH: Nguyễn Khắc Tú
19
Hình 3.3 : Anten tole đặc và anten lưới nhôm
- Phễu thu sóng (feed horn):
Hình 3.4: Phễu Thu sóng.
Phễu thu sóng gồm có phễu và ống dẩn sóng được gắn chung với bộ dịch tần
đến 862.25 MHZ. Các kênh lân cận cách nhau 8MHz đúng với khoảng băng thông cho
một kênh truyền hình tương tự. Hiện nay, ở Việt Nam ta chưa sản xuất các bộ điều chế
trên nên hầu như phải mua từ nước ngoài.
Hình 3.9: Bộ điều chế (Modulator)
3.4.2. Bộ giải điều chế (Demodulator)
Là thiết bị biến đổi tín hiệu đã được điều chế thành tín hiệu trước khi qua bộ
điều chế. Bộ giải điều chế dùng để giải điều chế tín hiệu tương tự thành tín hiệu Audio
và Video riêng biệt.
Hình 3.10: Bộ giải điều chế (Demodulator)
3.5. Bộ ghép kênh – Bộ cộng tín hiệu (Combiner)
Bộ cộng tín hiệu có chức năng cộng 2 hay nhiều tín hiệu ở ngõ vào nhằm tạo ra
một tín hiệu duy nhất tại ngõ ra (là tín hiệu RF) .
GVHD: Th.S Đặng Trung Hiếu SVTH: Nguyễn Khắc Tú
Tín hiệu sóng mang
22
Bộ ghép kênh có thể thực hiện phương pháp kết hợp các tín hiệu tin tức từ một
hay nhiều nguồn chương trình khác nhau .
Trước khi vào bộ ghép kênh, mỗi tín hiệu được truyền theo một đường sóng
điện từ riêng biệt, truyền trong lõi cáp. Sau đó, luồng tín hiệu sau khi ghép kênh sẽ
được truyền trên đường truyền với băng thông trong phạm vi cho phép của đường
truyền.
Mỗi tín hiệu RF có một dải tần riêng biệt. Khi cộng những tín hiệu này lại với
nhau thì ở ngõ ra vẫn giữ nguyên dải tần riêng của mỗi tín hiệu. Các bộ cộng tín hiệu
RF thường dùng trong các bộ truyền hình cáp.
Hình 3.11: Bộ ghép kênh Combiner
3.6. Bộ mã hóa/Giải mã
3.6.1. Bộ mã hóa – Encoder
Bộ mã hóa tín hiệu theo một loại mã đã được chọn sẵn và loại mã sử dụng trong
bộ mã hóa là mã kiểm soát lỗi. Tín hiệu sẽ được mã hóa trước khi đưa vào bộ điều chế .
Hình 3.12: Thiết bị mã hóa – Encoder
Máy đo phổ tần DL-1(hãng
Rover/Italy):
Máy đo phổ tần Prolink–3 (hãng
Promax/ Tây ban nha):
Hình 3.14: Các máy đo số dùng để đo tín hiệu truyền hình vệ tinh.
Một số chức năng của máy đo:
GVHD: Th.S Đặng Trung Hiếu SVTH: Nguyễn Khắc Tú
25