Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Nhiệm vụ BVMT luôn được Đảng và Nhà nước ta coi trọng.
Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội từ năm 2011 – 2020 (Tại Đại
hội Đảng XXI năm 2011) đã đề ra mục tiêu đó là phát triển mạnh sự
nghiệp y tế, nâng cao chất lượng công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân.
Tập trung phát triển hệ thống chăm sóc sức khỏe và nâng cao chất
lượng dịch vụ y tế. Nhà nước tiếp tục tăng đầu tư đồng thời đẩy mạnh
xã hội hóa để phát triển nhanh hệ thống y tế.
Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, hệ thống y tế đặc biệt là các
bệnh viện đã thải ra môi trường một lượng lớn các chất thải nguy hại.
Chất thải y tế nguy hại chủ yếu là chất thải nhiễm khuẩn, chất gây cháy
nổ, ăn mòn, chất thải độc hại như chất phóng xạ, chất gây độc tế bào, độc
sinh thái, các hóa chất độc hại phát sinh trong quá trình chuẩn đoán và
điều trị bệnh, đó là những yếu tố nguy cơ làm ô nhiễm môi trường, lan
truyền mầm bệnh từ bệnh viện tới các vùng xung quanh. Vì vậy cần phải
quản lý chất thải nguy hại (CTNH) phát sinh từ cơ sở y tế một cách an
toàn và thích hợp.
Trước nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của người dân và
thực trạng ô nhiễm môi trường do rác thải y tế gây ra ngày càng bức xúc
Page 1 of 106
1
thì việc trang bị cho các bệnh viện, trạm y tế các trang thiết bị để thu
gom, xử lý rác thải y tế và các kĩ năng, kiến thức về quản lý CTNH nói
chung, chất thải y tế nói riêng là nhu cầu cấp bách hiện nay ở tất cả các
bệnh viện, cơ sở y tế.
Đại Từ là một huyện trung du miền núi của tỉnh Thái Nguyên. Tại
các xã trong huyện đều có trạm y tế nhưng chỉ có một bệnh viện đó là
bệnh viện Đa khoa nằm ở trung tâm huyện để chăm sóc sức khỏe cho
người dân. Số lượng người dân cần đến bệnh viện ngày càng tăng, cùng
- Rèn luyện về kỹ năng tổng hợp và phân tích số liệu, tiếp thu và
học hỏi những kinh nghiệm từ thực tế.
- Nâng cao kiến thức kỹ năng và rút ra những kinh nghiệm thực tế
phục vụ cho công tác sau này.
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn
Page 3 of 106
3
- Đánh giá được hiện trạng quản lý rác thải y tế nguy hại tại bệnh
viện huyện Đại Từ có những khó khăn, hạn chế gì.
- Có những biện pháp đề xuất hiệu quả, khả thi trong công tác quản
lý rác thải y tế của bệnh viện.
- Góp phần chung vào công tác bảo vệ môi trường của đất nước.
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Một số khái niệm và thành phần chất thải y tế
2.1.1. Một số khái niệm
- Chất thải y tế là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí được thải ra từ các
cơ sở y tế bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường [6].
- Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố nguy hại cho
sức khỏe con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng
xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những
chất thải này không được tiêu hủy an toàn [6].
- Quản lý chất thải nguy hại là các hoạt động liên quan đến việc
phòng ngừa, giảm thiểu, phân định, phân loại, tái sử dụng trực tiếp, lưu
giữ tạm thời, vận chuyển và xử lý CTNH [14].
- Quản lý chất thải y tế là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý
ban đầu, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế,
xử lý, tiêu hủy chất thải y tế và kiểm tra, giám sát việc thực hiện [6].
Page 4 of 106
4
thủy tinh
2.3 Có
6 Kim tiêm, ống tiêm 0.9 Có
7 Giấy loại, catton 0.8 Không
8 Các bệnh phẩm sau mổ 0.6 Có
9
Đất, cát, sành sứ và các
chất rắn khác
20.9 Không
Tổng cộng 100
Tỷ lệ phần chất thải nguy hại 22.6
( Nguồn: Quản lý chất thải nguy hại- Nguyễn Đức Khiển )
Theo Nguyễn Đức Khiển, thành phần rác thải y tế gồm 09 loại cơ
bản như trên trong đó tỷ lệ CTNH chiếm 22,6%. Tuy chiếm ¼ thành phần
nhưng tính chất lại rất nguy hại với môi trường và sức khỏe con người
nếu không được thu gom, vận chuyển, xử lý theo quy định.
Theo kết quả điều tra trong dự án hợp tác giữa Bộ Y tế và tổ chức
WHO thành phần một số rác thải ở bệnh viện Việt Nam như sau:
Page 6 of 106
6
Bảng 2.2: Thành phần rác thải ở bệnh viện Việt Nam
STT Thành phần rác thải bệnh viện Tỷ lệ (%)
1 Giấy các loại 3.0
2 Kim loại, vỏ hộp 0.7
3
Thủy tinh, ống tiêm, chai lọ thuốc, bơm kim
tiêm nhựa
3.2
4 Bông băng, bột bó gãy chân 8.8
5 Chai, túi nhựa các loại 10.1
chất phóng xạ. Tại các cơ sở y tế, chất thải phóng xạ phát sinh từ các hoạt
động chuẩn đoán, hóa trị liệu và nghiên cứu. Chất thải phóng xạ gồm:
chất thải rắn, lỏng, khí.
- Chất thải phóng xạ rắn, gồm: các vật liệu sử dụng trong các
xét nghiệm, chuẩn đoán, điều trị, như : gạc sát khuẩn, ống nghiệm,
chai lọ đựng chất phóng xạ
- Chất thải phóng xạ lỏng, gồm: dung dịch có chứa nhân phóng xạ
phát sinh trong quá trình chuẩn đoán, điều trị như nước tiểu của người
bệnh, các chất bài tiết, nước xúc rửa các dụng cụ có chứa phóng xạ…
Page 8 of 106
8
- Chất thải phóng xạ khí, gồm: các chất khí lâm sàng như: 113Xe.
Các khí thoát ra từ các kho chứa chất phóng xạ…[10].
2.2.3. Chất thải hóa học
Chất thải hóa học bao gồm các chất thải rắn, lỏng, khí. Chất thải
trong cấc cơ sở y tế được phân thành hai loại: chất thải hóa học không
gây nguy hại như đường, axit béo, một số muối vô cơ, hữu cơ và chất
thải hóa học nguy hại bao gồm:
- Formaldehyde được sử dụng trong khoa giải phẫu , lọc máu,
ướp xác và dùng để bảo quản các mẫu xét nghiệm ở một số khoa khác.
- Các chất quang hóa có trong các dung dịch cố định và tráng
phim hydroquinone, Kalihydroxide, Bạc, Glutaraldehyde.
- Các dung môi:
Các thuốc mê bốc hơi: Halothane (Fluothane), Enflurane
(Ethrane), Isoflurane (Forane),
Các hợp chất không có Halogen: Xylene, Acetone, Isopropanol,
Toluene, Ethyl acetate, Acetonitrile, Benzene
.
- Oxyte ethylene: được sử dụng để tiệt khuẩn các thiêt bị y tế,
phòng phấu thuật nên được đóng thành bình và gắn với thiết bị tiệt khuẩn.
10
- Luật Bảo vệ môi trường ngày 29 tháng 11 năm 2005;
- Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 8 năm 2006 của
Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của
Luật Bảo vệ môi trường;
- Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 02 năm 2008 của
Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP
ngày 09 tháng 08 năm 2006 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường;
- Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14 tháng 04 năm 2011
của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về quản lý chất thải nguy hại;
- Quyết định số 256/2003/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt chiến lược bảo vệ môi trường Quốc gia đến năm 2010 và
định hướng đến năm 2020;
- Quyết định số 64/2003/QĐ- TTg ngày 22 tháng 04 năm 2003 của
Thủ tướng Chính phủ về “ Kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở y tế gây ô
nhiễm môi trường nghiêm trọng ”;
- Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30 tháng 11 năm 2007 của
Bộ Y tế về việc ban hành quy chế quản lý chất thải y tế;
- Quyết định số 2038/QĐ-TTg ngày 15 tháng 11 năm 2011 của
Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt đề án tổng thể xử lý chất thải y tế
giai đoạn 2011 đến 2015 và định hướng đến năm 2020;
Page 11 of 106
11
- Quyết định số 170/QĐ-TTg ngày 08 tháng 02 năm 2011 của
Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt quy hoạch tổng thể hệ thống xử lý
chất thải rắn y tế nguy hại đến năm 2025;
- Chỉ thị số 17/2008/CT- TTg ngày 05 tháng 06 năm 2008 của
Thủ tướng Chính phủ về “ Một số giải pháp cấp bách đẩy mạnh công
tác xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo
tổng hợp
3.9 4.4 3.3 3.35 5.24 4.2-6.5
BV đa
khoa
- - - 2.5 4.5 2.7
Sản khoa - 3.4 3.0 - - -
BV tâm
thần
- 1.6 0.5 - - 1.3
Lão khoa - 1.2 9.25 - - 1.7
(
Nguồn: WHO, 1997)
Như vậy có thể thấy rằng lượng rác thải y tế tại các bệnh viện rất
lớn, đặc biệt là bệnh viện đa khoa tổng hợp và sản khoa. Tại bệnh viện
tổng hợp ở lượng rác thải trung bình từ 3.3 đến 6.5 kg/giường/ngày.
Theo Tổ chức Y tế thế giới, có 18 - 64% cơ sở y tế chưa có biện
pháp xử lý chất thải đúng cách. Tại các cơ sở Y tế, 12,5% công nhân
xử lý chất thải bị tổn thương do kim đâm xảy ra trong quá trình xử lý
CTYT. Tổn thương này cũng là nguồn phơi nhiễm nghề nghiệp, với
Page 13 of 106
13
máu phổ biến nhất, chủ yếu là dùng hai tay tháo lắp kim và thu gom
tiêu huỷ vật sắc nhọn. Có khoảng 50% số bệnh viện trong diện điều tra
vận chuyển CTYT đi qua khu vực bệnh nhân và không đựng trong xe
thùng có nắp đậy [16].
2.4.2. Thực trạng công tác quản lý chất thải y tế tại Việt Nam
Theo thống kê năm 2011 của Cục Quản lý Môi trường Y tế - Bộ
Y tế, cả nước có hơn 1.000 bệnh viện, mỗi ngày phát sinh từ 350 - 500
tấn chất thải y tế, trong đó khoảng 45 tấn chất thải y tế nguy hại. Thế
nhưng, nhiều bệnh viện không có hệ thống lò đốt chuyên dụng. Vì thế,
nhân, các chất thải từ quá trình lau cọ sàn
nhà…
Chất thải đặc biệt
Các loại chất thải độc hại hơn các loại trên,
các chất phóng xạ, hóa chất dược…
( Nguồn: Bộ Y tế, 2010 )
Page 15 of 106
15
Bảng 2.5: Nguồn gốc phát sinh chất thải tại bệnh viện
STT Nguồn phát sinh Loại chất thải phát sinh
1 Buồng tiêm
Chất thải hóa học, bình áp suất, chất
thải sinh hoạt
2 Phòng mổ
Chất thải lâm sàng, chất thải hóa
học, chất thải sinh hoạt
3 Phòng xét nghiệm Xquang
Chất thải phóng xạ, chất thải hóa
học,bình áp suất, chất thải sinh hoạt
4 Phòng cấp cứu
Chất thải lâm sàng, chất thải phóng
xạ
5 Phòng bệnh nhân không lây lan Chất thải sinh hoạt
6 Phòng bệnh nhân truyền nhiễm
Chất thải phóng xạ,bình áp suất,
chất thải sinh hoạt
7 Khu bào chế dược
Chất thải lâm sàng, chất thải phóng
xạ, chất thải sinh hoạt
8 Khu vực hành chính Chất thải sinh hoạt
cấp cứu
Nội 0.64 0.47 0.45 0.04 0.03 0.02
Nhi 0.50 0.41 0.45 0.04 0.05 0.02
Ngoại 1.01 0.87 0.73 0.26 0.21 0.17
Sản 0.82 0.95 0.74 0.21 0.22 0.17
Mắt/Tai
Mũi Họng
0.66 0.68 0.34 0.12 0.10 0.08
Cận lâm
sàng
0.11 0.10 0.08 0.03 0.03 0.03
( Nguồn: Bộ Y tế - Quy hoạch quản lý chất thải y tế, 2009 )
Bảng 2.7: Lượng chất thải phát sinh tại các khoa trong bệnh viện
Loại bệnh viện Năm 2005 Năm 2010
BV Đa khoa TW 0.35 0.42
BV chuyên khoa TW 0.23- 0.29 0.28- 0.35
BV Đa khoa tỉnh 0.29 0.35
BV Chuyên khoa
tỉnh
0.17- 0.29 0.21- 0.35
BV huyện, ngành 0.17- 0.22 0.21- 0.28
( Nguồn: Bộ Y tế, 2010 )
Lượng chất thải phát sinh tại các bệnh viện có xu hướng ngày
càng tăng lên qua các năm. Theo Cục Quản lý Môi trường Y tế, hiện
mới có khoảng 44% bệnh viện có hệ thống xử lý chất thải y tế nhưng
nhiều nơi đã rơi vào tình trạng xuống cấp nghiêm trọng. Ngay ở các
bệnh viện tuyến T.Ư vẫn còn tới 25% cơ sở chưa có hệ thống xử lý chất
thải y tế; bệnh viện tuyến tỉnh gần 50% và tuyến huyện tới trên 60%.
PGS.TS Nguyễn Huy Nga, Cục trưởng Cục Quản lý Môi trường Y tế dự
báo, năm 2015, con số này sẽ trên 700 tấn/ngày và hơn 800tấn/ngày vào
Chất thải sinh hoạt (vỏ bánh, lá cây,
hoa quả thừa…)
26.8- 40
Giấy bao gói các loại 3.0- 9.84
Kim tiêm, các vật sắc nhọn… 1.3- 2.29
Bông băng dính máu mủ 4.58- 18.1
Bệnh phẩm 1.31- 13.8
Các đồ vật bằng nhựa 22.63- 3.2
Các đồ vật bằng kim loại 0.64- 1.4
Thủy tinh vỡ, chai lọ… 1.8- 2.63
Thuốc hết hạn sử dụng 0.1- 1.6
Các chất khác 11.5- 26
Thành phần phân tích
Tỷ trọng chất thải nguy hại (tấn/m
3
) 0.12- 0.16
Độ ẩm của chất thải nguy hại (%) 38.2- 40.5
Độ tro của chất thải nguy hại (%) 12.5- 15.6
Nhiệt trị (Kcal/kg) 2400- 3200
( Nguồn: Nguyễn Thị Kim Thái, 2007)
Nhiều chuyên gia bảo vệ môi trường đã khuyến cáo, nếu chất thải
y tế không được quản lý, xử lý đúng quy trình sẽ gây ra nguy cơ đối với
môi trường và sức khỏe cộng đồng.
Tại Hà Nội, nơi tập trung nhiều bệnh viện lớn, mạng lưới cơ sở y
tế dày đặc, công tác môi trường y tế còn nhiều tồn tại. Đa số các cơ sở
chưa có hệ thống xử lý chất thải. Một số cơ sở có trạm xử lý nhưng
công suất nhỏ chưa đạt yêu cầu. Nhiều cơ sở y tế đi vào hoạt động
Page 19 of 106
19
không đăng ký kiểm tra môi trường lao động, không đăng ký thu gom
chiếu xạ vượt 2,5 lần giới hạn cho phép [13].
Đó là chưa kể chất bài tiết của những người vừa chụp X-quang
cũng gây hại lớn với những người xung quanh nếu không được kiểm soát
chặt chẽ. Chỉ một số ít bệnh viện có hệ thống kiểm soát nguồn phóng xạ
hiện đại như Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện K, Bệnh viện Trung ương
Huế, Bệnh viện Đa khoa Phú Thọ (TP Hồ Chí Minh) v.v… còn hầu hết
chưa có. Mà theo các chuyên gia y tế, tác hại của nhiễm phóng xạ là lâu
dài với các hậu quả như có thể ngừng hoạt động tủy xương, tiêu chảy, sụt
cân, nhiễm độc máu, vô sinh, ung thư vv…[13]
Để cho việc quản lý chất thải được tốt thì việc phân luồng chất thải
trong bệnh viện trước khi đem đi xử lý là rất cần thiết.
Page 21 of 106
21
Page 22 of 106
22
Chất thải sinh hoạt
Thu gom
tại chỗ
Lưu giữ tạm thời
Vận chuyển tới khu xử
lý của thành phố
Chất thải lây
nhiễm
Kim tiêm
Vận chuyển tới
khu xử lý chất
thải nguy hại
Lưu giữ tạm thời
Chất thải phóng
xạ, hóa học và
- Các cơ sở tuyến tỉnh: phân loại, thu gom theo quy định của bộ y
tế. CTR sinh hoạt đựng trong túi nilon màu xanh, CTR sinh hoạt y tế
đựng trong túi nilon màu vàng, CTR sinh hoạt y tế nguy hại đựng trong
túi nilon màu vàng, đen.
+ Đối với CTR sinh hoạt các cơ sở y tế đều tự thu gom và thuê
công ty CP Môi trường và Công trình đô thị Thái Nguyên vận chuyển
hàng ngày và xử lý tại bãi chôn lấp của thành phố.
+ Rác có thể tái chế như chai lọ, giấy, nhựa… đều do các nhân viên
của bệnh viện tự thu gom để bán cho các cơ sở tái chế.
+ Đối với CTR y tế nguy hại: có 03 bệnh viện được trang bị lò đốt
để xử lý tại chỗ là bệnh viện C, bệnh viện Lao và bệnh phổi, Bệnh viện
Gang thép. Các bệnh viện còn lại đều thuê Công ty CP Môi trường và
Công trình Đô thị Thái Nguyên vận chuyển và xử lý tại lò đốt rác y tế của
thành phố.
- Cơ sở y tế tuyến huyện: Các cơ sở y tế tuyến huyện đều đã thực
hiện phân loại rác thành 04 loại theo quy định của Bộ Y tế và thu gom
riêng của Bộ Y tế. Ngoài bệnh viện Đa khoa Phổ Yên đã được trang bị lò
đốt chất thải nguy hại, 08 đơn vị cấp huyện còn lại đều xử lý CTR nguy
hại ngay trong khuôn viên của bệnh viện bằng phương pháp đốt thủ công
hoặc chôn lấp [11].
2.4.3.2. Hiện trạng về trang thiết bị thu gom, vận chuyển CTR y tế
Page 24 of 106
24
Bệnh viện tuyến tỉnh: 05/12 bệnh viện có xe thu gom rác là Bệnh
viện A, Bệnh viện C, Bệnh viện Đa khoa TW Thái Nguyên, Bệnh viện
tâm thần, Bệnh viện y học cổ truyền. Số còn lại đều chưa có xe thu gom
rác.
Các bệnh viện đã thực hiện phân loại chất thải rắn sinh hoạt và chủ động
đầu tư thiết bị lưu chứa riêng từng loại rác như thùng chứa, túi nilon khác
màu, xô, hộp đựng vật sắc nhọn…nhưng còn rất thiếu so với nhu cầu.