ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
----------
Trần Ngọc Diệu Linh
ĐỀ XUẤT VÀ ĐÁNH GIÁ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ
QUẢN LÝ, XỬ LÝ CHẤT THẢI Y TẾ
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HÀ ĐÔNG, HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội – 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------
Trần Ngọc Diệu Linh
ĐỀ XUẤT VÀ ĐÁNH GIÁ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ
QUẢN LÝ, XỬ LÝ CHẤT THẢI Y TẾ
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HÀ ĐÔNG, HÀ NỘI
Chuyên ngành: Khoa học môi trường
Mã số: 60440301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN THANH HÀ
PGS.TS. NGUYỄN THỊ HÀ
3.1.3. Kết quả quan sát về thực trạng thu gom, phân loại, vận chuyển, lƣu giữ
và xử lý chất thải rắn y tế .................................................................................39
3.1.4. Một số yếu tố liên quan đến quản lý chất thải rắn y tế ..........................44
i
3.2. Kết quả khảo sát hiện trạng phát sinh nƣớc thải tại bệnh viện đa khoa Hà
Đông ......................................................................................................................52
3.2.1. Kết quả khảo sát các dòng nƣớc thải .....................................................52
3.2.2.Kết quả khảo sát hiện trạng hệ thống thu gom và xử lý nƣớc thải ..........54
3.3. Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của công tác quản lý,
xử lý chất thải y tế tại bệnh viện đa khoa Hà Đông ..............................................71
3.3.1. Giải pháp tăng cƣờng hiệu quả trong công tác quản lý CTRYT ...........71
3.3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả của hệ thống xử lý nƣớc thải y tế............77
3.4. Đánh giá giải pháp đề xuất .............................................................................78
KẾT LUẬN ...............................................................................................................80
TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………………….83
ii
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin đƣợc bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS. Nguyễn
Thị Hà và TS. Nguyễn Thanh Hà, ngƣời đã tận tình hƣớng dẫn, giúp tôi có kỹ năng
nghiên cứu khoa học và hoàn thành luận văn này. Xin gửi lời chân thành cảm ơn tới
CN. Nguyễn Văn Toán, phòng Hành chính Quản trị, khoa Kiểm soát Nhiễm khuẩn
nói riêng và tập thể cán bộ nhân viên Bệnh viện đa khoa Hà Đông nói chung đã tạo
mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới toàn thể thầy cô giáo trong Khoa Môi
Bệnh viện đa khoa
BYT
Bộ Y tế
COD
Nhu cầu oxy hóa học
CTRYT
Chất thải rắn y tế
CTYT
Chất thải y tế
CTYTNH
Chất thải y tế nguy hại
HTXLNT
Hệ thống xử lý nƣớc thải
PAC
Poly Aluminium Chroride
Bảng 2.1. Tiêu chí đánh giá công nghệ phù hợp với Việt Nam ...............................34
Bảng 3.1. Thực trạng phát thải chất thải rắn y tế tại BVĐK Hà Đông .....................36
Bảng 3.2. Thực trạng thu gom, phân loại chất thải rắn y tế ......................................39
Bảng 3.3. Thực trạng vận chuyển, lƣu giữ chất thải rắn y tế ....................................41
Bảng 3.4. Thực trạng xử lý chất thải rắn y tế ............................................................42
Bảng 3.5. Tỷ lệ nhân viên y tế và nhân viên vệ sinh đƣợc tập huấn quy chế quản lý
chất thải y tế ..............................................................................................................45
Bảng 3.6. Hiểu biết của nhân viên y tế và nhân viên vệ sinh về phân loại chất thải y
tế theo nhóm chất thải ...............................................................................................46
Bảng 3.7. Hiểu biết của nhân viên y tế và nhân viên vệ sinh ...................................47
về mã màu dụng cụ đựng chất thải y tế .....................................................................47
Bảng 3.8. Tình hình thực hiện quy chế quản lý chất thải y tế...................................47
Bảng 3.9. Liên quan giữa kiến thức, thái độ của bệnh nhân với thực hành bỏ rác
đúng quy định ............................................................................................................48
Bảng 3.11. Thực trạng nhà lƣu giữ chất thải rắn y tế................................................50
Bảng 3.12. Kết quả phân tích nƣớc thải bệnh viện đa khoa Hà Đông ......................60
Bảng 3.13. Danh mục các thiết bị chính và điện năng tiêu thụ.................................63
Bảng 3.14. Chi phí điện năng cho hệ thống xử lý nƣớc thải.....................................64
Bảng 3.15. Chi phí hóa chất cho hệ thống xử lý .......................................................64
Bảng 3.16 Chi phí nhân công vận hành hệ thống xử lý nƣớc thải ............................65
v
Bảng 3.17. Tổng hợp đánh giá chỉ tiêu kinh tế .........................................................65
Bảng 3.18. Kết quả quan trắc môi trƣờng không khí xung quanh khu xử lý nƣớc thải
Bệnh viện đa khoa Hà Đông .....................................................................................67
Bảng 3.19. Lƣợng hóa các tiêu chí đánh giá công nghệ của hệ thống xử lý nƣớc thải
bệnh viện đa khoa Hà Đông ......................................................................................68
Bảng 3.20. Đề xuất giải pháp nâng cao, bổ sung cơ sở vật chất ...............................73
vẫn còn nhiều bất cập và chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu.
Theo số liệu của Bộ Y tế, có khoảng 1.254 bệnh viện các tuyến với tổng lƣợng
chất thải rắn phát sinh là khoảng 450 tấn/ngày (trong đó có 47 tấn là chất thải rắn
nguy hại). Tổng lƣợng nƣớc thải y tế phát sinh cần xử lý khoảng 125.000 m3/ ngày
[6]. Việt Nam đang trong quá trình phát triển đô thị hóa, hiện đại hóa. Sự phát triển
kinh tế của xã hội làm gia tăng nhu cầu khám chữa bệnh đồng thời lƣợng chất thải
phát sinh cũng ngày càng tăng lên.Tình trạng quá tải trong các bệnh viện thƣờng
xuyên diễn ra, đặc biệt là các bệnh viện tuyến trung ƣơng và tuyến tỉnh. Trong khi
đó, công tác quản lý chất thải rắn nguy hại và xử lý nƣớc thải y tế của các bệnh viện
còn chƣa hiệu quả do một số nguyên nhân nhƣ thiếu kinh phí chi thƣờng xuyên và
năng lực vận hành hệ thống xử lý chất thải chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu.
Hệ thống thu gom và xử lý chất thải vốn đƣợc thiết kế theo số giƣờng bệnh
nhƣng bên cạnh lƣợng chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn còn một
lƣợng lớn từ các hoạt động thăm nuôi của ngƣời nhà bệnh nhân và các hoạt động
dịch vụ khác trong bệnh viện. Chính vì vậy, hệ thống quản lý, xử lý chất thải y tế
của các bệnh viện luôn bị quá tải, chất lƣợng và hiệu quả xử lý chất thải cũng bị hạn
chế dẫn tới nguy cơ phát tán các yếu tố nguy hại ra môi trƣờng.
Bệnh viện đa khoa Hà Đông là cơ sở điều trị tuyến cuối của Hà Tây cũ nay
thuộc Bệnh viện Đa khoa tuyến thành phố của Hà Nội với quy mô 570 giƣờng bệnh
với số lƣợng bệnh nhân khám bệnh trung bình 500-600 ca mỗi ngày. Hiện nay bệnh
viện thƣờng xuyên trong tình trạng quá tải giƣờng bệnh. Đây là bệnh viện nằm ở
nơi tập trung đông dân cƣ nên việc quản lý và xử lý chất thải y tế không đạt yêu cầu
sẽ có nguy cơ ảnh hƣởng rất lớn tới sức khỏe và môi trƣờng sống của cộng đồng
dân cƣ lân cận. Để đảm bảo đúng các quy định của pháp luật trong lĩnh vực môi
1
trƣờng, việc quản lý, xử lý chất thải cần tiến hành thƣờng xuyên liên tục. Tuy nhiên
trong 7 năm qua từ khi hệ thống xử lý nƣớc thải đƣợc đƣa vào sử dụng tại bệnh viện
Tổng lƣợng
CTRYT nguy hại
CTRYT(kg/GB)
(kg/GB)
Bệnh viện trung ƣơng
4,1 - 8,7
0,4 - 1,6
Bệnh viện tỉnh
2,1 - 4,2
0,2 - 1,1
Bệnh viện huyện
0,5 - 1,8
0,1 - 0,4
Tuyến bệnh viện
Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (1992), ở các nƣớc đang phát triển
có thể phân loại CTYT thành các loại sau: Chất thải không độc hại (chất thải sinh
Cơ sở y
nhân
tế ngành
133
78
Cộng
1
Khám chữa bệnh
34
376
740
2
Dự phòng
23
356
11.104
Tổng cộng
1.361
13.511
Tính chung cả nƣớc, lƣợng chất thải từ các loại hoạt động dịch vụ chăm sóc
sức khoẻ, dịch vụ y tế phát thải hàng ngày đạt 252 tấn, trong đó có 50 tấn là chất
thải rắn y tế nguy hại. Hai thành phố có tải lƣợng lớn nhất là TP Hồ Chí Minh: 31,3
tấn CTRYT chung và 6,2 tấn CTRYT nguy hại. Tiếp đến là TP Hà Nội : 26,5 tấn
CTRYT chung và 5,3 tấn CTRYT nguy hại.
Theo kết quả khảo sát của Vụ Điều trị - Bộ Y tế tại 24 bệnh viện năm 1998,
cho thấy tỷ lệ phát sinh chất thải rắn y tế theo từng tuyến, loại bệnh viện, cơ sở y tế
rất khác nhau. Trong cùng một bệnh viện, các khoa khác nhau sẽ có lƣợng chất thải
rắn y tế phát sinh khác nhau, trong một bệnh viện đa khoa, khoa hồi sức cấp cứu,
khoa sản, khoa ngoại có lƣợng CTRYT phát sinh lớn nhất.
4
Bảng 1.3. Chất thải rắn y tế phát sinh theo giƣờng bệnh tại Việt Nam [11]
Tổng lƣợng
Tuyến bệnh viện
Đơn vị
Bệnh viện trung ƣơng
CTRYT
CTRYT nguy hại
Theo quy chế quản lý CTYT đƣợc Bộ Y tế quy định tại Quyết định
43/2007/QĐ-BYT ban hành ngày 30/11/2007, chất thải trong các cơ sở y tế đƣợc
chia thành 5 loại căn cứ vào các đặc điểm lý học, hóa học, sinh học và tính chất
nguy hại:
a) Chất thải lây nhiễm:
-
Chất thải sắc nhọn (loại A): Là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc
chọc thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn
của dây truyền, lƣỡi dao mổ, đinh mổ, cƣa, các ống tiêm, mảnh thủy tinh
vỡ và các vật sắc nhọn khác sử dụng trong các loại hoạt động y tế.
-
Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B): Là chất thải bị thấm máu,
thấm dịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh
cách ly.
-
Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): Là chất thải phát sinh trong
các phòng xét nghiệm nhƣ: bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm.
-
các hoạt động chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu và sản xuất.
d) Bình chứa áp suất:
Bao gồm bình đựng oxy, CO2, bình ga, bình khí dung. Các bình này dễ gây
cháy, gây nổ khi thiêu đốt.
e) Chất thải thông thƣờng:
Chất thải thông thƣờng là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa học
nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm:
-
Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách
ly).
-
Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế nhƣ các chai lọ thủy
tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gẫy xƣơng
kín. Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hóa
học nguy hại.
-
Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật liệu
đóng gói, thùng các tông, túi nilon, túi đựng phim.
-
Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh.
6
Nƣớc giặt giũ quần áo, ga, chăn, màn…cho bệnh nhân.
-
Nƣớc từ các công trình phụ trợ khác nhƣ nƣớc từ khu vực rửa xe, nƣớc
làm mát từ điều hòa không khí, máy phát điện dự phòng…
Nƣớc thải bệnh viện là một nguồn thải gây nguy hại nghiêm trọng cho môi
trƣờng, ảnh hƣởng đến con ngƣời vì khả năng lan rộng trong môi trƣờng, mức độ
nhiễm khuẩn cao, khả năng tồn tại lâu và nhân lên của vi khuẩn gây bệnh trong điều
kiện giàu chất hữu cơ ở nƣớc thải và nƣớc bề mặt. Nƣớc thải bệnh viện có thể mang
các mầm bệnh: tả, thƣơng hàn, lỵ, lỵ amip, leptospyros, bệnh vàng da nhiễm trùng,
viêm gan siêu vi trùng, giun sán, nấm mốc, bại liệt…
7
1.2.2. Đặc tính nƣớc thải bệnh viện
Theo kết quả phân tích của các cơ quan chức năng, 80% nƣớc thải từ bệnh
viện là nƣớc thải bình thƣờng (tƣơng tự nƣớc thải sinh hoạt) chỉ có 20% là những
chất thải nguy hại, những chất bẩn khoáng và hữu cơ đặc thù bao gồm chất thải
nhiễm khuẩn từ các bệnh nhân, hóa chất phát sinh từ trong quá trình giải phẫu, các
chế phẩm thuốc, các chất khử trùng, các đồng vị phóng xạ đƣợc sử dụng trong
quá trình chẩn đoán và điều trị bệnh. Những nghiên cứu mới nhất cho thấy sự có
mặt của một vài chất trong số chúng dẫn đến việc giảm hiệu quả làm sạch nƣớc thải
trên các công trình xử lý. Ví dụ, ngƣời ta quan sát thấy việc giảm hiệu quả xử lý
nƣớc thải bệnh viện bằng lọc sinh học nhỏ giọt khi trong nƣớc thải chứa chất
kháng sinh (steptomisin) ở nồng độ 0,7 – 1 mg/L mà thực tế trong những trƣờng
hợp riêng biệt nồng độ steptomisin có thể lên đến 12 mg/L. Nhƣ vậy, hiệu quả xử lý
nƣớc thải giảm đáng kể theo các chỉ tiêu hóa học đặc biệt là theo các chỉ tiêu vi
bệnh tả, thƣơng hàn, phó thƣơng hàn, khuẩn Salmonella, lỵ, bệnh do amip, bệnh do
Lamblia, Leptoxpira, Brucella, bệnh Tulare, bệnh than, lao, giun sán, viêm gan lây,
bệnh nhiễm virut ruột và một vài bệnh khác.
Nghiên cứu thành phần nƣớc thải một số bệnh viện ở Xanh Petecbua (Nga)
cho thấy nồng độ dao động trong các giới hạn sau: COD 102 – 141 mg/L, SS
180 – 343 mg/L, amoni 23 – 63,1 mg/L, chỉ số coli 55×107.
Theo nghiên cứu của Ngô Kim Chi, nƣớc thải bệnh viện có các đặc trƣng
sau: BOD: 180-280mg/L, COD: 250-500 mg/L, SS: 150 - 300mg/L, H2S: 6-8mg/L,
T-N: 50-90 mg/L, T-P: 3-12 mg/L, Coliform: 106-109 MPN/100ml [8].
Nguyễn Xuân Nguyên đƣa ra thành phần ô nhiễm nƣớc thải nhƣ sau:
Bảng 1.4. Các thông số ô nhiễm trong nƣớc thải bệnh viện
Giá trị
Giá trị
Giá trị
Chỉ tiêu
Đơn vị
thấp nhất cao nhất trung bình
STT
1
pH
-
6,2
8,1
7,4
140
300
200
9
5
Chất rắn lơ lửng (SS)
6
Coliform
mg/L
100
220
160
MPN/100mL
106
10
giặt là; công nhân trong cơ sở xử lý và tiêu hủy chất thải (nhƣ bãi rác hoặc lò đốt),
bao gồm cả những ngƣời nhặt rác.
Những chất thải từ các bệnh viện đƣợc công nhận là một vấn đề nghiêm trọng,
có thể có ảnh hƣởng bất lợi tới môi trƣờng hoặc đối với con ngƣời thông qua tiếp
xúc trực tiếp hoặc gián tiếp. Việc phơi nhiễm với các chất thải y tế độc hại có thể
dẫn tới những sự lây nhiễm bệnh tật [27]. Các bệnh nhƣ thƣơng hàn, tả, hội chứng
suy giảm miễn dịch (AIDS) và viêm gan siêu vi B có thể lây truyền thông qua việc
quản lý yếu kém của chất thải y tế nguy hại [22]. Năm 2000, WHO đã ƣớc chừng có
khoảng 23 triệu ngƣời đã bị phơi nhiễm với viêm gan virus B, C và HIV trên toàn
cầu do lây nhiễm qua những bơm kim tiêm tại các cơ sở y tế [20]. Những ảnh
hƣởng môi trƣờng khác cũng có thể tìm thấy từ việc quản lý kém chất thải y tế đó là
vấn đề ô nhiễm mùi, sự phát sinh ruồi, gián, sâu bọ, các động vật gặm nhấm và
nguy hiểm hơn là sự ô nhiễm nguồn nƣớc ngầm và sự phát triển của các loài sinh
vật trong tự nhiên do việc chôn lấp chất thải y tế không đúng quy chuẩn [23, 24].
1.3.1.1. Nguy cơ của chất thải lây nhiễm
Vi sinh vật gây bệnh trong chất thải lây nhiễm có thể xâm nhập vào cơ thể
thông qua nhiều đƣờng: qua vết thƣơng, vết cắt trên da, qua niêm mạc, qua đƣờng
hô hấp, qua đƣờng tiêu hóa. Sự xuất hiện của các loại vi khuẩn kháng sinh và kháng
hóa chất khử trùng có thể liên quan đến thực trạng của các loại vi khuẩn kháng sinh
và kháng hóa chất khử trùng có thể liên quan đến thực trạng quản lý chất thải y tế
không an toàn. Vật sắc nhọn không chỉ gây ra vết thƣơng trên da mà còn gây nhiễm
trùng vết thƣờng nếu chúng bị nhiễm bẩn. Thƣơng tích do vật sắc nhọn là tai nạn
thƣờng gặp nhất trong cơ sở y tế. Một khảo sát của Viện Y học lao động và môi
trƣờng năm 2006 cho thấy 35% số nhân viên y tế bị thƣơng tích do vật sắc nhọn có
khả năng lây truyền các bệnh nhiễm trùng nguy hiểm nhƣ HIV, HBV và HCV.
Khoảng 80% nhiễm trùng HIV, HBV, HCV nghề nghiệp là thƣơng tích do vật sắc
nhọn và kim tiêm. Việc tái chế hoặc xử lý không an toàn chất thải lây nhiễm, bao
viện. Chúng có thể chứa các vi sinh vật gây bệnh. Chúng có thể chứa kim loại nặng,
phần lớn là thủy ngân từ nhiệt kế và bạc từ quá trình tráng rửa phim X quang. Một
số dƣợc phẩm nhất định, nếu xả thải mà không xử lý có thể gây nhiễm độc nguồn
nƣớc cấp. Bên cạnh đó, việc xả thải bừa bãi chất thải lâm sàng, ví dụ xả chung chất
12
thải lây nhiễm vào chất thải thông thƣờng, có thể tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm
nguồn nƣớc [26].
1.3.2.2. Nguy cơ đối với môi trường đất và không khí
Nguy cơ đối với môi trƣờng đất: việc tiêu hủy không an toàn chất thải nguy
hại nhƣ tro lò đốt hay bùn của hệ thống xử lý nƣớc thải, các chất gây ô nhiễm từ bãi
rác có khả năng rò thoát ra, gây ô nhiễm đất và nguồn nƣớc và cuối cùng là tác động
tới sức khỏe cộng đồng trong dài hạn [26].
Nguy cơ đối với môi trƣờng không khí: ô nhiễm không khí tăng lên khi phần
lớn chất thải nguy hại đƣợc thiêu đốt trong điều kiện không lý tƣởng. Việc thiêu đốt
không đủ nhiệt độ trong khi rác thải đƣa vào quá nhiều sẽ gây ra nhiều khói đen.
Việc đốt chất thải y tế đựng trong túi nilon PE, nhựa PVC, cùng với các loại dƣợc
phẩm nhất định, có thể tạo ra khí axit CO2, thƣờng là HCl và SO2. Trong quá trình
đốt các dẫn xuất halogen (chứa F; Cl; Br; I) ở nhiệt độ thấp, thƣờng tạo ra axit, nhƣ
clohidric (HCl). Điều đó dẫn đến nguy cơ tạo thành dioxin, một loại hóa chất vô
cùng độc hại, ngay cả ở nồng độ thấp. Các kim loại nặng, nhƣ thủy ngân, có thể thải
theo khí lò đốt. Những nguy cơ môi trƣờng này có thể tác động tới hệ sinh thái và
sức khỏe con ngƣời trong dài hạn [26].
1.4. Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế và một số phƣơng pháp xử lý nƣớc
thải y tế hiện nay
1.4.1. Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế trên thế giới và tại Việt Nam
1.4.1.1. Thực trạng và một số nghiên cứu quản lý chất thải rắn trên thế giới
Tại khu vực châu Á, vấn đề quản lý chất thải y tế đang nhân đƣợc nhiều sự
kg/giƣờng (trung bình là 0,68 kg/giƣờng). Việc phân loại các loại chất thải y tế
đƣợc thực hiện tại 73% các cơ sở y tế nhƣng có khoảng 20% số bệnh viện tại thành
phố vẫn sử dụng nhân công không phù hợp cho việc phân loại chất thải y tế; 93,3%
bệnh viện có nơi lƣu trữ tạm thời chất thải y tế tuy nhiễn việc tập huấn và giáo dục
cho các cán bộ y tế có nhiệm vụ trong công tác quản lý chất thải y tế chƣa có,
khoảng 20% trong số các bệnh viện [30]. Một nghiên cứu khác năm 2009 tại thành
phố Damanhour (Hy Lạp) (với 8 bệnh viện đƣợc lựa chọn tƣơng ứng 4733 giƣờng
bệnh) đã chỉ ra tổng lƣợng chất thải y tế vào khoảng 1.249 kg/ngày, trong đó lƣợng
rác thải theo giƣờng bệnh/ngày vào khoảng 0,23-0,27 kg, trung bình là 0,85 kg, con
14
số này nhỏ hơn so với mức độ phát sinh chất thải y tế mà WHO dự đoán cho các
nƣớc thuộc khu vực Địa Trung Hải (1,3-3 kg/ngày/giƣờng) [27]. Phân loại chất thải
y tế theo hƣớng dẫn của WHO [26] thì 61,1% chất thải trong các bệnh viện đƣợc
nghiên cứu tại Damanhour là chất thải thông thƣờng, chỉ có 38,9% là các chất thải y
tế nguy hại từ các hoạt động khám chữa bệnh của các bệnh viện [30]. Một nghiên
cứu khác về chât thải y tế tại Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ năm 2008 lại cho những kết quả
rất khác về công tác quản lý chất thải y tế. Đất nƣớc Thổ Nhĩ Kỳ, một đất nƣớc phát
triển trong khối Châu Âu đã rất sớm có hẳn một đạo luật về quản lý chất thải y tế từ
năm 1993, tuy nhiên khi tham gia vào khối liên minh Châu Âu ngay trong luật pháp
của quốc gia mình. Việc áp dụng đạo luật chung này cũng đƣợc áp dụng với toàn bộ
các quốc gia trong khối này và có tác động tới vấn đề quản lý chất thải y tế. Nghiên
cứu chất thải đƣợc điều tra tại 192 bệnh viện tại Istanbul và cho thấy mức độ phát
sinh chất thải y tế từ các bệnh viện đƣợc nghiên cứu là khoảng 22 tấn/ngày, trung
bình là 0,63 kg/ngày/giƣờng. Mức độ phát sinh chất thải này đứng ở mức khiêm tốn
so với nhiều quốc gia khác nhƣ tại Bangladesh (0,8-1,6 kg/ngày/giƣờng), Malaysia
(1,9 kg/ngày/giƣờng) hay Việt Nam (2,27 kg/ngày/giƣờng – chỉ trên địa bàn thành
phố Hà Nội) [27]. Việc phân loại chất thải y tế tại các bệnh viện này đạt 100% tuy
Dioxin, Furan hoặc những chất khó phân hủy khác và rất khó kiểm soát đƣợc những
công nghệ đốt này [5]. Bên cạnh đó, thực trạng tại tuyến y tế cấp tỉnh, phần lớn chất
thải y tế đƣợc thuê xử lý (rủi ro, nguy cơ ô gây ô nhiễm môi trƣờng cao, khó kiểm
soát chất lƣợng); còn đối với tuyến huyện, thị xã thì chất thải rắn đƣợc xử lý hết sức
đa dạng với nhiều loại hình khác nhau và rất khó kiểm soát.
Thực trạng phân loại chất thải rắn y tế tại bệnh viện
Đa số (81,25%) bệnh viện đã thực hiện phân loại chất thải ngay tại nguồn phát
sinh nhƣng việc phân loại còn phiến diện và kém hiệu quả. Hoạt động phân loại còn
tồn tại một số vấn đề nhƣ: chƣa tách vật sắc nhọn ra khỏi chất thải y tế, còn để lẫn
nhiều chất thải y tế thông thƣờng vào chất thải y tế nguy hại và ngƣợc lại. Hệ thống
kí hiệu, màu sắc, mã vạch của túi, thùng đựng chất thải chƣa đầy đủ và thống nhất.
16