NGHIÊN CỨU XỬ LÝ
CHẤT
THẢI
Y
TẾ
Danh
mục
bảng,
biểu
đồ,
hình
Chữ
viết
tắt
trong
Luận
1.4.2. Tác hại và nguy cơ của CTYT đối với môi trường và sức khỏe cộng 14
đồng tại Việt Nam
1.4.3. Hiểu biết của cán bộ, nhân viên y tế về quản lý chất thải y tế 15
1.4.4.
Nguồn lực
cho công tác quản lý chất thải
16
Chƣơng
2.
Đối
tƣợng
và
phƣơng
pháp
nghiên
cứu
19
2.1. Đối tượng nhiên cứu 19
quản lý chất thải y tế 26
3.2. Một số yếu tố liên quan đến quản lý chất thải y tế 32
Chƣơng
4.
Bàn
luận
49
4.1. Thực trạng quản lý chất thải y tế 49
4.1.1. Thực trạng quản lý chất thải rắn 49
4.1.2. Thực trạng quản lý nước thải bệnh viện 55
4.2. Một số yếu tố liên quan đến quản lý chất thải y tế 58
4.2.1. Nhân lực trực tiếp quản lý chất thải y tế 58
4.2.2. Trang thiết bị phục vụ thu gom rác thải 63
4.2.3. Thực trạng hệ thống thu gom và xử lý nước thải 66
Kết
luận
69
Khuyến
nghị
71
Tài
liệu
vệ sinh
viên
được tập huấn quy chế
quản lý chất thải y tế 34
Bảng 3.8. Hiểu biết của nhân viên y tế và vệ sinh viên về phân loại chất thải
y tế theo nhóm chất thải y tế 35
Bảng 3.9. Hiểu biết của nhân viên y tế và vệ sinh viên về mã màu dụng cụ
đựng chất thải y tế 36
Bảng 3.10 Hiểu
biết
của nhân viên y tế và vệ sinh viên về phân loại chất
thải y tế theo nhóm chất thải và theo mã màu………………… 37
Bảng 3.11.
Tình hình thực hiện quy chế quản lý chất thải y tế
38
Bảng 3.12.
Liên quan giữa hiểu biết với thực hành phân loại chất thải 39
Bảng 3.13.
Liên quan giữa học tập với hiểu biết về phân loại chất thải của 40
nhân viên y tế và vệ sinh viên
Bảng 3.14.
thực
hành bỏ rác đúng quy định
43
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Bảng 3.17.
Tỷ
lệ
nhân
viên
y
tế
và
vệ
sinh
viên
bị
thương tích
Biểu đồ 3.2.
Tỷ lệ nhân
viên
y tế
và
vệ
sinh
viên
được tập huấn quy
chế
quản lý chất thải y tế
34
Biểu đồ 3.3.
Hiểu biết
của nhân viên y tế và vệ sinh viên về phân loại chất 35
thải y tế theo nhóm chất thải y tế
Biểu đồ 3.4.
Hiểu biết của nhân viên y tế và vệ sinh viên về mã mầu dụng cụ
TẮT
TRONG
LUẬN
VĂN
AIDS :
Acquired
Immune
Deficiency
Syndrom
e
(Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải)
BOD5 :
Chỉ số nhu cầu ô xy sinh hóa sau 5 ngày,
ở
nhiệt độ 20
o
C
BVĐKTWTN :
Bệnh
viện
phát
triển
quốc
t
ế
Đan Mạch)
DEA :
Danish Environmental Assistant to Vietna
m
(hỗ trợ môi trường của Đan Mạch cho Việ
t
Nam)
GB :
Gường bệnh
KQ PT :
Kết quả phân tích
HBV :
Hepatitis B virus (Vi rút viêm gan B)
HCV :
Hepatitis C virus (Vi rút viêm gan C)
HIV :
ty
TNHH
kỹ
thu
ật
làm sạch và thương mại quốc tế)
NSNN :
Ngân sách nhà nước
PX :
Phóng xạ
TB :
Trung bình
TCCP :
Tiêu chuẩn cho phép
TCVN :
Tiêu chuẩn Việt Nam
UBND :
Ủy ban nhân dân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
URENCO :
Chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ nhân dân là nhiệm vụ quan trọng củ
a
ngành Y tế. Nhằm đáp ứng kịp thời các nhu cầu khám chữa bệnh và chăm sóc sứ
c
khoẻ của nhân dân, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, hệ thống các cơ sở
y
tế không ngừng được tăng cường, mở rộng và hoàn thiện Tuy nhiên, trong quá trìn
h
hoạt động, hệ thống y tế đặc biệt là các bệnh viện đã thải ra môi trường một lượn
g
lớn các chất thải bỏ, bao gồm những chất thải bỏ nguy hại. Theo Tổ chức Y tế th
ế
giới, trong thành phần chất thải bệnh viện có khoảng 10% là chất thải nhiễm khuẩ
n
và khoảng 5% là chất thải gây độc hại như chất phóng xạ, chất gây độc tế bào, cá
c
hoá chất độc hại phát sinh trong quá trình chẩn đoán và điều trị, đó là những yếu t
ố
nguy cơ làm ô nhiễm môi trường, lan truyền mầm bệnh từ bệnh viện tới các vùn
g
xung quanh, dẫn tới tăng nguy cơ nhiễm trùng bệnh viện và tăng tỷ lệ bệnh tật của
cộng đồng dân cư sống trong vùng tiếp giáp [40], [63].
Theo báo cáo của Bộ Y tế, tính đến tháng 10 năm 2007, cả nước có 1087 bện
h
viện, trong đó có 1023 bệnh viện công, 64 bệnh viện tư với tổng số 140.000 giườn
g
bệnh. Bên cạnh đó còn có 14 Viện thuộc hệ dự phòng, 189 trung tâm y tế dự phòn
g
tuyến tỉnh, 680 trung tâm y tế huyện, 100 cơ sở nghiên cứu đào tạo y dược và 18
1
chỉ
có
30%
trong số
này
đạt
tiêu
chuẩn
ch
o
phép; có 90,9% bệnh viện thực hiện thu gom CTYT hàng ngày, nhưng chỉ có 50%
bệnh viện trong số này phân loại và thu gom CTYT đạt yêu cầu [23].
Để đánh giá thực trạng về CTYT cũng như những ảnh hưởng của CTYT đố
i
với
môi
trường,
nhiều
đã
phần
nào
cho
thấy
những tồn
tại
trong công
tác
quản
l
ý
CTYT ở nước ta [26], [28], [40]. Hiện nay, vì nhiều lý do, trong đó có áp lực về nh
u
cầu khám chữa bệnh của nhân dân, sự quá tải của nhiều bệnh viện, sự thiếu đồng b
ộ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
cơ
sở
gây
ô
nhiễm
môi
trường nghiêm trọng,
bao
gồm 84
bệnh
viện
,
trong đó có bệnh viện đa khoa Trung ương Thái Nguyên [18].
Sau quyết định phê duyệt đó, Bệnh viện đa khoa Trung ương Thái Nguyên đ
ã
tích cực triển khai nhiều hoạt động để xử lý triệt để ô nhiễm môi trường. Tuy vậy,
các
hoạt
động
xử
giá
thực
trạng công tác
bảo
vệ
môi
trường của
Bệnh
viện
đa
kho
a
Trung ương Thái Nguyên trong thời gian qua, chúng tôi đặt vấn đề nghiên cứu đ
ề
tài: "Nghiên cứu thực trạng và một số yếu tố liên quan đến quản lý chất thải y tế tạ
i
Bệnh viện đa khoa Trung ương Thái Nguyên", với mục tiêu:
1. Mô tả thực trạng quản lý chất thải y tế tại Bệnh viện đa khoa Trung ươn
g
trạng
quản
lý
chất
thải
y
tế
trên
thế
giới
Nghiên cứu về CTYT đã được tiến hành tại nhiều nước trên thế giới, đặc biệt
ở
các nước phát triển như Anh, Mỹ, Nhật, Canada Các nghiên cứu đã quan tâm đế
n
nhiều lĩnh vực như tình hình phát sinh; phân loại CTYT; quản lý CTYT (biện phá
p
làm giảm thiểu chất thải, tái sử dụng chất thải, xử lý chất thải, đánh giá hiệu quả củ
a
các biện pháp xử lý chất thải ); tác hại của CTYT đối với môi trường, sức khoẻ; biệ
n
nhiễm
khuẩn
bệnh
viện,
nhiễ
m
khuẩn ngoài bệnh viện đối với người thu nhặt rác, vệ sinh viên và cộng đồng; ngườ
i
phơi nhiễm với HIV, HBV, HCV ở nhân viên y tế. [57], [58], [60], [61].
1.1.1.
Thực
trạng
phát
sinh
chất
thải
y
tế
thuộc vào các yếu tố khách quan như: cơ cấu bệnh tật, dịch bệnh, loại, quy mô bện
h
viện, phương pháp và thói quen của nhân viên y tế trong việc khám, chữa bệnh v
à
chăm sóc bệnh nhân và thải rác của bệnh nhân ở các khoa phòng [34].
Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (1992), ở các nước đang phát triể
n
có thể phân loại CTYT thành các loại sau: Chất thải không độc hại (chất thải sin
h
hoạt gồm chất thải không bị nhiễm các yếu tố nguy hại); chất thải sắc nhọn (truyề
n
nhiễm hay không truyền nhiễm); chất thải nhiễm khuẩn (khác với các vật sắc nhọ
n
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
nhiễm khuẩn); chất thải hoá học và dược phẩm (không kể các loại thuốc độc đối vớ
i
Bảng
1.1.
Chất
thải
y
tế
theo
chế phẩm sinh học liên quan; Những vật sắc nhọn được dùng trong điều trị, nghiê
n
cứu ; Máu và các sản phẩm của máu; Chất thải động vật (xác động vật, các phầ
n
của cơ thể ); Các vật sắc nhọn không sử dụng; Các chất thải gây độc tế bào; Chấ
t
thải phóng xạ [63].
1.1.3.
Quản
lý
chất
thải
y
tế
Theo Tổ chức Y tế thế giới, có 18 - 64% cơ sở y tế chưa có biện pháp xử l
ý
chất
thải
đúng cách.
Tại
ra trong quá
trình
xử lý
CTYT.
Tổn
thương này cũng là
nguồn phơi nhiễm nghề nghiệp, với máu phổ biến nhất, chủ yếu là dùng hai tay thá
o
lắp kim và thu gom tiêu huỷ vật sắc nhọn. Có khoảng 50% số bệnh viện trong diệ
n
điều tra vận chuyển CTYT đi qua khu vực bệnh nhân và không đựng trong xe thùn
g
có nắp đậy [64].
Theo H.Ô-ga-oa,
cố
vấn Tổ chức Y tế thế
giới về sức
khoẻ,
môi trường
khu
g
công tác xử lí CTYT, Malaixia có phương tiện xử lý rác thải tập trung trên bán đảo
và các hệ thống xử lý rác thải thải riêng biệt cho các bệnh viện ở xa tại Boocneo [64].
Ở các nước phát triển đã có công nghệ xử lý CTYT đáng tin cậy như đốt rá
c
bằng lò vi sóng, tuy nhiên đây không phải là biện pháp hữu hiệu được áp dụng ở cá
c
nước đang phát triển, vì vậy, các nhà khoa học ở các nước Châu Á đã tìm ra một s
ố
phương pháp xử lý chất thải khác để thay thế như Philippin đã áp dụng phương phá
p
xử lý rác bằng các thùng rác có nắp đậy; Nhật Bản đã khắc phục vấn đề khí thải độc h
ại
thoát ra từ các thùng đựng rác có nắp kín bằng việc gắn vào các thùng có những thiết
bị
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Tuyến
bệnh
viện Đơn
vị Tổng
lƣợng
CTYT CTYT
nguy
Nam
Theo
Quy
chế
Quản
lý
CTYT
của
Bộ
Y
tế
ban
hành
tại
Quyết
định
y
tế
Theo kết quả khảo sát của Vụ Điều trị - Bộ Y tế tại 24 bệnh viện năm 1998, ch
o
thấy tỷ lệ phát sinh chất thải y tế theo từng tuyến, loại bệnh viện, cơ sở y tế rất khác nh
au.
Trong cùng một bệnh viện, các khoa khác nhau sẽ có lượng chất thải rắn y tế phát sin
h
khác nhau, trong một bệnh viện đa khoa, khoa hồi sức cấp cứu, khoa sản, khoa ngoại c
ó
lượng CTYT phát sinh lớn nhất. Dẫn từ [17], [40].
thu
gom,
công suất
lò
đốt.
Tuy
nhiên,
kết
quả
số đề tài khi nghiên cứu về lượng CTYT phát sinh có xét đến cả chất thải xây dựng
,
bùn bể phốt Một số đề tài nghiên cứu khác chỉ xét đến lượng CTYT phát sinh kh
i
cần thiêu đốt.
Theo kết quả
khảo sát của Bộ
Y tế (2001) tại
280 bệnh
viện lượn
g
CTYT
phát
sinh
mỗi
ngày
khoảng
429
đến
năm 2010,
lượng CTY
T
nguy hại sẽ có khoảng 25.000 tấn/năm [17], [28].
1.2.2.
Thành
phần
và
phân
loại
chất
thải
y
tế
Căn cứ vào các đặc điểm lý học, hoá học, sinh học và tính chất nguy hại, chấ
t
thải trong các cơ sở y tế được phân thành 5 nhóm [21]:
c
thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền
,
lưỡi dao
mổ,
đinh
mổ,
cưa,
các ống tiêm,
mảnh thuỷ tinh
vỡ
và các
vật
sắc nhọ
n
khác sử dụng trong các hoạt động y tế.
- Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B): Là chất thải bị thấm máu, thấ
m
dịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly.
- Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): Là chất thải phát sinh trong cá
phận
cơ
th
ể
người; rau thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm.
* Chất thải hoá học nguy hại: Nhóm này gồm các loại chất thải sau:
- Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng.
- Chất hoá học nguy hại sử dụng trong y tế
- Chất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốc g
ây
độc tế bào và các chất tiết từ người bệnh được điều trị bằng hoá trị liệu.
- Chất thải chứa kim loại nặng: thuỷ ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thuỷ ngân bị v
ỡ,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi (Cd) (từ pin, ắc quy), chì (từ tấm gỗ bọc c
hì
hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chẩn đoán hình ảnh, xạ trị
).
* Chất thải phóng xạ: Gồm các chất thải phóng xạ rắn, lỏng và khí phát sinh t
ừ
các hoạt động chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu và sản xuất.
Danh mục thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu dùng trong chẩn đoán và điề
u
trị ban hành kèm theo Quyết định số 33/2006/QĐ-BYT ngày 24 tháng 10 năm
2006
của Bộ trưởng Bộ Y tế.
* Bình chứa áp suất: Bao gồm bình đựng oxy, CO2, bình ga, bình khí dung
.
lý
chất
thải
y
tế
Ở nước ta CTYT đã được quản lý bằng hệ thống các văn bản pháp luật, nhưng vi
ệc
thực hiện chưa nghiêm túc theo quy định, hầu hết CTYT ở các bệnh viện chưa được x
ử
lý đạt tiêu chuẩn trước khi thải ra môi trường. Nhiều bệnh viện không có hệ thống th
u
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
gom, xử lý nước thải, hoặc có thì nhiều hệ thống cống rãnh đã bị hư hỏng, xử lý xuốn
g
cấp; rác thải không được phân loại, chôn lấp thủ công hoặc đốt thủ công tại chỗ. Th
ực
trạng như sau [23], [24], [31], [40]:
* Về quản lý rác thải:
Kết quả điều tra năm 2002 của Bộ Y tế tại 294 bệnh viện trong cả nước cho thấ
y
94,2% bệnh viện phân loại CTYT tại nguồn phát sinh, chỉ có 5,8% bệnh viện chưa th
ực
hiện. Các bệnh viện tuyến trung ương, tuyến tỉnh, bệnh viện tư nhân thực hiện phân lo
ại
CTYT ngay tại nguồn tốt hơn các bệnh viện tuyến huyện và bệnh viện ngành. Có 93,9
%
ô nhiễm môi trường.
Kết quả kiểm tra của Bộ Y tế (2007) tại 4 bệnh viện Hà Nội, Bệnh viện Lao và bệ
nh
phổi Trung ương được đánh gía là bệnh viện quản lý rác thải tốt nhất trong 4 bệnh vi
ện
được kiểm tra nhưng Đoàn kiểm tra đã phát hiện trong buồng bệnh chỉ có thùng đựng r
ác
sinh hoạt thiếu thùng chứa đờm của bệnh nhân. Ở Bệnh viện Việt Đức tất cả rác thải đề
u
chứa chung trong một loại túi đựng rác màu vàng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Theo báo cáo của Bộ Y tế (2009), năm 2006, tỷ lệ bệnh viện thực hiện phân lo
ại
CTYT là 95,6% và thu gom hàng ngày là 90,9%. Phương tiện thu gom CTYT như tú
i,
thùng đựng chất thải, xe đẩy rác, nhà chứa rác còn thiếu và chưa đồng bộ, hầu hết ch
ưa
đạt tiêu chuẩn theo yêu cầu của Quy chế quản lý CTYT. Chỉ có khoảng 50% các bện
h
viện trên phân loại, thu gom đạt yêu cầu theo quy chế [23].
* Về nước thải:
Kết quả kiểm tra của Bộ Y tế (2004) tại 175 bệnh viện ở 14 tỉnh, thành phố th
ì
có đến 31,5% bệnh viện không có hệ thống thoát nước thải, chủ yếu ở các bệnh việ
n
tuyến huyện. Trong số bệnh viện có hệ thống thoát nước thì có tới 47,4% bệnh việ
n
sử dụng hệ
thống thoát
nắp
đậy,
nước
thải
bệnh
viện
không được
xử
l
ý
(bệnh viện Yên Bái), hoặc xử lý một phần (bệnh viện Quảng Nam, Cần Thơ), hoặ
c
đã xử lý toàn bộ (bệnh viện Phú Thọ, Quảng Ngãi, Đồng Tháp) nhưng tất cả đều đ
ổ
nước thải ra cống thoát nước chung [31].
Theo báo cáo của Bộ Y tế (2009), năm 2006,
tỷ lệ bệnh viện có hệ thống xử l
ý
nước thải tuyến Trung ương là 71%, tuyến tỉnh là 46%, tuyến huyện là 30% và bệnh vi
ện
tư nhân là 85%. Tính chung tỷ lệ bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải là 37% và chỉ
c
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
vào quy mô, điều kiện của từng bệnh viện.
Theo
báo
cáo
diễn
biến
môi
trường
Việt
Nam
(2004)
[8],
Việt
Nam
đã
với
lượn
g
CTYT phát sinh, đã cho thấy, các lò đốt được lắp đặt đã đáp ứng đủ khối lượng phá
t
sinh tại thời điểm. Qua đó đã chứng tỏ rằng vẫn còn một khối lượng lớn CTYT phá
t
sinh chưa được thu gom và xử lý đúng cách. Thực trạng như sau:
- Thiêu đốt chất thải rắn y tế:
+ Thiêu đốt CTYT bằng lò đốt rác hiện đại: Tại Hà Nội và Thành phố Hồ C
hí
Minh đã xử lý CTYT tập trung với công nghệ nhập của nước ngoài. Một số bệnh việ
n
đã
lắp
đặt
lò
đốt
chất
thải
y
số
các
bệnh
viện
có
lò
đốt,
ở
tuyến
trung
ương
có
5/5
hoạt
độn
lớn
CTYT
ở
các
bệnh
viện
được
xử
lý
theo
phương pháp
thô
sơ,
đơ
n
giản, chưa đảm bảo vệ sinh và an toàn môi trường, rác thải y tế được chôn lấp tron
g