ứng dụng phương pháp thủy canh tĩnh trong nhân giống tiêu vĩnh linh ( piper nigrum) tại tỉnh đắc lắc - Pdf 14


LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC BUÔN MA THUỘT, NĂM 2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
LÊ THỊ THU SA

ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP THỦY CANH
TĨNH TRONG NHÂN GIỐNG TIÊU VĨNH LINH
(PIPER NIGRUM) TẠI TỈNH ĐẮK LẮK

Chuyên ngành: SINH HỌC THỰC NHIỆM

vùng sinh thái của nước ta từ các tỉnh Bắc Trung bộ trở vào nam như ở vùng ñồi
núi ñất ñỏ miền Trung (tỉnh Quảng Trị), vùng Đông Nam bộ, các tỉnh Tây
Nguyên và Duyên hải Nam Trung bộ. Tây Nguyên là vùng có nhiều tiềm năng
về ñất ñai, khí hậu ñể mở rộng diện tích trồng tiêu. Đồng thời Tây Nguyên có
diện tích trồng tiêu ñứng thứ hai cả nước sau vùng Đông Nam bộ.
Những năm gần ñây cây hồ tiêu ở nước ta phát triển với qui mô lớn do giá trị
của cây tiêu trên thị trường khá ổn ñịnh ñã thúc ñẩy phát triển trồng tiêu ở nhiều ñịa
phương. Mặc dù vậy, phần lớn các hộ vẫn còn nhiều hạn chế trong vấn ñề canh tác
như: chuẩn bị ñất không tốt, hom giống thiếu chọn lọc, ñầu tư phân bón và thuốc trừ
sâu không hợp lý dẫn ñến vườn tiêu chết hàng loạt hoặc vườn tiêu xanh tốt nhưng
năng suất không cao. Ở Việt Nam, trước ñây cây tiêu chưa ñược chú trọng nhiều,
các nhà khoa học trong nước chủ yếu quan tâm ñến kỹ thuật canh tác và sơ chế
nguyên liệu, do ñó các kết quả nghiên cứu về nhân giống cây hồ tiêu còn khá khiêm
tốn.
Cũng như các loại cây trồng lâu năm khác, giống ñóng vai trò cực kỳ quan
trọng vì giống mang tính quyết ñịnh ñến hiệu quả ñầu tư suốt cả chu kỳ dài 20 -
2
30 năm. Tiêu là cây nhân giống chủ yếu bằng con ñường vô tính nên việc chọn
tạo ra các giống mới gặp nhiều hạn chế hơn các cây trồng khác ñược nhân giống
bằng hạt. Ở nước ta, cây tiêu ñược nhân giống vô tính qua nhiều năm mà không
chú ý ñến việc chọn lọc, phục tráng giống nên ñã làm tăng nguy cơ sớm già cỗi ở
các vườn tiêu mới trồng và lây lan một số các bệnh nguy hiểm, làm giảm năng
suất và hiệu quả kinh tế của cây tiêu. Chính vì vậy mà việc chọn ñược giống tiêu
tốt ñể nhân trồng là yếu tố hàng ñầu quyết ñịnh việc phát triển sản xuất tiêu. Để
tìm ñược thêm các biện pháp nhân giống phù hợp, phục vụ cho công tác lai tạo,
chọn lọc giống chúng tôi thực hiện nghiên cứu ñề tài: “Ứng dụng phương pháp
thủy canh tĩnh trong nhân giống tiêu Vĩnh Linh (Piper nigrum) tại tỉnh Đắk
Lắk”.
2. Mục tiêu của ñề tài
Lựa chọn ñược môi trường, giá thể thích hợp nhất ñể nhân giống hồ tiêu

4
Chương I
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Một số ñặc ñiểm thực vật học của cây hồ tiêu
Vị trí phân loại:
Giới (Regnum): Plantae
Ngành: Magnoliophyta
Lớp Hai lá mầm Dicotyledonae
Bộ (Ordo): Piperales
Họ (Familia): Piperaceae
Chi (Genus): Piper
Loài (Species): Piper nigrum L.
Thân tiêu là loại thân thảo, mềm dẻo, có nhiều ñốt, trên các ñốt mang
nhiều rễ nên có thể leo bám ñược trên các cây, vật khác. Khi ở trên mặt ñất, các
ñốt thân hình thành rễ bám, khi vùi xuống ñất thì hình thành rễ chính nuôi cây.
Cây tiêu có thể leo cao trên 10m.
Cành tiêu có 3 loại cành: cành quả, cành lươn, cành thân

cành quả cũng ra rễ, cho trái rất sớm, tuy vậy cây phát triển chậm, không leo cao
trên trụ mà mọc thành bụi vì lóng ñốt không có rễ bám hoặc rất ít, cây mau cỗi,
năng suất thường thấp.Trong thực tế sản xuất không dùng cành ác ñể nhân giống
tiêu.
Lá tiêu thuộc loại lá ñơn, hình tim, mọc cách. Mặt trên lá bong láng và có
màu xanh ñậm, mặt dưới nhạt màu hơn. Cuống lá dài 2 – 3cm, lá có 5 gân hình
lông chim, phiến lá dài 10 – 25cm, rộng 5 – 10cm, kích thước của lá biến ñộng
tùy theo giống. Lá cũng là bộ phận ñể nhận diện giống [5].
Hoa tiêu nhỏ mọc thành từng chùm treo trên cành quả. Mỗi gié dài
khoảng 7 - 12cm, trung bình có 20 – 60 hoa xếp theo hình xoắn ốc. Hoa có màu
xanh nhạt hoặc vàng gồm có 3 cánh hoa, 2 – 4 nhị, bao phấn có 2 ngăn. Nhụy
gồm bầu noãn có một ngăn chứa một túi noãn.
Quả tiêu dạng hình cầu, nhỏ, ñường kính từ 4 – 8mm, tùy theo giống và
chăm sóc. Quả khi chín có màu ñỏ tía, trong quả chứa một hạt chiếm phần lớn
khối lượng của quả.

6


cành quả cấp 1 vươn ngang

Hình 1.
3
: Hoa và qu
ả ti
êu

7
Rễ tiêu có 4 loại rễ là rễ cọc, rễ cái rễ phụ và rễ bám:
- Rễ cọc chỉ có ở cây tiêu trồng bằng hạt, có thể ăn sâu tới trên 2m.
- Rễ cái phát triển từ cây tiêu trồng bằng hom, mỗi hom thường có từ 3 –
6 rễ cái. Sau một năm trồng rễ cái cũng có thể ăn sâu tới 2m.
- Rễ phụ (rễ con) mọc ra từ các rễ cái thành từng chùm mang nhiều lông
hút. Tập trung nhiều ở ñộ sâu 15 – 40cm và phân bố rộng trong phạm vi 1m
quanh gốc cây.
- Rễ bám là loại rễ khí sinh, mọc ra từ các ñốt trên thân và cành ñể bám
vào trụ [3].
1.2. Yêu cầu sinh thái của cây hồ tiêu
Theo Phan Quốc Sủng và Phan Hữu Trinh [10][13] cây tiêu có yêu cầu về
ñiều kiện sinh thái như sau:
1.2.1. Nhiệt ñộ
Tiêu là một loại cây ñặc trưng của vùng nhiệt ñới. Về mặt nhiệt ñộ, các tài
liệu cho thấy cây tiêu có thể trồng ñược ở khu vực vĩ tuyến 20
0
C Bắc và Nam,
nơi có nhiệt ñộ từ 10 - 35
0
C. Nhiệt ñộ thích hợp cho cây tiêu từ 18 - 27
0

tiêu rất kỵ mưa lớn làm ñọng nước ở rễ gây úng.
1.2.4. Gió
Cây tiêu ưa môi trường lặng gió, hoặc gió nhẹ. Gió nóng, gió lạnh, bão
ñều không hợp với cây tiêu. Do vậy khi trồng tiêu tại những vùng có gió lớn,
việc thiết lập các hệ ñai rừng chắn gió cho cây tiêu là ñiều không thể thiếu ñược.
1.2.5. Yêu cầu ñất ñai
Theo Phan Quốc Sủng (2000) và Sadanandan (2000) ñất thích hợp cho
cây tiêu cần có các ñặc tính:
- Lý tính: tầng ñất canh tác trên 80cm, có mực nước ngầm sâu trên 2m, tơi
xốp, có khả năng giữ nước tốt, thành phần cơ giới từ nhẹ ñến trung bình, dễ thoát
nước vào mùa mưa;
- Hoá tính: pH 5,5 - 6,5, tối thiểu 4,5 nhưng cần bón vôi ñể nâng lên trên
5, giàu N, K và Mg, khả năng trao ñổi cation ở mức 20 - 30 meq/100g ñất, tỉ lệ
C/N ở tầng ñất canh tác cao (15 - 25).
1.3. Các giống hồ tiêu trong nước
Theo Phan Hữu Trinh [13] các giống tiêu hiện trồng ñược chia làm hai
loại hình: tiêu lá lớn (Lampong hay kawur) và tiêu lá nhỏ (Muntok hay Banglea).
Hầu hết các giống tiêu ñịa phương trồng tại Việt Nam ñều là loại hình tiêu lá
nhỏ. Năng suất trung bình, lâu cỗi, thích ứng với ñiều kiện quang cảnh tại ñịa
phương. Đa số các giống tiêu ñịa phương trên ñều có khả năng chống chịu nhất
ñịnh với các yếu tố hạn chế tại ñịa phương như: hạn trong mùa khô, gió nóng, ít
9
ñược bồi dưỡng phân bón… Có các giống ñịa phương như: tiêu Quảng Trị, tiêu
Tiên Sơn, tiêu Di Linh, tiêu Đất Đỏ. Ngoài ra còn có các giống tiêu có nhiều
triển vọng phát triển như: Lada Belangtoeng, Sẻ Đất Đỏ, các giống tiêu
Campuchia.
Giống tiêu Lada Belangtoeng có nguồn gốc ở Indonesia ñược du nhập vào
Việt Nam năm 1947, giống này có ưu ñiểm: dễ trồng, chống bệnh thối rễ, leo
mau, dây lá xanh tốt, cho năng suất cao.
Giống Sẻ Đất Đỏ có phổ thích nghi rộng, giống này mau ra quả, gié quả

- Từ Indonesia: giống Lada Belangtoeng thuộc nhóm lá lớn, ñược ñánh
giá là giống trồng thích hợp ở Việt Nam, cho năng suất cao hơn giống Kampot,
Srecchea, Quảng Trị, Tiên Sơn (Pleiku) và Di Linh.
- Từ Ấn Độ: Panniyur là giống có năng suất cao, phẩm chất hạt tốt, cho
trái sớm nhưng Panniyur chỉ kháng ñược Phythophthora và tuyến trùng ở mức
ñộ trung bình.
- Từ Campuchia: gồm các giống Srecchea, Kamchay, Kep thuộc nhóm lá
nhỏ mang ñặc tính: năng suất cao, chống chịu tốt. Không kháng ñược nhóm nấm
Phythophthora gây bệnh thối gốc, rễ và tuyến trùng.
Ở Bình Phước hiện nay có các giống tiêu chủ yếu là tiêu Sẻ, tiêu Trâu,
tiêu Trung Lộc Ninh, tiêu Vĩnh Linh, tiêu Nam Vang lá lớn tiêu Ấn Độ. Trong
ñó các giống tiêu có năng suất cao là giống tiêu Vĩnh Linh, tiêu Nam Vang lá lớn
ñược trồng phổ biến hơn. Các giống tiêu có sức chịu ñựng tốt như tiêu Trâu, tiêu
Vĩnh Linh [4].
Các giống tiêu thích nghi tốt, ñược khuyến cáo trồng ở Tây Nguyên là
giống Vĩnh Linh, tiêu Trung và tiêu Sẻ. Tiêu Vĩnh Linh lá có màu xanh ñậm, khi
ñưa lên soi ánh nắng mặt trời thấy loang lổ màu vàng nhạt, ñây là ñặc ñiểm riêng
biệt ñể nhận diện giống. Tiêu Vĩnh Linh cho năng suất cao trong ñiều kiện thâm
canh, ít bị nhiễm bệnh chết nhanh và vàng lá chết chậm [9].

11


Hình 1.7: Lá và chùm quả giống tiêu Vĩnh Linh 12
1.4. Dinh dưỡng khoáng ñối với sinh trưởng và phát triển của cây hồ tiêu

Cây trồng cần dinh dưỡng ñể sinh trưởng, phát triển và cho năng suất. Cây
hút chất dinh dưỡng có sẵn trong ñất, ngoài ra cần phải ñược cung cấp thêm qua
phân bón ñể ñáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cây. Cây cần 3 yếu tố dinh dưỡng
chính là ñạm, lân, kali và một số các chất khác như canxi, ma nhê, lưu huỳnh,
kẽm, ñồng, man gan, bo v.v
1.4.1. Vai trò của ñạm ñối với cây hồ tiêu
Trong cây, ñạm tham gia vào các thành phần diệp lục cơ quan quang hợp của
cây, axit amin, protein, ancaloit và các hợp chất khác. Đạm có vai trò chủ yếu trong
việc kích thích sự tăng trưởng của cây tiêu, giúp cây ñâm nhiều chồi, nhánh, cành
quả, làm cho lá có màu xanh ñậm. Ngoài ra chất ñạm còn góp phần cho cây tiêu ra
nhiều hoa, tăng kích thước và ñộ chứa protein của trái tiêu.
Chất ñạm cần cho cây tiêu cả 2 giai ñoạn kiến thiết cơ bản (cây non) và kinh
doanh (cây trưởng thành cho thu hoạch). Nhu cầu ñạm của cây tiêu phân bố ñều
trong năm do vậy phải bón ñạm nhiều lần trong năm.
Hiện tượng thiếu ñạm trên cây tiêu thể hiện cây sinh trưởng chậm lại, ít ra
cành, chồi, lá trở nên xanh nhạt và vàng. Trước tiên các lá ở dưới thấp hóa vàng
nhạt nhưng lá ở tầng trên của trụ tiêu vẫn còn giữ ñược màu xanh tương ñối. Khi
cây bị thiếu ñạm nặng nề, toàn bộ lá của trụ tiêu có màu vàng tới màu vàng ñậm ñặc
trưng và ñầu ngọn lá bị khô chết. Lá rụng trong trường hợp cây bị ảnh hưởng thiếu
ñạm nghiêm trọng.
Tuy cây tiêu rất cần ñạm, nhưng bón ñạm nhiều quá, cây sẽ ra nhiều lá mà ít
ra hoa, quả, cây dễ bị lốp giảm khả năng chống ñỡ với sâu bệnh, gió bão. Đạm dư
thừa cũng làm kéo dài thời gian chín, không thu hoạch ñược tập trung và làm giảm

Triệu chứng thiếu kali có thể nhận biết ñược ở các lá trưởng thành. Mép ñầu
lá chuyển vàng và xuất hiện các ñốm chết hoại màu xám, giòn. Vết hoại chết
thường có hình chữ V ở mép ñầu lá. Đây là hiện tượng “cháy ñầu ngọn lá”.

14
1.4.4. Vai trò của một số nguyên tố trung vi lượng
Ngoài các nguyên tố ñạm, lân, kali cây tiêu cũng cần một số các nguyên tố
trung vi lượng khác như canxi, ma nhê, lưu huỳnh, kẽm, bore, molipden
Canxi (Ca) ảnh hưởng tốt tới môi trường ñất, làm ñất bớt chua, tăng khả
năng hoạt ñộng của vi sinh vật hữu ích trong ñất. Canxi có ảnh hưởng tốt tới sự phát
triển của ñọt cây, rễ cây, sự cấu tạo của hoa và di chuyển chất khô từ thân lá qua trái
tiêu.
Hiện tượng thiếu canxi thấy ñược trên các lá ñã thành thục, phần dưới trụ
tiêu thường bị ảnh hưởng nghiêm trọng hơn phần tán phía trên cao. Trên lá xuất
hiện các vệt úa vàng từ một bên hay cả 2 bên phiến lá gần phía cuống lá hoặc ở
ñoạn giữa lá. Các vệt úa vàng này ñi dần vào phía trong gân chính, tiếp theo sau ñó
là sự hoại tử. các vết hoại tử rất nhỏ có thể xuất hiện rải rác giữa các gân lá, ở mặt
trên hay mặt dưới lá. Lá rụng trước khi các vết hoại tử này phát triển mạnh.
Magiê (Mg) cũng là một yếu tố dinh dưỡng rất quan trọng ñối với cây
tiêu.
Hiện tượng thiếu magiê xuất hiện trước tiên trên các lá già và phát triển dần
lên các lá non hơn. Thiếu ma nhê, phiến lá trở nên úa vàng trong khi các gân chính
vẫn xanh. Vệt vàng thường xuất hiện từ trung tâm của một nửa ñầu phiến lá rồi lan
dần ra mép lá và phía cuống lá. Vùng phiến lá gần cuống lá thường vẫn giữ ñược
màu xanh. Thiếu nặng lá rụng ñồng loạt, trên cây còn các cành trơ trụi và một ít lá
non hơn không bị ảnh hưởng.
Lưu huỳnh (S) là yếu tố dinh dưỡng cần thiết cho sự sinh trưởng phát triển
của cây trồng. Đến nay lưu huỳnh ñược nhiều nhà nông học xem là yếu tố dinh
dưỡng quan trọng thứ tư sau N,P,K. Thiếu lưu huỳnh ảnh hưởng ñến sự tổng hợp
protein, gây ra giảm diệp lục tố, làm chậm hoặc ngăn cản sự ra hoa và do ñó làm

mầm. Khi nghiên cứu sự nảy mầm của 40 giống tiêu thì sự nảy mầm bắt ñầu
trong khoảng 22 – 45 ngày sau gieo. Thời gian yêu cầu cho quá trình nảy mầm
hoàn chỉnh thay ñổi từ 50 – 77 ngày, ña số các giống nảy mầm trong khoảng thời
gian 50 – 60 ngày [26].

16
Phương pháp nhân vô tính có thể giữ hoàn toàn ñặc tính tốt của cây mẹ
ñược chọn. Đối với tiêu có thể chiết cành, tháp cành, giâm cành. Giâm cành là
phương pháp dễ thực hiện, phổ biến nhất ñược áp dụng cho hầu hết các nước
trồng tiêu trên thế giới. Vật liệu giâm cành gồm có ba loại hom trên dây tiêu là:
cành thân, cành lươn và cành quả.
Ở nhiều nước như Ấn Độ, Sri Lanca phương pháp nhân giống tiêu bằng
cành lươn vẫn phổ biến hơn cả. Trên các trụ tiêu sinh trưởng khỏe, cho năng suất
cao, các dây lươn mọc từ gốc ñược buộc vào các cọc cố ñịnh gần trụ tiêu, tránh
không cho các mắt dây mọc rễ khi tiếp xúc với mặt ñất. Khi dây lươn chuyển
sang dạng bánh tẻ, cắt thành các hom 2 - 3 mắt ñem ươm vào bầu hay vào luống
ươm cho tới khi ra rễ rồi ñem trồng.
Ngoài cách nhân giống vô tính thông thường bằng các loại cành trên cây
tiêu người ta còn nhân vô tính bằng phương pháp nuôi cấy mô. Phương pháp này
cũng ít ñược áp dụng trong sản xuất vì cần một thời gian huấn luyện cây con khá
dài. Theo tài liệu của Trường Đại học Calicut ở bang Kerala của Ấn Độ thì mẫu
cây ñược sử dụng trong nuôi cấy mô là chồi ñỉnh của những giống Panniyur-1,
Karimunda và Arivalli. Sau 4 tháng nuôi cấy, cây có chiều cao 4 - 5cm, ñược tạo
rễ và huấn luyện ở giai ñoạn nhà kính. Mathews và Rao (1984), Fichet (1990) tái
sinh thành công cây tiêu từ chồi ngọn. V.Jphilip, Domic Joseph, G.Striggs và
N.Mdickingson (1992) nuôi cấy các thế hệ cây con từ ñỉnh sinh trưởng.
Dedensukmajajs (1992) sử dụng các ñốt thân trên cây con mọc trong ống nghiệm
ñể tạo thế hệ mới từ chồi bất ñịnh [theo 21]. Những nghiên cứu này mở ra triển
vọng sản xuất hàng loạt cây tiêu con, giống tốt, sạch bệnh ñưa ra sản xuất. Ngoài
phương pháp giâm cành, chiết cành tiêu, nhân giống bằng phương pháp ghép

1.6.1. Tình hình sản xuất
Cây hồ tiêu ñược du nhập vào nước ta từ cuối thế kỷ 19 và ñược trồng
nhiều ở các vùng ñất Bazan từ Quảng Trị trở vào ñến các tỉnh Tây Nguyên,
Đông Nam bộ và một số tỉnh Tây Nam như Kiên Giang, Hà Tiên,…
Năm 1975, cả nước mới có 500 ha, sản lượng 500 tấn. Giai ñoạn 1975 –
1990 cây hồ tiêu ñã có lúc phát triển lên ñến 9.200 ha. Sau ñó do giá bán hồ tiêu

18
trên thị trường thấp nên ñến cuối năm 1994 diện tích giảm xuống chỉ còn 6.500
ha.
Từ năm 1995 – 1999 do giá hồ tiêu tăng mạnh ñã khuyến khích nông dân
phát triển cây hồ tiêu. Tuy nhiên từ năm 2000 ñến nay, do giá hồ tiêu giảm nên
diện tích có phần chững lại. Đến nay, cả nước có khoảng 48.000 ha hồ tiêu. Năm
2002 sản lượng tiêu ñạt 76.000 tấn. Năm 2003 ước sản lượng ñạt khoảng 80.000
tấn. Đến hết tháng 10 năm 2003 chúng ta ñã xuất 59.745 tấn [7].
Đông Nam bộ là vùng có diện tích trồng tiêu lớn nhất nước, chiếm khoảng
54% tổng diện tích trồng hồ tiêu. Bắc Trung bộ chiếm khoảng 10%, các tỉnh
Nam Trung bộ khoảng 8,4%, các tỉnh ñồng bằng sông Cửu Long khoảng 3,7%
và các tỉnh Tây Nguyên chiếm 23,7%[1]. Chỉ trong vòng 10 năm, diện tích hồ
tiêu ở Tây Nguyên ñã tăng lên gấp 10 lần, từ 1.170 ha năm 1995 ñến 13.121 ha
năm 2005 và sản lượng tăng lên 25 lần.
1.6.2. Tình hình xuất khẩu
Tiêu là một loại gia vị ñắt giá, có giá trị thương mại và xuất khẩu rất cao.
Trên 95% sản lượng tiêu dùng cho xuất khẩu. Từ năm 1995 trở lại ñây, xuất
khẩu hồ tiêu tăng nhanh, ñưa nước ta vào 5 nhóm nước xuất khẩu hồ tiêu lớn
nhất thế giới. Trước ñây, nước ta luôn ñứng ở vị trí thứ 2 hoặc thứ 3 về lượng hồ
tiêu xuất khẩu (sau Ấn Độ và Indonesia). Trong 5 năm 1996 – 2000, nước ta
xuất khẩu ñược 135.000 tấn, ñạt kim ngạch 456,7 triệu USD. Trong ñó, năm
2000 xuất khẩu 37.000 tấn, kim ngạch ñạt 137 triệu USD. Từ năm 2001 ñến nay,
mặc dù khối lượng xuất khẩu tăng nhanh, nhưng do giá giảm nên kim ngạch ñạt

Giai ñoạn năm 2004 - 2009, mặc dù Việt Nam là nước có diện tích hồ tiêu
ñứng thứ ba nhưng sản lượng hồ tiêu (cả tiêu ñen và tiêu trắng) cao nhất so với
tất cả các quốc gia sản xuất tiêu. Đặc biệt, trong các năm 2004, 2006 và 2009 sản
lượng hồ tiêu Việt Nam ñạt trên 100 ngàn tấn, chiếm từ 30% ñến 37% sản lượng
hồ tiêu thế giới (Bảng 1.1).
20
Bảng 1.1. Sản lượng hồ tiêu trên thế giới, giai ñoạn 2004 - 2009 (1000 tấn)Quốc gia Năm
2004

2005

2006

2007

2008

2009

Ấn Độ
62,00

70,00


46

25

Malaysia
20,00

19,00

19,00

20,00

23

23

Sri Lanka
12,82

14,00

14,33

14,46

15

18



289,23

271,00

270

298

(Nguồn: Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam, 2010)

Sản lượng hồ tiêu của Ấn Độ giảm ñáng kể trong giai ñoạn năm 2004 -
2006, và từ năm 2007 ñến nay, sản lượng giữ ổn ñịnh 50 ngàn tấn/năm. Sản
lượng hồ tiêu của Brazin ổn ñịnh 44,5 ngàn tấn/năm trong giai ñoạn ñầu, nhưng
sau ñó, sản lượng giảm ñáng kể vào năm 2007 (35 ngàn tấn) và không tăng cho
ñến năm 2009. Sản lượng hồ tiêu của Indonesia có xu hướng giảm trong giai
ñoạn năm 2004 - 2008, ñến năm 2009 giảm mạnh còn 25 ngàn tấn. Nguyên nhân
là do giá tiêu ñen xuất khẩu trong giai ñoạn này khá thấp, khoảng 1.400 - 1.500
USD/tấn, nên nông dân không chăm sóc tốt vườn tiêu, làm cho cây tiêu suy kiệt,
từ ñó năng suất thấp. Một nguyên nhân nữa không kém quan trọng ñó là do thời
tiết không thuận lợi, cùng với chăm sóc chưa tốt, làm cho cây tiêu bị sâu bệnh
gây hại nặng, làm giảm diện tích, năng suất và sản lượng. Trong khi ñó, sản
lượng hồ tiêu của Malaysia và Sri - Lanka có xu hướng tăng nhẹ.

21
1.8. Trồng cây trong dung dịch
1.8.1. Khái niệm chung

chứa ñể ñiều chỉnh các thông số, quá trình bơm dung dịch này ñược luân chuyển
nhằm cung cấp ñủ oxy cho rễ hô hấp bình thường.
* Hệ thống trồng cây trong nước sâu của Gerick
Dùng một lớp gỗ có chứa lớp cát ngăn ánh sáng chiếu vào rễ và bơm
không khí vào dung dịch. Đây là hệ thống ñầu tiên ñược ñưa vào sản xuất. Đặc
ñiểm của hệ thống này là rễ toàn phần hay một phần ñược nhúng vào dung dịch
dinh dưỡng. Dung dịch có thể ở trạng thái tĩnh hay tuần hoàn liên tục [11].
* Hệ thống màng mỏng nổi (Floating hydroponics)
Cây trồng nổi trên bè (làm bằng chất dẻo nhẹ) thả trên dung dịch ñược
tuần hoàn và sục khí (bằng máy ñiều chỉnh), tạo thành một dòng bè di chuyển
trên máng. Tại một ñầu máng hạt ñược gieo còn ñầu kia người ta thu hoạch sản
phẩm. Trồng cây theo phương pháp này cho năng suất thấp hơn trồng trên ñất.
Có thể tăng năng suất bằng cách tăng mật ñộ trồng trên các bè [11].
* Hệ thống nước sâu có tuần hoàn
- Hệ thống Kyowa: là hệ thống nửa sâu. Ở ñây dung dịch dinh dưỡng
ñược bơm từ bể chứa qua một máy hòa khí, chảy vào luống trồng và qua ống dẫn
chảy về bể chứa. Các luống ñược lắp ñặt từ các luống dập khuôn bằng chất nhựa
cứng, mỗi tấm rộng 1m dài 3,15m. Cây ñâm rễ ở chậu con bằng chất dẻo có lỗ ở
ñáy và hai bên, ñặt trên nắp luống.
- Hệ thống M: là một hê thống không sử dụng bể chứa. Dung dịch ñược
dẫn ra bằng một bơm tuần hoàn, chảy qua một máy hòa khí và ñược ñưa trở lại
vào luống nhỏ ở các lỗ nằm dọc ñáy các luống, các luống ñược làm bằng xốp
(polystyrene) rộng 0,66m, dài 1,2m ñể hợp thành luống dài 20m.
- Hệ thống Kubota: là hệ thống ñược ñúc bằng chất nhựa dẻo với những
tấm ñơn dài 3,25m, rộng 0,7m có ngăn nhỏ bên trong ñể trồng cây.
- Hệ thống Komizono: là luống trồng theo hình mẫu ñơn giản, thành hai
bên làm từ những khối bê tông. Luống ñược lót bằng tấm xốp (polythylen) ñen
dầy, các tấm này ñược phủ lên bằng màng mỏng polyetylen và ñược thay mới
hàng năm ñể tránh khỏi phải thanh trùng.


hay các vật liệu khác, rễ cây ñược treo lơ lửng trong môi trường không khí phía
dưới tấm ñỡ. Hộp phun mù ñược ñậy kín ñể rễ cây nằm trong bóng tối ñể tránh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status